TRẦN HOÀI THƯ, NHÀ THƠ CẦM SÚNG

Người viết: NHƯ KHÔNG

cropped-03222741_the1bb9di-tre1babb-ce1bba7a-tht.jpgTHT (thời trẻ)chuanuy

 

 

Lời chũ Blog:  Tôi vừa nhận bài viết: “THT, nhà thơ cầm súng” từ một người bạn văn chuyển đến.  Tác giả   là Như Không. Bài viết, từ tháng 3-20017, có đề tặng tôi ở cuối bài, nhưng mãi đến bây giờ tôi mới được đọc. Tôi xin phép được đăng lại, và xin được bày tỏ lòng cám ơn chân thành  đến bạn thơ Như Không 
Ấm lòng lắm bạn ơi ! (THT).   
______

Biết và đọc anh từ khá lâu,trước 75.Mấy mươi năm trôi qua khi đầu đã bạc lại được biết thêm về anh qua các bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh.Lê Mai Lĩnh sư huynh thuộc loại người thẳng như ruột ngựa,thích và phục ai là nói thẳng mà đã không thích thì cũng…khó lòng mà yên thân được với anh.Trong bài viết của mình,Lê huynh không dấu diếm sự ngưỡng mộ với anh Trần Hoài Thư.( ” Trần Hoài Thư,tên cowboy hai súng ” – Bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh ) Ngưỡng mộ là phải, 75 tuổi trên đất Mỹ,anh cặm cụi cùng với vợ đến một thư viện cách nhà 5 giờ lái xe để sao chép lại mỗi ngày một cách rất thủ công những đầu sách thực sự giá trị in tại miền nam VN trước 75. Đem về lại hì hục in ấn rồi đóng thành sách để…tặng không cho những người yêu văn chương miền Nam và những người thực sự có nhu cầu.

Đối với tôi,những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất.Họ phải ra trận,vừa đánh giặc vừa viết,không có cơ hội để xuất bản.Sau năm 75 không ai đếm xỉa đến văn chương của họ.Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ “. Anh bảo thế.Thư Quán Bản Thảo và cơ sở in ấn của anh,Thư Ấn Quán đã ra đời như vậy. Có lần một sĩ quan Dù gửi thư cho anh nhờ tìm tác giả bài thơ Biên Cương Hành ( của Phạm Ngọc Lư ) để cảm ơn vì trong khi anh sĩ quan này bị thương chờ trực thăng tới bốc,anh đã đọc bài thơ BCH trên báo Văn,rất trùng hợp với những suy nghĩ của anh. Vào năm 2010 lại có người hỏi thăm anh về nhà thơ Lê văn Trung vì khi bị tù đày trong trại tù CS,anh đọc được những bài thơ của tác giả Lê Văn Trung và còn nhớ đến bây giờ. Trần Hoài Thư như đã trở thành một chiếc cầu nối cho những độc giả và những người làm văn nghệ nổi tiếng một thời mà sau 75 họ không còn tác phẩm nào được tái bản hoặc xuất bản vì nhiều lý do,trong đó lớn nhất là vẫn lý do chính trị.
Trần Hoài Thư muốn dành thời gian còn lại của anh để bù đắp cho những tác giả miền Nam trong thời chiến nhưng có lẽ anh còn quên một điều,với chúng tôi – dĩ nhiên có cả anh trong đó – những người lính đi đánh trận thì “ tiền lính tính liền “ Lấy đâu ra tiền để dành dụm mà xuất bản ? Biết ngày mai đi hành quân là “ xả láng “mọi thứ,làm sao biết được mình còn sống không để mà trở về ?

…Trần Hoài Thư cũng là một người lính tác chiến.Nguy hiểm hơn nữa,anh thuộc Đại Đội Thám Kích của Sư Đoàn 22 Bộ Binh.Một Sư Đoàn chỉ có một đại đội Thám Kích, (1)  nhiệm vụ của họ là nhảy trực thăng – còn gọi là nhảy Diều Hâu – hay bằng các phương tiện khác vào vùng địch,tìm cách tiếp cận để nắm được quân số,vị trí và các trang bị chiến đấu của họ để báo về Bộ Tư lệnh của sư đoàn. Vì thế từ quan cho đến lính đều là những người ưu tú và cực kỳ gan dạ vì khi đã vào đất địch bằng các đơn vị nhỏ như vậy thì chết dễ như bỡn vì thiếu sự yểm trợ từ chính đơn vị của mình. Dân Thám Kích “ chê “ mấy thằng du kích vớ vẩn. Bọn này chỉ rình rình núp đâu đó,cắc cù một hai phát là ôm súng co giò chạy biến. Thám Kích “ làm ăn “ lớn hơn nhiều. Phải là cỡ chính quy cấp sư đoàn,” đồ chơi “ toàn thứ dữ như cỡ thượng liên 12.8, vuốt nhẹ cò súng một chút như vuốt má con gái là đạn bay hàng tràng , như cối 82 ly, cối 120 oạch đùng vang dội,miễng bay rào rào rát mặt cháy tóc, như DKZ bắn thẳng nổ dữ dội những ngày ra trận. Những ngày chiến trận đó Trần Hoài Thư đã hai lần bị thương, có một lần đạn “ chê “ anh,viên đạn xoi một lỗ bên một ống tay áo,đục thêm một lỗ khác trên ngực áo,cày một đường văng mất một đầu vú rồi lại chui ra ở ống tay áo bên kia. Dân tác chiến là như vậy,có lúc đạn bắn tơi bời hoa lá,kêu chút chít như chuột kêu chung quanh mà chẳng hề hấn gì. Có lúc một trái pháo trời ơi đất hỡi bắn hú họa mà lại trúng miễng chết lãng nhách. Những ngày đó tỉnh Bình Định thuộc Liên Khu 5 của Bắc Quân là căn cứ địa của sư đoàn Sao Vàng Bắc Việt khét tiếng, có thung lũng An Lão bốn bề núi dựng nằm ở phía Bắc.Nhiều khi ranh giới mong manh giữa hai bên chỉ là 1 dòng sông nhỏ, chiều ngang chưa bằng nửa tầm đạn bắn. .

Dòng sông phân tranh hai vùng thù nghịch
Đêm xuống đồi gặp con nước nổi
Súng đưa khỏi đầu
Từng con * một vượt sông
…………………………………
Rồi trước khi trèo ngọn Kỳ Sơn
Anh lạc trên cánh đồng trăng mênh mông
Không biết nơi nào là cõi dữ

( Đêm vượt sông )
Chú thích : * “ Con “,tiếng lóng nhà binh chỉ người lính

Ngay từ khi nhảy ra khỏi trực thăng có nơi nào không là cõi dữ ?Dân Thám Kích trang bị nhẹ, chỉ mang dao găm,súng M16 với cấp số đạn gấp hai lần,loại súng khi bị ” dính ” đạn vào người thì đầu vào chỉ bằng mút đũa mà đầu ra phá một lỗ toang hoác. Và rất nhiều lựu đạn,cả M26 hoặc M87. Họ không xài M72 chống tăng vì họ gần như chỉ cận chiến nếu gặp địch.

“ Nước nguồn đổ xuống ngày binh lửa
Những xác nào đã thúi hôm qua
Ai bạn ai thù sao quá thảm
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia

Con sông chia cắt đôi bờ hận
Cột khói còn lưu luyến chiến trường
Có ai chạy loạn bơi xuồng kể
Một thước đi,xác ngập thước đường “

( Trung đội )

Bài thơ gợi nhớ lại chiến trận núi Chu Pao ở rừng núi cao nguyên thuộc Vùng 2 Chiến Thuật với hai câu thơ nổi tiếng :
“ Chu Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi tấc khăn tang một tấc đường “
Chiến trận núi Chu Pao ngày đó là đồi núi,đôi khi 2 bên chỉ cách nhau một tầm ném lựu đạn. Bên này ném thì bên kia chụp trái lựu đạn ném trả,chết… tính sau vì cứ nằm yên thì còn dễ chết hơn.
… Khi Thư nhảy vào vùng địch, những thây người chết trong chiến trận của cả hai bên bị bỏ lại đã sình thúi trong thung lũng An Lão bốn bề gió hú. Họ nằm đó, lặng lẽ nhìn trời hay úp mặt xuống đất, xác thân tan nát vì bom đạn, vì hỏa lực T.O.T ( times on target ) đang lặng lẽ phân hủy. Mùi xác chết xộc vào mũi Thư và các người lính của anh theo tiếng gió réo đang thổi lồng lộng lật tung chiếc nón sắt đang đội :

“ Địch cho Trung Đội qua eo chết
Hai bên sườn đại liên đan nhau
Nổ.Nổ dòn
Đất đá kêu đau
Sủi bọt 
Khói bốc lên
Bốn bề dội vào vách xám
………………………….
Một hai ba…Lộn.Nằm co quắp
Còn lại vẫn ào lên ào lên
Đừng bò ! Đừng bò !
Trung đội phó hét cuồng điên
Cỏ tranh bắt mồi cháy mạnh
Gió tạt khói mù
Bốn bề khói rợp
Khói cay cay cặp mắt nổ tròng
Khắp bốn bề gào thét xung phong
…………………………………
Cao điểm chiếm rồi
Vui mừng quá độ
Mà sao người lính Truyền Tin rơi lệ
Báo cáo trong tiếng mất tiếng còn
Về những thằng bị kiến cắn * ngủ yên

( Eo chết )
-Chú thích : * Bị “ kiến cắn “ : Tử trận

Bài thơ hào hùng đúng mùi chiến trận. Người viết bài này cũng từng ở trong những tình huống tương tự : Không được bò.Dỏng lưng lên lăn xả vào họng súng bên kia thì còn có cơ may sống sót. Xạ thủ đại liên M.60 cũng xách cây súng nặng chịch vừa chạy vừa tưới đạn về phía trước. Trong kinh hoàng khói lửa, những tiếng nổ của lựu đạn và những loại súng khác nhau từ cả hai phía làm hai tai điếc đặc,khói súng mù mịt trên chiến trường và tiếng thét xung phong dồn dập làm cho người lính trận như say, chỉ có một hướng lao về phía trước không còn nghĩ gì tới chết sống. Nhưng khi chiến trận tàn rồi,tiếng nổ đã im,rừng bỗng trở nên yên ắng kỳ lạ và lúc đó mới biết ai còn ai mất.Và rớt nước mắt thương đồng đội của mình,mới sáng nay còn chia đôi điếu thuốc giờ đã vĩnh viễn nằm xuống không kịp trối trăn một lời. Và cũng là khi thấy thấy máu của mình chảy ra từ đâu đó mới biết mình cũng bị thương:

“ Chỉ giữ lại trên thân ta,này vết sẹo
Để khi buồn,sờ lại nhớ thời xưa
Dấu vết hôm qua khói lửa mịt mù
Và kinh hãi
Trời ơi
Ta vẫn còn sống sót

( Tạ Từ )

Chỉ có những người trực tiếp cầm súng bắn nhau mới biết anh nói đúng. Nghĩ lại mà rợn người, chẳng biết làm sao mà mình còn sống được. Đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn ? Vậy mà khi bị thương ra khỏi Quân Y Viện,vết thương vừa lên da non lại nhớ đồng đội,nhớ chiến trường. Nhớ mùi cỏ cây hăng hắc nồng nàn mỗi sáng đi mở đường trong rừng già,nhớ mùi những thân cây bị bom cháy đen vươn những cánh tay khẳng khiu trên trời những chiều đóng quân,nhớ những cánh rừng im lặng rợn người không một tiếng chim kêu vì muông thú đã bỏ đi hết do bom đạn Và chân lại muốn đi,đi về phía có ánh lửa chớp sáng trên đầu họng súng,nơi có những đồng đội chia nhau từng ca nước uống sặc sụa mùi bùn đỏ múc lên từ những vết xích xe tăng mà cơn mưa đêm qua còn để lại. Suối có khi rất gần nhưng không thể xuống được. Lọ mọ kéo nhau xuống lấy nước lũ “ mất dạy “ phục sẵn trong rừng bắn cho nát gáo. Nhớ những đêm nằm rừng,quần áo thấm nước mưa và mồ hôi vào ban ngày đã khô quắt lại,nằm trên võng treo bên dưới chiếc Poncho, cây súng dựng sẵn một bên. Nhớ những cánh rừng cỏ tranh cao lút đầu người,những ngày lội trong rừng cỏ tranh sắc như dao cứa đứt thịt da. Nhớ những con suối mùa khô xâm xấp nước,lá cây rừng rụng xuống hàng hàng lớp lớp,khi mang giày trận lội qua là chắc chắn những kẽ ngón chân sẽ lở loét,nhớ cả những vết muỗi rừng chích xuyên qua lớp poncho và bộ đồ trận đã dày cui vì mồ hôi và nhựa cây rừng.Và cứ thế, như có một sức hút kỳ lạ không giải thích được,người lính chiến miền Nam lại tiếp tục bước chân về phía chiến trường nơi rừng già,nơi tăm tối đến nổi không có lấy một chút ánh sáng hỏa châu màu đỏ quạch để soi sáng cho họ những cái chết đang rình rập trong bóng đêm mù mịt.

“ Những lần chuyển quân dù chẳng biết về đâu
Nhưng chúng tôi đều biết những gì đang chờ đợi sẵn
Như thể những viên đạn đồng trong lòng cơ bẩm
Xẹt ra khỏi nòng rồi kiến cắn tê mê
……………………………………..
Hãy mừng dùm anh dù bầm dập tả tơi
Anh vẫn được tăng phái xuống đồi
Tiếp tục những lần chuyển quân
Về những nơi mình không biết

( Người lính trở về với chiến trường )

Mà ngọn đồi nơi người lính Thám Kích Trần Hoài Thư “ được “ tăng phái thì có yên bình một chút nào đâu ! Vẫn là nơi chết chóc vang động tiếng pháo của Bắc quân đe dọa sự yên bình trên mảnh đất miền Nam nơi anh sinh ra,nơi có Mẹ Cha,có bầy em đang tung tăng đến trường mỗi sáng,nơi có những gia đình đoàn tụ mỗi ngày bên mâm cơm tối đạm bạc dưới ánh đèn.Và anh lại khoác áo trận để trở lại chiến trường cùng với đồng đội của mình dù biết rõ cái chết vẫn đang chờ anh qua cái họng đen ngòm của chiếc nòng súng,của chiếc lưỡi lê 3 khía nhọn hoắt trên nòng cây AK 47 sản xuất tại Liên Sô hay của Trung Cộng đang nhắm vào yết hầu của dân miền Nam.

“ Tôi qua đồi xám mây mờ núi
Thương về đâu một lũ sáo rừng
Hôm qua đồi ngập hàng trăm xác
Đạn pháo đào sâu bãi chiến trường
………………………………………
Có ai như thể người lính Thượng
Ngồi khom trên bờ đá thổi khèn
Hôm qua có những hồn ma lẻ
Lạc tìm về buôn bản cao nguyên

Có ai dưới lớp mồ hoang dã
Nằm xuôi chân mắt mở trợn trừng
Chiều nay sao mọc về phương Bắc
Sao ruột lòng vắt đỏ phương Nam

Cỏ tranh lớp lớp che đường dốc
Phòng tuyến buồn hiu nhuốm nắng chiều
Trận đánh cũng đi vào quên lãng
Sao còn rờn rợn những hồn xiêu “

( Đồi xưa )

Ra vậy ! Người lính Thám Kích Trần Hoài Thư,với tâm hồn của một người làm thơ đã nhìn thấy những con sáo bay về rừng trong chiều chuyển quân.Tâm hồn nhạy cảm dễ rung động trước cái đẹp của anh ghi nhận được những điều nhỏ nhoi tinh tế nhất và cả những hình ảnh dữ dội của cái chết khi nhìn thấy những người lính từ phương Bắc xa xôi nằm chết banh ruột trên đất miền Nam. Trên đất cao nguyên ngày đó có người lính làm thơ Trần Hoài Thư với những thị xã nhỏ bé “ đi dăm bước đã về chốn cũ “ như lời thơ trong một bài thơ của Vũ Hữu Định. Vùng đất đỏ quạch bụi bay mù trời dưới những vòng bánh xe GMC những chiều chuyển quân và ngập ngụa bùn đỏ vào những ngày mưa mù mịt của cao nguyên làm anh da diết nhớ nhà :

Anh ở trên rừng với Thượng với Kinh
Với những đại ngàn mặt trời mất tích
Những người chung quanh màu da đen nám
Nên cuộc đời anh cũng phải nám đen

Anh ở trên rừng mưa ngày mưa đêm
Không cần cùm chân mà chân khó bước
Bước một bước lên bùn già chân trước
Bước hai bước lên bùn non chân sau
……………………………………..
Anh ở trên rừng thương em nhớ con
Không biết làm sao để về dưới nớ
Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ
Cay cả cuộc đời lính thú cao nguyên “

( Anh ở trên rừng )

” Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ ” Ôi cha ! Câu thơ tuyệt vời !
Một ngày anh có khách đến thăm giữa núi rừng hiu quạnh,nơi chỉ có hầm hố súng đạn và những người lính trận dạn dày sương gió:

“ Em lên thăm anh mang mùi thiếu nữ
Nhà anh đây những hố hầm phòng ngự
Không có gì ngoài ít bài thơ
Không có gì ngoài những hoa mười giờ
Đỏ thắm cả một triền đồi heo hút

Em lên thăm anh áo màu hoa cúc
Mà hầm anh lâu quá không sửa sang
Em xem kìa,lựu đạn với dao găm
Không có cả một tấm hình để thêm tươi mát
Không có bức tranh dù là tĩnh vật
Để ấm cuộc đời trong tuổi thanh niên “

( Em lên thăm anh )

Và cứ vậy,hết cao nguyên lại xuống đồng bằng. Trên bốn vùng chiến thuật,những người lính trận miền Nam VN trải qua tuổi thanh xuân của mình trong lửa đạn. Họ tiếp tục có mặt nơi những tuyến đầu,nơi có những trò chơi chết người của súng đạn đang chờ đợi họ,không ngại ngần,không dè dặt để giữ vững sự bình yên cho đất nước.

“ Diều hâu đã về như một lũ âm binh
Kẻ trước kẻ sau lao vào địa ngục
Đêm không thấy đường giữ dây khỏi lạc
Chúng tôi băng đồng nước ngập
Giải cứu quê em

( Đêm tiếp cứu chợ Huyện )

Nhưng khi anh và các đồng đội,những “ diều hâu “ lao tới nơi địch về thì có khi đã không còn kịp nữa: Ngôi trường nghèo nàn tả tơi ở một vùng quê xa xôi trong cơn binh lửa đã cướp mất mạng sống của cô giáo trẻ,để lại một bầy học trò cũng nghèo nàn không kém đang sợ hãi nháo nhác bên xác cô giáo như bầy gà con mất mẹ :

“ Lũ bé quỳ bên xác cô trẻ
Đặt chùm hoa mếu máo gọi cô về
Cô không về,cô bỏ dạy,cô đi
Cô bỏ chúng con cô về xứ khác
Ta cắn bầm môi…em ơi,ta khóc
Em không về em cũng bỏ thanh xuân
…………………………………
Em bé quê ơi cho ta nhành bông
Một nhành bông quỳ vàng như màu áo
Ta đặt lên em.Trống trường ảo não
Như những hồi mặc niệm em tôi.
………………………………….
Ta đã về,và đã trễ,em ơi…

Tôi tin chắc là anh khóc . Vì chính tôi, khi đọc những câu thơ này cũng đang cay cay trong lòng muốn rơi nước mắt. Sự bình yên cho quê hương,cho những ngôi trường nghèo nàn ở những nơi xa xôi đã làm đổ biết bao nhiêu máu. Nhưng những người lính miền Nam đã bị phản bội. Máu xương của các người lính miền Nam, của đồng bào miền Nam đã bị phản bội vào cái ngày mà Richard Nixon,Tổng thống Mỹ bắt tay với Mao Trạch Đông, tươi cười cụng ly rượu mời nhau ở Bắc Kinh vào năm 1972. Trên bàn cờ chính trị quốc tế, do ảnh hưởng của “thầy dùi “ Henry Kissinger là Ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái thời đó – một con ma đi đêm theo kiểu Đại Sứ Henry Cabot Lodge thời Đệ Nhất Cộng Hòa – và những áp lực khác nhau từ nhiều hướng, người Mỹ bỏ bán đảo Đông Dương để hướng về Trung Đông,nơi mà đồng minh Israel thân cận của họ cũng đang lao đao trong vòng vây thù địch của những quốc gia Ả Rập thuộc khối Hồi Giáo. Rồi Hoàng Sa bị Tàu Cộng chiếm. Người lính trận miền Nam vẫn tiếp tục dũng cảm chiến đấu trong vô vọng.
Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết. Quân đội Mỹ bình an rút về nước. Cũng từ đó,các viện trợ quân sự cho miền Nam chỉ còn nhỏ giọt. Máy bay,xe tăng nằm ụ vì thiếu nhiên liệu hoặc phụ tùng thay thế. Pháo yểm trợ cho các trận đánh chỉ bắn cầm chừng vì không còn đạn dự trữ trong khi Bắc quân rải pháo như mưa xuống các vùng hành quân bị cô lập vì không còn gì để tiếp tế cho họ,cho những người lính cắn răng chiến đấu trong sự thiếu thốn đến tận cùng. Khí tài,súng đạn vào những ngày tháng 4/75 chỉ còn đủ dùng trong một tháng,trong khi các nước đồng minh thuộc khối Cộng Sản tiếp tục tăng viện với số lượng không giới hạn các phương tiện chiến tranh cho Bắc quân. Vào những ngày cuối tháng 4/ 75, do thông tin liên lạc hoàn toàn bị cắt đứt từ trước đó nên đã có một đơn vị thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không hề biết tin tức gì về chiến sự. Họ đang hành quân trong rừng già nhưng hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy của mình. Khi lò mò ra khỏi rừng về đến Tân Uyên thượng nguồn sông Đồng Nai họ đã bị bắt sống và cả 28 người lính đều bị xử tử, xác bỏ trôi sông. Và cuối cùng, điều không thể nào tránh khỏi đã xảy ra : Dương Văn Minh kêu gọi quân đội buông súng đầu hàng vào cuối tháng 4/75.
… Lịch sử sẽ ghi lại những vị tướng VNCH, những quân nhân các cấp thuộc mọi binh chủng đã tự sát vào ngày miền Nam bị bức tử. Lịch sử đã chọn các anh để giao cho phần đen tối nhất, thê thảm nhất. Những người lính phải buông súng khi không hề thất trận và các anh đã không thể có được sự lựa chọn nào khác cho mình. Thế hệ của các anh,rủi thay, rơi đúng vào thời điểm thê lương nhất trong lịch sử VN.

“ Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân

Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai,tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu
……………………………………..
Thế hệ chúng tôi già như quả đất
Râu tóc mỗi ngày mọc những hoang mang

( Thế hệ chiến tranh )

Người lính làm thơ Trần Hoài Thư, vào thời gian này là một phóng viên chiến trường nên chỉ bị tù ba năm nhưng những sĩ quan khác thì triền miên đói khổ trong tù chẳng biết ngày về. Lại một giai đoạn bi hùng khác của quân đội VNCH,rất nhiều người đã bị giết, gián tiếp hay trực tiếp khi trong tay không còn tấc sắt. Nhà cửa họ bị tịch thu. Vợ con họ sống lây lất trong các khu Kinh Tế Mới heo hút trong những vùng xa xôi rừng thiêng nước độc,đầy dẫy bom mìn còn sót lại. Chiến tranh đã đi qua nhưng những ký ức đau đớn vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Trần Hoài Thư :

“ Da ông bạn màu đen
Tóc ông bạn màu trắng
Da của tôi màu vàng
Tóc của tôi màu trắng

Màu trắng của Daksuk
Màu trắng của Mang Giang *
Màu trắng của mù sương
Màu trắng của mây bạc
Thời chúng ta đánh giặc
Nhuộm mãi đến bây giờ

( Trắng )
* Chú thích: Các địa danh của Cao nguyên Trung phần

Những ngày sống trên đất Mỹ nhìn đất trời cô tịch – như rất nhiều những nhà thơ VN khác – lòng anh bùi ngùi nhớ quê hương.

“ Ở đâu cũng vẫn đất trời
Cũng rừng cô tịch cũng đồi tà dương
Cũng ngày nắng cũng đêm sương
Cũng qua cũng lại phố phường người dưng
Cũng trên trời một vầng trăng
Cũng sông vẫn chảy hai dòng ngược xuôi
Nhưng sao lòng lại không nguôi
Nghe như bìm bịp gọi chiều nước lên “

( Xa xứ )

A ! lại con chim bìm bịp ! Loài chim có nhiều nơi sông nước miền Tây có tiếng kêu rất buồn,rất đơn điệu kêu theo những con nước ròng lên xuống.Tiếng kêu mênh mang trên những dòng sông trôi lặng lẽ ra biển,chẳng ai nhìn thấy con chim ở đâu nhưng tiếng kêu cứ vang vang trên dòng nước chảy,tiếng kêu thấp xuống dần rồi tắt hẳn trong những bãi bờ xanh ngắt ven sông. Anh làm sao mà nguôi ngoai được những ngày binh lửa còn váng vất trong trí nhớ. Lòng anh giờ cũng buồn thảm như tiếng bìm bịp kêu một mình trên những dòng sông đỏ màu phù sa của một quê hương bây giờ xa thẳm ngàn trùng.

Bảy mươi lăm tuổi. Đời người không còn mấy nổi. Anh vẫn cặm cụi và tỉ mỉ làm cái công việc của riêng mình hàng ngày,vẫn chăm chút những tác phẩm văn học của miền Nam nhưng sẵn sàng tặng không cho những người còn quan tâm đến văn chương miền Nam một thời chìm trong lửa đạn.
Riêng với tôi, anh vẫn cứ là người lính Thám Kích của gần 50 năm trước. Anh vẫn là người đi đầu, chấp nhận gian khổ và hy sinh như ngày xưa nhưng trên một mặt trận hoàn toàn khác : Mặt trận Văn Học.Văn Học miền Nam.

Viết để quý tặng anh Trần Hoài Thư
Như Không
3/2017

_____

(1) Thật sự Sư Đoàn 22 BB có 4 đại đội thám kích biệt lập. (ghi chú của THT)

Trần Hoài Thư, Viết Dưới Trời Khói Lửa

người viết: Vương Trùng Dương

Nhà văn, nhà báo Trần Hoài Thư được nhiều người viết và phỏng vấn vì anh chân tình trải lòng cùng bạn bè, người duy nhất ở hải ngoại làm sống lại văn học miền Nam và ấn hành những tác phẩm ở quê nhà bị bỏ quên theo năm tháng và không được xuất bản. Trong thời chiến, anh là cây cây bút duy nhất tham chiến tại mặt trận, ghi lại nhiều nhất những điều của người trong cuộc “Tôi là một tác giả viết văn làm thơ theo đôi giày trận. Nổi trôi từ Trường Sơn xuống tận đầm lầy Đồng Tháp Mười. Tôi nhìn bản thân mình, lấy kinh nghiệm của chính mình để mà thông cảm cùng những người cùng mang giòng máu như tôi…

Tôi là nhà văn sống và viết. Tôi tìm chất liệu ở con người thật của tôi. Tôi sống và viết bằng con người thật của tôi… Khi tôi ở trong quân đội, tôi viết về người lính, khi tôi đào ngũ, tôi viết về kẻ đào ngũ, khi tôi trở lại đơn vị bị giáng lon, thì viết về tâm trạng của người lao công chiến trường… Khi tôi bị thương nằm trong Quân Y Viện tôi viết về tâm trạng người thương binh, khi tôi ở trong trại khổ sai, tôi viết về sự thật cảnh tôi vồ chụp lấy thau cơm nhão nhẹt chua lè dành cho chó ăn ở bên hiên một doanh trại bộ đội Bắc Việt vì quá đói…”

Những bài thơ của anh trong thời khói lửa vẽ lên bức tranh thân phận người lính trong thời chiến.

Cả một đời, THT sống chân tình và trải lòng với đồng đôi, bằng hữu và đồng nghiệp, vì vậy anh được nhiều người đề cập đến qua các bài viết, phỏng vấn từ trước năm 1975 đến nay.

Nhận được Thư Quán Bản Thảo số 79, tháng 4 năm 2018. Trong mười bảy năm qua (TQBT 2001-2018) đây là số duy nhất do Phạm Văn Nhàn và bằng hữu thực hiện, anh “không được phép” viết và xem nội dung, chỉ lo việc ấn hành. TQBT số 79 dày 288 trang, gồm hai phần: Những truyện của THT trước năm 1975 (trang 7 -156) và những người viết về THT (157-266).

Với tôi, trong hai bài viết trước đây, bài “Trần Hoài Thư, Cây Sậy Giữa Đời” vì dáng dấp anh như cây sậy, làm lính chiến sống cùng cỏ lau. Con người với Blaise Pascal chỉ là “cây sậy có tư tưởng” nhưng với THT là cây sậy trên trận mạc, chứng nhân lịch sử trong thơ văn. Và,  “Trần Hoài Thư & Thủ Đức Gọi Ta Về”… Tôi đã viết về cuối năm 1966, Khóa I Nguyễn Trãi của Trường ĐH. CTCT gởi học giai đoạn I cùng với khóa 24 ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, ở trong Ban Biên Tập SVSQ liên khóa 23 & 24 cùng với Trần Hoài Thư (Trong bài viết của Luân Hoán “Những Ngày Đầu Quân & Thời Ở KBC 4100” ghi rõ từng người, và các bài viết của THT cũng đề cập đến tháng ngày ở KBC 4100). Trong phần kết đã viết về THT:

“Là giáo sư, nhà văn, nhà thơ, gầy gò, cận thị… nhưng khi ra trường BB Thủ Đức lại về đơn vị tác chiến trong cương vị Trung Đội Trưởng của Đại Đội Thám Kích 405, Sư Đoàn 22 BB. Trần Hoài Thư đã 3 lần bị thương ngoài mặt trận… Trần Hoài Thư giữ chức vụ Trung Đội Trưởng Thám Kích trong thời gian gần 4 năm từ khi ra trường vào 8/1966 đến tháng 6/1970, hai lần bị thương, lần thứ ba thấy bản thân như sợi chỉ treo mành nên bỏ đơn vị, sống lang bạt, bụi đời với các bạn văn nghệ, bị bắt làm lao công đào binh”.

Thôi giã từ những ngày tháng lông bông

Những cốc rượu đếm không bao giờ hết

Những bửa đói, bửa no, mà vui như tết

Những ngày hồng, ngày xám cũng chia tay

Thôi giã từ lũ bạn chiều nay

Tự nguyện ra tòa ký vào bản án

Giã từ nhé, môi son và má phấn

Những vỉa hè, những đường phố lê la”

(Huy Chương)

Mấy câu trong Lính Tiền Phương của THT là thực trạng ư? Ngậm ngùi và xót xa:

Khi ra trận ta là thằng chết trước

Tổ quốc ghi ơn, lãnh tụ đẹp lòng”

Trong bài viết của Tình Bạn của Phạm Văn Nhàn: “… Tôi đưa Thư ra Nha Trang trình diện nơi Quân Vụ Thị Trấn (đồn Quân Cảnh). Ra tòa án binh. Giáng cấp. Rồi đến Đơn Vị 2 Quản Trị, đóng ở Diên Khánh, Nha Trang. Và từ đây, Trần Hoài Thư nhận sự vụ lệnh lên Sư Đoàn 23 BB trên Ban Mê Thuột. Tôi nói với Thư: tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Ngày tiễn Thư lên Ban Mê Thuột tại bến xe Nguyễn Hoàng, Nha Trang, tôi cởi chiếc jacket cho Thư mặc. Và có thêm hai người bạn tiễn Thư lên đường là nhà văn Nguyễn Âu Hồng (ở Mỹ) và nhà thơ Nguyễn Sa Mạc (còn ở VN). Và cũng từ ngày hôm đó, tôi xa Trần Hoài Thư!”

Thế nhưng anh không oán hận. Người lính vừa đánh giặc vừa cầm bút, “Cảm thấy mình thật hãnh diện, bởi vì tôi nguyên một giáo sư đệ nhị cấp, với đôi mắt cận 7 độ, gầy như que củi, từng được hoãn dịch vì lý do sức khỏe, lại có mặt tại một đơn vị đã từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được Tướng Đỗ Cao Trí thăng cấp hai lần trong vòng hai tháng ngay tại mặt trận.” (Về Một Đại Đội Cũ). Và “Từ 405, tôi cũng đã mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả”. Thật là “Đại Đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ”…

“Chưa có một đội quân nào trên thế giới này, thua trận, nhưng lại tự hào cùng hàng ngũ, cùng màu cờ sắc áo như quân đội miền Nam này. Không phải một ngày, một tháng, mà cả đời. Chỉ có những kẻ trong cuộc mới hiểu và thấm thía được nỗi tự hào.. Và đó là lý do cắt nghĩa tại sao tôi lại phải viết hoài, viết không mệt về màu áo cũ của mình” (Sđd).

“Chiếc bè đã đưa tôi vào dòng văn chương không phải đẹp và dịu dàng như một giấc mơ. Mà trái lại, văn chương bấy giờ là văn chương của lửa, lệ, và những gào thét, tra vấn, tử sinh. Văn chương bấy giờ là những ngày đêm trong lòng hỏa ngục, là những vết thương tóe máu đớn đau, là tiếng kêu trầm thống của một thế hệ mà, nói theo Tolstoi, chỉ những ông già bụng phệ ký giấy tuyên chiến, còn phần chết thì dành cho bọn thanh niên… Chất liệu văn chương của chúng tôi không phải là từ đơn đặt hàng của chế độ, hay những món hàng làm dáng du nhập từ ngoại quốc mà là sự thật bằng trái phá, bằng mồ mả oan khiên, bằng những người như chúng tôi bị nướng thiêu trong lò lửa chiến tranh.” (Về Những Trang Sách Cũ, trang 16 & 17)…

Ngoài các bài thơ tỏ bày cuộc sống người lính chiến, trở lại tác phẩm Thủ Đức Gọi Ta Về của Trần Hoài Thư để cảm nhận tấm lòng của anh với ngày tháng quân trường.

Tuổi thơ của THT không được may mắn “Ra đời tại Đà Lạt vào ngày 16 tháng 12 năm 1942, thất lạc cha ngay khi còn quá nhỏ, theo mẹ đến thành phố biển Nha Trang sống suốt thời thơ ấu rất đỗi cơ cực và hẩm hiu. Thời thơ ấu, từng bán hàng rong ở các bến xe ở Nha Trang, và từng đi bộ mỗi ngày khoảng 20 cây số để đi đến trường. Học trường Sinh Trung, Nam Tiểu Học Nha Trang và cuối cùng là trường Cô Nhi Viện Bết Lê Hem, Hòn Chồng, trước khi ra Huế gặp lại thân phụ từ Bắc di cư vào”.

Chỉ có thời gian yên lành trong thời trai trẻ “Ở Huế, theo học tại Quốc Học, Đại Học Huế, rồi trở vào Nam với Đại Học Khoa Học Sài Gòn. Không tốt nghiệp sư phạm, nhưng có duyên với bảng đen, phấn trắng, Trần Hoài Thư trở thành ông thầy dạy trung học và hành nghề tại trường Trần Cao Vân ở thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong các niên khóa từ 1964 đến 1966”. (THT Trò Chuyện Với Nguyễn Thị Hải Hà).

Cuộc đời quân ngũ của anh quá bầm dập, bị cận thị nặng, đúng ra anh được miễn dịch, là nhà giáo, nhà văn, nhà thơ thông thường vào ngành Chiến Tranh Chính Trị nhưng lại ra đơn vị nguy hiểm nhất của Sư Đoàn bộ binh vì mãi mê làm báo khi ở quân trường, được giải thưởng “Sinh Viên Sĩ Quan báo chí xuất sắc. Kèm theo phần thưởng tinh thần này là một quà tặng rất thích hợp cho một nhà văn: một cặp bút Pilot mới cáu trong hộp cứng”, nên cuối khóa đậu chót trong “bảng phong thần” vì vậy khi chọn đơn vị phải chấp nhận số phận hẫm hiu.

Bởi cái tội đam mê báo chí đó nên khi ở quân trường bỏ bê mấy môn học quân sự, bốc thăm chót bảng nhưng:

“Khóa của ta

Trên mấy trăm thằng tình nguyện

Đi Nhảy Dù, Thủy Bộ, Thám Báo ‘ác ôn’

Đứng đợi cả ngày để bốc lá thăm

Toàn thứ dữ mà vui như chợ Tết”

(Ta Lính Miền Nam)

Năm 1971, được thuyên chuyển về miền Tây, phục vụ trong Khối Chiến Tranh Chính Trị của Quân Đoàn IV, làm phóng viên chiến trường cho đến ngày tan hàng.. Đây cũng là cơ hội với “Những chuyến đi vào trận mạc, với máy ảnh và cây viết. Tôi đã viết nhiều truyện lấy từ chất liệu sống này” (THT). Và, nơi nầy anh gặp chị Nguyễn Ngọc Yến, người bạn đời đã sát cánh bên anh để thực hiện các tác phẩm  của Thư Ấn Quán và tạp chí Thư Quán Bản Thao cho đến khi lâm trọng bệnh, ngồi xe lăng, qua bao năm anh, con người lãng tử chấm dứt để tận tình chăm sóc hiền thê.

Trần Quý Sách, Trần Hoài Thư gắn liền với cái tâm con người yêu chữ nghĩa. Trước năm 1975, ngay cả những truyện ngắn của anh khi đăng báo cũng bị kiểm duyệt cắt bỏ vì vậy khi ra hải ngoại, anh thực hiện Thư Ấn Quán để làm sống lại những gì đã mất “Đối với tôi, những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất. Họ phải ra trận, vừa đánh giặc vừa viết, không có cơ hội để xuất bản. Sau năm 75 không ai đếm xỉa đến văn chương của họ. Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ”. Và, theo Như Không “Trần Hoài Thư như đã trở thành một chiếc cầu nối cho những độc giả và những người làm văn nghệ nổi tiếng một thời mà sau 75 họ không còn tác phẩm nào được tái bản hoặc xuất bản vì nhiều lý do, trong đó lớn nhất là vẫn lý do chính trị”.

Với tấm lòng của THT như vậy nên những gì đã viết về anh không có ý “áo thụng vái nhau” mà trân quý đáp lại lòng nhiệt huyết của cây bút sống thực, sống trọn tình trọn nghĩa trong tình chiến hữu và bạn bè với nhau.

Tác phẩm của Trần Hoài Thư đã xuất bản:

Trước 1975: Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang (tập truyện, 1968), Những Vì Sao Vĩnh Biệt (tập truyện, 1970), Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (tập truyện,), Một Nơi Nào Để Nhớ (tùy bút, 1974)

Sau 1975: Ra Biển Gọi Thầm (tập truyện,1995), Ban Mê Thuột, Ngày Đầu Ngày Cuối (tập truyện,1997), Về Hướng Mặt Trời Lặn (tập truyện,1998), Thơ Trần Hoài Thư, Mặc Niệm Chiến Tranh (tập truyện), Thủ Đức Gọi Ta Về (hồi ức), Đại Đội Cũ & Trang Sách Cũ (hồi ức), Đánh Giặc Ở Bình Định (hồi ức), Đêm Rừng Tràm (tập truyện), Thế Hệ Chiến Tranh (tập truyện), Hành Trình Của Một Cổ Trắng (truyện vừa), Ở Một Nơi Trên Trường Sơn (tập truyện), Qua Sông Mùa Mận Chín (thơ), Quán (thơ), Ô Cửa (thơ tuyển toàn tập, 2004), Xa Xứ (thơ, 2010), Vịn Vào Lục Bát (thơ, 2017)…

*

Viết Dưới Trời Khói Lửa

Cũng giống như John Steinbeck (1902-1968), khi tham chiến tại Việt Nam trong binh chủng Pháo Binh rồi là phóng viên chiến trường “Ở bất cứ nơi nào, với hành trang là một khẩu súng, một cây bút và một cuốn sổ tay ghi chép lại tức thời những sự kiện diễn ra kèm theo những nhận định cảm quan của một người chứng kiến sự kiện thực của những con người thưc sự trong cuộc chiến” (Nguyễn Mạnh Trinh). Trần Hoài Thư cũng vậy trong đơn vị Thám Báo vừa cầm súng vừa cầm bút.

Trong bài viết Định Mệnh của Nguyễn Văn Dưỡng, nguyên trưởng phòng Nhì SĐ 22 bộ binh:

Bao nhiêu trách nhiệm nguy hiểm trong vùng địch kiểm soát, đột kích, thám kích, tiền thám hay viễn thám kể cả tăng viện và là mũi tấn công chính trong một trận đánh dữ dội, đều giao cho Đại Đội Thám Kích 405 (biểu tượng: Diều Hâu). Vì vậy sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của đơn vị nầy phải là quân nhân tình nguyện hoặc được chọn lựa trong thành phần có kinh nghiệm trận mạc, gan lì và nhất là sự bền bỉ chịu đựng gian khổ ở các đơn vị tác chiến khác của Sư Đoàn. Mặc dù Đại Đội Thám Kích không có trong Bảng Cấp Số của Sư Đoàn, nhưng do tính chất của nhiệm vụ khi thành lập – vì nhu cầu chiến trường – nên tính mệnh của mọi cấp trong ĐĐ/TK như “chỉ mành treo chuông” mỗi một khi được sử dụng. Ai vào thám kích mà ra khỏi được, không chết, ít nhất cũng mang theo vài chiếc thẹo trên mình. Trần Hoài Thư rời miền Trung vào miền Nam không biết được mấy Chiến Thương Bội tinh…”

Quan những bài sáng tác, trích những đoạn trong bài viết của Ytan62 Hoài Thư trong cơn binh lửa:

* Thám Báo

“Những ngày cuối tháng 12, mưa tầm tã cả núi rừng, lẫn cùng những cơn gió miền núi hú loạn cuồng trên những thân cổ thụ trong rừng già. Sương mù che khuất cả tầm mắt, mãi đến trưa chúng tôi mới nhận ra chút cảnh tượng xung quanh. Những hàng dây leo thả xuống đất, hay quấn chằng chịt trên bãi hoang, mà theo mùa mưa, tranh, cỏ thi nhau mọc cao đến quá đầu người. Ban đêm, chúng tôi phải dựa vào gốc cây để ngủ hay ngả lưng một tí. Thường thường tôi không bao giờ chợp một giấc mà không bị thức dậy bởi những tiếng động khả nghi. Cuối cùng tôi cũng khám phá ra rằng, sinh vật vẫn còn hiện diện trong khu rừng này. Có thể là một con nai, hay một con gấu cũng nên…

Có nghĩa là tôi sẽ không còn phải mang con tim đập thình thịch trong bóng tối đen đặc và lạnh buốt của rừng.. Đám lính ngủ ngon lành xung quanh. Họ coi chiến tranh như một trò chơi cũng nên. Họ chẳng cần bận tâm gì đến hiện tại. Hay họ nghĩ là tôi, tay toán trưởng toán thám báo đã thay họ và có trách nhiệm bảo vệ họ. Thường những đêm mưa như thế, trong poncho, dựa lưng vào gốc cổ thụ, tôi vẫn thường bị hành hạ bởi lũ sinh vật còn sót lại của rừng…

Trong những lần nhảy xâm nhập, thường thường mỗi chiều tôi đã chọn điểm đứng sẵn, yêu cầu bộ chỉ huy đại đội sửa lại tần số, và giả vờ rút sâu hơn vào rừng hơn, để trời vào tối chúng tôi lại kéo nhau ra. Chỉ có cách đó mới tránh những cặp mắt của địch. Chúng tôi còn giả cả tiếng kêu của loài thú như mật hiệu. Hạ sĩ nhất Nay Lat có biệt tài giả giọng chim cú mèo. Một tiếng kêu báo hiệu toán tiền sát hãy đi chậm.. Hai tiếng kêu báo cho cả toán hãy dừng lại. Ba tiếng kêu giục toán phải đi nhanh hơn. Với những thằng nhảy toán như bọn tôi, sự sinh tử kề cận như lưỡi dao kê trên cổ. Chúng tôi phải tùy thuộc vào quyết định của trung đoàn trưởng, sư đoàn trưởng. Nói là lấy tin, báo cáo, dọ thám, thì không đúng. Họ dùng chúng tôi như những con vật thiêu thân cũng nên. Họ ném chúng tôi vào rừng để bảo đảm an ninh cho vòng đai của đơn vị họ. Họ để chúng tôi tự đối phó lấy. Trên nguyên tắc chiến thuật, nếu đụng trận thì lập tức sẽ có quân tiếp cứu, trực thăng yểm trợ bốc chúng tôi, hay phản lực dội bom. Nhưng cái chiến thuật ấy chỉ áp dụng ở đâu đó trên sách vở, hay lý thuyết…

Tim ngực tôi đánh thình thịch. Gai đã làm quần tôi bị rách toẹt và cào đau tôi đến tê điếng. (Loại gai màu đen tuyền, nhỏ như lưỡi câu). Chúng tôi phải tìm đến những bụi gai chó đẻ này mà vạch lối, thay vì đường mòn để tránh những con mắt của địch. Thỉnh thoảng chúng tôi thấy những tờ giấy truyền đơn chiêu hồi của Tâm Lý Chiến nằm vương vãi… Tôi có thể đem cả toán ra khỏi rừng, tìm một chỗ an toàn, rồi báo cáo láo. Hay tôi có thể dừng lại ở đây, không tiến xa hơn nữa. Tôi không muốn tôi chết giữa lúc mọi người được sống. Dù trong cõi này, chúng tôi đã trở thành những kẻ đi tìm cái chết rồi. Có thể, ngày mai, nơi này sẽ trở thành bình địa, vì người ta tin tưởng không có mặt chúng tôi ở đây. Tôi thương những người lính của tôi. Họ cũng thương tôi. Họ không bao giờ bỏ tôi. Tôi biết. Họ cũng không bao giờ cãi lệnh tôi.

Thế mà hôm nay, họ cãi. Họ dừng lại, khựng lại, bất chấp. Hình như họ nghe. Họ linh cảm được một điều bất trắc trong rừng. Mắt họ hoảng sợ. Họ thì thào: “Thiếu úy, thiếu úy có nghe gì không?” Tôi nói tao không nghe gì. Họ nói: “Có tiếng hát.” Tôi cố gắng hết sức. Rõ ràng họ nói đúng. Tiếng hát. Theo gió. Khi dìu dặt. Khi mất. Khi còn. Tiếng hát của người con gái. Vẳng lên ở bên kia bờ suối. Càng lúc, tiếng hát càng cuốn lốc, âm thanh càng bay bổng, để người nghe càng phải lặng cả hồn, để tâm não như tê thiếp. Chúng tôi cùng hướng về tiếng hát, chui rúc lách mình trong những buị cây hay gai rậm lá. Tiếng hát càng lúc càng rõ. Và nhờ ống nhòm tôi có thể nhận ra một cặp trai gái đang ngồi bên nhau trên bờ suối. Người thanh niên trong bộ đồng phục ka ki Nam Định. Và người con gái cũng trong bộ đồ đồng phục lính nữ.

Thằng Nga, tên lực lưỡng nhất, nhìn tôi. Đôi mắt hắn như lờ đục. Hắn muốn thanh toán. Dễ quá mà. Nếu muốn, hai đứa sẽ bò qua bờ suối, ngậm theo dao găm. Rồi hai đứa bất ngờ nhào ra, bịt miệng… Không. Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu. Hãy cho anh ta được giữ gìn một tiếng hát. Tiếng hát cất lên từ chốn u minh, hoà nhập cùng núi rừng, cùng cây cỏ, cùng gió Hạ Lào, cùng chiến tranh, cùng tuổi trẻ.. Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam… Tiếng hát như bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc, lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu”.

*

Trong bài viết Đêm Của Thám Kích, tác giả cho thấy cuộc sống của người lính chiến như sợi chỉ treo mành, bên bờ tử sinh:

“Đêm còn lại chúng tôi đã tìm một nghĩa địa làng để trú quân. Vẫn là những mả mới mả cũ. Vẫn là những bia mộ người chết bên cạnh quan tài của những con người còn thở. Người chết muốn yên, muốn an giấc ngàn thu, muốn tiêu diêu miền cực lạc, nhưng vẫn không xong, vẫn bị đám thanh niên từ đâu mò đến gài mìn, chong súng quấy rầy… Còn bọn này, vui lắm.. Chơi đùa với sinh tử. Bầu bạn với âm hồn…

Dù bộ quần áo be bết, giày lấm bùn non chưa khô, có thằng, quần bị rách chưa vá, nhưng mà, bọn này hiểu rõ hơn ai sức nặng của sông của núi. Núi sông đã làm rách quần rách áo, đã làm bạc trắng xác xơ màu vải trận, đã làm cổ áo đen bẩn vì mồ hôi lẫn đất bụi. Nỗi cực khổ này phải bỏ lên khay mà thờ mà lạy, mới phải…

Vẫn là những chữ nghĩa từ những tay trói gà không chặt, đêm ngày nặn óc moi tim để sáng tạo ra những bài văn, bài thơ, khẩu hiệu dính máu đỏ lòm. Nó không cho tuổi trẻ chúng tôi được yên. Nó lôi chúng tôi ra đấu tố giữa đêm hôm khuya khoắc.

Hạ sĩ nhất Ký bò tới nói: “Thiếu úy để tôi dẫn toán tiền thám vào làm tịt miệng bọn chuột. Không lẽ đêm nào cũng nghe chúng chửi mình sao, ông?”. Câu nói của ông Ký như khích tôi. Tôi trả lời: “Thì đi. Tôi cùng đi với ông” . Tôi dặn ông Tướng xem trung đội dùm. Tôi cũng bảo Đông và Tròn ở lại. Ông Ký thì thào với tôi: Ông nhớ theo tôi. Xem chừng những hố bom, hay những vũng nước trâu. Bọn du kích này tinh ranh lắm. Khi nó phát loa, tức là nó đã có cảnh giới, có chốt bảo vệ nó. Ông nghe không. Nó còn dạy đời. Nó nêu đích danh thám kích nữa. Thật vậy, tiếng loa bây giờ chỉ đích danh đơn vị tôi mà kết tội. Bọn hung thần thám kích ác ôn… Thì ra, đám du kích này cũng biết sợ chúng tôi. Chúng tôi lao vào trong đêm. Đứa này theo đứa kia. Ông Ký dẫn đầu. Kế đến là tôi. Sau đó là Minh cao bồi. Và cuối cùng là Nha. Thỉnh thoảng một trái sáng từ hướng trại binh Mỹ được bắn lên, sáng lòa cả không gian, và chúng tôi cả 4 đứa đều nằm rạp xuống. Ông Ký như một con hổ rừng. Chúng tôi vừa bò, vừa ngừng lại để nghe ngóng. Có một điều là địch ít có kích như chúng tôi nên việc xâm nhập vào mật khu địch thường thường ít khi bị phát giác. Chúng tôi cố gắng không lội nước. Tiếng lội là cả một đại nạn…

Những kinh nghiệm giúp họ vẫn còn tồn tại qua bao nhiêu ngày tháng lửa đạn chập chùng. Càng lúc chúng tôi càng nghe tiếng nước xoáy mạnh. Thì ra một con kênh đã chặn ngang. Tiếng nước chảy trong đêm thanh vắng càng nghe dữ dội. Có lẽ là nước lũ từ núi đổ xuống. Chúng tôi nằm trên bờ kinh. Không thể nào qua bên kia được. Rồi tiếng loa lại nổi lên, nghe rõ mồn một. Lúc ấy vầng trăng đã lẫn vào mây. Chúng tôi cùng nhau nhắm vào hướng tiếng loa và nổ súng. Tôi nghe tiếng la thất thanh ở bên kia bờ: Bọn biệt kích xâm nhập!. Bọn biệt kích xâm nhập!. Họ làm sao biết ở bên này, chúng tôi đang âm thầm rút lui. Như thể một trò chơi trốn bắt thời con nít. Quả đúng như lời ông Ký nói, từ đêm ấy, tiếng loa không còn nổi lên trong đêm nữa…”.

Bài viết nầy đã đăng trên tạp chí Bách Khoa, điều khôi hài THT gọi danh từ riêng ông Tướng (nhân vật trong truyện). Tác giả chia sẻ “Truyện ngắn của tôi trên Bách Khoa, khi viết về một buổi chiều phục kích tại một bìa làng, tôi có cho nhân vật ông Tướng – người trung đội phó gốc Nùng (tên thật là Lương Văn Tướng) vào trong truyện. Chẳng hạn “này ông Tướng, hôm nay tổ nào trực”. Tôi viết chữ Tướng với T hoa. Vậy mà ngài sát thủ lại kết tội tôi chơi xỏ một ông tướng nào dó, bôi tất cả những chữ Tướng trong bài văn!…

Kể ra như thế để các bạn hiểu về kiến thức trình độ của các ngài cán bộ thông tin Bộ Cắt Đục (dân sự) cũng như về nỗi khó khăn của người lính viết văn chúng tôi. Chúng tôi đã chiến đấu thật sự để bảo vệ họ được ung dung ở Sài Gòn. Và họ nhân danh sự dốt nát, để chém đâm những đứa con tinh thần của chúng tôi hết chỗ nói”!

*

Trong bài Mắt Đêm cho thấy lòng nhân đạo của người lính VNCH trong cơn lửa đạn:

“Khi tổ tiền sát viên chạy đến gần chiếc cầu gỗ, ẩn dưới bờ mương, tôi bắt đầu cho tổ của trung sĩ Y Bok tiếp tục tiến chiếm gò mả để yểm trợ cho tổ đi sau. Bên kia chiếc cầu gỗ, xóm nhà xác xơ. Vài ngôi nhà ngói bị đổ nát, còn lại những đống gạch vụn, dưới ánh nắng chói chang. Đại Bàng ra lệnh trong máy C.25,  hãy dặn các con anh coi chừng, có mãng cầu nhiều lắm đó.. Tôi ngoắc tay, ra hiệu người trung đội phó, làm một thủ lệnh sẵn sàng qua cầu. Đằng sau, trung đội 1 cũng bắt đầu tiến lên trên đám ruộng phía trái. Một chiếc L.19 đang bay đảo vòng trong bầu trời xanh lơ. Một trái khói trắng bốc lên cách gần tôi một trăm thước. Đó là quả đạn hiệu chỉnh của pháo binh. Tiếp đến là những quả dạn nổ long trời. Bụi cát bốc lên mù mịt. Đó là những quả đạn bắn hiệu quả.

Tôi áp người vào bờ mương, nghe thân thể rung động. Toán lính nằm dọc theo bờ, súng chĩa về ngôi làng. Tôi bặm môi, ra hiệu thằng mang máy đến gần, và báo cáo: Phú Sơn, đây Phú Sơn ba nghe không trả lời. Tôi báo cáo cho anh trình lại thẩm quyền, các con tôi sắp vượt qua cầu. Trình Đại Bàng cho yểm trở. Nghe rõ trả lời. Bàn tay buông lỏng. Tiếng rè rè từ ống liên hợp cất lên: Tôi nghe năm trên năm. Bây giờ những quả đạn pháo binh nổ dồn dập. Những cột khói đen cuồn cuộn, quyện với hơi nóng rát mặt tỏa lên. Tôi được Đại Bàng bảo hãy chờ. Cho pháo binh cầy nát mục tiêu đã. Rồi mình qua. Tôi đáp, nghe năm trên măng, rồi nằm ngửa, súng đặt trên đùi. Tay lấy chiếc khăn, chiếc khăn màu lam mà Quỳnh đã gởi cho tôi trong lần chia ly cuối cùng, đẫm nước mắt, lau vội mặt kính nhem nhuốc nước bùn, tôi nghe nỗi kích thích lạ kỳ, tràn ngập trong từng tế bào, trong huyết quản. Thân thể bị lay động dưới sức nổ của đạn trái phá. Tôi xoay người lại, đặt đầu ống liên hợp vào tai lắng nghe những mẩu âm thoại dồn dập trong máy. Nắng đã bắt đầu lên, và cánh đồng trải dài nhảy múa trước mắt.

Bây giờ, Đại Bàng ra lệnh: Hãy qua cầu. Đứa con 2, yểm trở cho anh. Tôi đứng, hét: Tổ tiền sát viên, qua ngôi làng, chiếm ngôi nhà trước mặt.. Tiến. Hạ sĩ I Ký cầm cây M.16, qua cầu, chạy như bay đến sau đống gạch vụn. Những người lính còn lại tiếp tục chạy qua cầu, yên ổn. Tôi thở dài nhẹ nhõm. Tôi không ngờ tình hình lại yên ổn như thế. Khi nãy, trung đội tôi còn ở trong ngôi vườn cách ngôi làng một cánh đồng đất bùn, chúng tôi đã phải nổ súng dữ dội khi thấy những người bà ba đen chạy vụt qua. Binh I Mễ hét lên: Bọn nó chạy đó, thiếu úy. Tiếp sau, những tràng nổ liên thanh chát chúa vang lên, kèm với những quả đạn M.79. Tôi hét lên: Ai cho lệnh bọn mày bắn, hả? Tiếng Đại Bàng từ trong ống liên hợp ra lệnh thôi bắn, thôi bắn. Tôi bực dọc đá một thằng lính ngồi bên cạnh, say sưa nhả đạn. Ai cho mày bắn, hả? Mày lỡ bắn vào  dân thì sao? Nó phân trần, bực dọc: Em thấy bọn nó mặc bà ba đen, chạy vụt qua mà. Tôi hét: Ai cho mày bắn? Đại Bàng la tùm lum, mày vác tai mà nghe! Binh Nay nói: Ở đây là V.C. hết. Thiếu úy không thấy ca-nông nhả, sao. Tôi không trả lời, rảo về phía tổ trung sĩ Y Đao, bố trí phía trái. Những nhánh hoa giấy đỏ thắm bò qua những sườn nhà trơ nóc, lung lay trong gió. Bầu trời thật xanh. Tôi ngồi xuống, và cảm thấy ngứa ở các ngón chân. Các ngón chân cọ quậy trong đôi tất ướt nước bùn. Tôi nghĩ đến câu nói của binh Nay. Có lý, có lý…

Đằng sau nhà, có tiếng hét của người lính: Lên không. Đầu hàng đi. Tao ném lựu đạn xuống bây giờ. Tôi đứng dậy, tiến về tiếng hét. Thằng Trung cầm trái M.26, sắp bỏ vào miệng rút chốt.. Tôi gọi giựt: Khoan đã. Muốn chết hả? Trung nói: Thiếu úy, em nghe tiếng động trong hầm, bọn nó núp trong hầm, thiếu úy. Tôi nạt: Mày tưởng bắt bọn nó dễ dàng như vậy sao? Trung cầm trái lựu đạn, phân bua: Thì ở đây là bọn nó rồi còn gì. Tôi nói: Lỡ dưới hầm toàn dân không thì sao? Tôi chỉ tay vào trái lựu đạn cay, sao  mày không dùng thứ này? Ai dạy mày, hả.

Tôi nằm trên miệng hầm, sát tai vào lớp đất. Có tiếng rục rịch khe khẽ. Tôi bảo Trung và cả tổ nằm chĩa súng xung quanh miệng. Tôi hét. Đồng bào ở dưới thì lên, bọn tôi tới giải phóng đồng bào. Đồng bào không lên, chết chịu. Tôi đếm từ một đến mười…

Tôi đếm một, hai, ba, bốn, năm. Đồng bào lên không. Trái lựu đạn cay của Trung được đưa ra, và miệng nó sắp rút chốt, thì người đàn bà hiện lên trong khoảng tranh mờ tối của cửa hầm. Mụ ta có bầu, trạc độ 39, 40 tuổi. Mụ vừa trồi đầu lên vừa chắp tay lạy: Lạy các ông, chúng con vô tội. Binh Hai hét: Còn bao nhiêu người ở dưới đó? Mụ rên rỉ: Dạ còn chừng bảy, tám người. Gia đình con cả. Tiếp đến một lũ người trồi đầu lên. Đi đầu là hai ông già, mấy người đàn bà, một đứa con gái còn nhỏ và mấy đứa con nít. Họ mang theo những chiếc va-li thiếc, những thúng đồ hoặc những túi vải bố. Tôi bảo lính dồn đám người về một góc.

Nắng chói lòa trên nền nhà đổ vụn và những mảnh chai phản chiếu một màu nhức nhối. Tôi cảm thấy khó chịu, khi những giọt mồ hôi bắt đầu ri rỉ xuống cổ. Mụ đàn bà cứ réo: Lạy các ông, các ông tha con. Binh nhất Hai lên đạn rắc rắc.. Mụ nói các quan ơi tôi vô tội. Binh Hai vội đá cái va-li thiếc bay đi một khoảng và nói: Sao mụ có bầu. Chồng mụ ở đâu rồi. Mụ đàn bà vội nói: Chồng tôi, ảnh làm lính Quân Cụ ở Qui Nhơn. Tôi cười. Bao giờ cũng vậy, mỗi lần hành quân qua mỗi ngôi làng mất an ninh, chỉ thấy đàn bà, trẻ con và ông già bà lão. Đàn bà phần nhiều có chửa. Và một điều lạ, hỏi chồng bà ở đâu, chúng tôi chỉ nghe ảnh đi lính Quân-Cụ, Quân-Nhu, hay nằm bệnh viện. Lần này mụ đàn bà cũng nói như vậy. Tôi bảo lính lấy dao găm cạy va-li thiếc, lục soát. Nắp va li được mở tung. Có một bộ ka-ki vàng. Binh Hai hét: Chồng mụ đi lính Quân Cụ hay đi giải phóng. Nói mau. Hắn sắp bạt tai, thì tôi vội ngăn lại. Tôi không thể chịu nổi những gương mặt thảm thê, những đôi mắt ngơ ngác sợ sệt đó. Mụ đàn bà nhìn tôi van lơn. Hai ông già tiếp tục nhìn ra cánh đồng chói nắng.

Những người khác nhìn xuống đất. Tôi quay mặt lại. Binh Hai vẫn tiếp tục điều tra, dọa dẫm. Nắng đã làm nhức mắt. Tôi muốn nhắm mắt lại, ngủ một giấc, một giấc thôi. Mẹ tôi ở đó, những đêm ôm chặt tôi trốn dưới gầm giường. Đạn réo ngoài sân, ngoài ngõ, ngoài hiên. Đạn réo trên đầu, trên mùng, Mẹ tôi ở đó, trên sân nắng, hai tay để lên đầu, khóc lóc nhìn bọn lính Tây tra hỏi. Vẫn những giọt nước mắt, vẫn những tiếng khóc lóc, như một âm vang từ xa xôi vọng lại, từ một quê hương, một xóm làng đìu hiu. Tôi chống hai tay vào đầu gối, mệt nhọc đứng dậy.

Tôi nói: Thôi, để yên đó. Mùi thối từ ngôi nhà gạch bên cạnh bốc lên, đến buồn nôn. Có lẽ là một xác sinh vật nào đó. Những quả cà-nông vẫn tiếp tục dội về, như một cung  đàn buồn thảm. Chiếc L.19 vẫn rà rà trên đầu. Tôi đi về phía nhà sau. Toán lính đang lục soát trong nhà bếp…

Đến bốn giờ chiều, chúng tôi được lệnh mang số dân cư ngụ tại đây về vùng có an ninh. Trung đội tôi bọc chót. Tôi phải khổ tâm mới bảo họ lên đường. Những thúng gạo, nồi niêu, những bát chén, kèm theo những tiếng khóc nức nở. Tôi nghĩ đến một quê hương đã mất. Tôi phải bảo tính thúc từng người. Hình như không có người nào muốn đi. Cuối cùng đoàn người lục tục lên đường. Viên cố vấn Mỹ đi theo đại đội,  đếm từng đầu người, rồi ghi trên sổ tay. Đồng ruộng trải dài, thỉnh thoảng vài hố bom cày, loang loáng nước. Đoàn người chậm chạp đi qua những con ruộng đất bùn…

Cuối cùng, đoàn người được đưa về làng ven lộ yên ổn. Có ba, bốn người ở lại. Tôi khổ sở nhìn đám người chậm chạp, cử động trong màu sắc nhá nhem.. Đại-bàng bảo nhiệm vụ của mình đến đây đã hết. Sơn-tây cho mấy đứa con sẵn sàng ra lộ, chờ lên con cua. Tôi đứng trên thềm một ngôi nhà gạch, nói lớn: Bây giờ đồng bào có thể yên tâm ở lại. Đây là vùng an ninh, có lính quận bảo vệ. Đồng bào được tự quyền đi lại. Đồng bào có thể về thành phố. Chúng tôi cám ơn đồng bào…

Toán lính trở về dưới ánh trăng mập mờ. tiếng côn trùng vọng về âm u.. Những khóm tre xõa tóc như những bóng ma quái. Tôi cảm thấy lạnh. Trong máy C.25, các đứa con của trung đội 2, báo cáo bắt được một người đàn ông vừa trốn từ chân núi trở về và sắp sửa bắn một người đàn bà, trong đêm lại mò lên núi. Các đứa con báo cáo vị trí đã bị tiết lộ, bây giờ di chuyển toán lính về một địa điểm khác. Tôi lặng mình trong âm thanh quen thuộc từ ống liên hợp. Tiếng gọi và trả lời của người lính mang máy tiếp tục trồi lên, khe khẽ. Vô sự, các đứa con tôi đang zulu, đừng nổ súng ẩu, nghe bồ…

Dưới ánh trăng, khóm lá loang loáng những giọt sương đêm. Tôi nằm trên poncho. Người lính giúp việc mở bi-đông rượu, nói: Thiếu úy, uống một tí cho ấm. Tôi nói ừ đưa tao uống một tí. Sao mày lại kỳ vậy. Mỗi lần hành quân, lại mang cả bi-đông rượu theo. Uống say làm sao gác được. Hắn cười uống để đánh giặc cho hăng, thiếu úy…

Sáng hôm sau, tôi dắt trung đội đi lục soát khu vực toán kích nổ súng hồi đêm. Hy vọng sẽ tìm thêm một kẻ bị thương nằm lại đâu đó. Thằng Ngọc dắt tôi đến chỗ người bị bắn hồi đêm…

Một tháng sau, tôi cùng một thằng bạn lái xe jeep trở về thành phố. Chúng tôi ngồi trước hàng hiên của một tiệm giải khát. Tôi bỗng thấy đứa con gái nhỏ đứng trên lan can của một nhà tắm hơi. Tôi nhớ mang máng con bé bị tát tai trong chuyến hành quân trước. Con bé có mái tóc dài, dáng gầy, và đôi mắt ngơ ngắc. Con bé gánh đôi thúng gạo nặng, hai chân lún sâu dưới bùn, lảo đảo bước đi. Con bé đứng dưới gốc đa. Bây giờ con bé đang đứng trên lan can một tiệm Tắm Hơi. Tôi đứng dậy, đá cái lon sữa, đá một cái thật mạnh”.

*

Bài viết về Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối, Diều Hâu Bỏ Núi và Về Một Đại Đội Cũ vào thời đểm THT ở Quân Đoàn IV tháng Ba năm 1975 những sự kiện xảy ra gợi cho tác giả liên tưởng lại hình ảnh trong quá khứ để kết nối với hiện tại. Và với lối viết linh động như bản thân mình là người trong cuộc. Theo lời tác giả về Ban Mê Thuột… “Đây là một câu truyện được xây dựng từ những dữ kiện có thật theo lời kể của cựu thiếu úy trinh sát trung đoàn 45/SĐ23B và cũng là người bạn cùng một sư đoàn, Nguyễn Lương Sơn.. Tác giả mong được nói lên phần nào về một biến cố lịch sử mà những người lính vô danh VNCH đã là những chứng nhân, và hơn nữa đã tham dự thật sự vào, bằng máu, nước mắt, kiêu hãnh và tủi nhục trong những ngày oan nghiệt nhất của lịch sử đất nước từ ngày đầu tiên 10/3 đến ngày cuối cùng 17/3/75 tại Ban Mê Thuột.

Bài viết Về Một Đại Đội Cũ, tác giả ghi “Kính dâng hương hồn anh Hồ Văn Hòa” đã một thời sát cánh bên nhau.

“Đêm nay, quê người, và hơn 30 năm xa cách cho hai cánh diều hâu bỏ đàn bỏ tổ. Những giọt lệ bỗng nhiên lại thêm một lần chảy lạnh cả tâm hồn. Người sống nhớ về người đã chết. Người may mắn nhớ về người không may mắn. Nguồn cội từ một mái nhà được phanh ra, để cùng nhau tự hào và cũng để cùng nhau mà khóc thầm. Những con người, không bao giờ nhìn lên, mà chỉ nhìn xuống, cam phận – THT”

“Từ 405, anh Hòa đã mang chiếc khăn quàng cổ màu đen về 35 BĐQ. Từ 405, tôi cũng đã mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả. Con số quá đủ cho một tấm lòng đối với bạn bè đồng đội của mình. Tôi hẹn với lòng, sau Mặc Niệm Chiến tranh là bỏ viết. Tôi đã gởi gấm những gì mà tôi cần gởi gấm. Nhưng bây giờ, tôi lại ngồi trước máy. Những lời của anh Hòa chẳng khác cơn bão xoáy lốc vào tâm não. Một đằng, tôi cảm thấy mình thật hãnh diện, bởi vì tôi đã có mặt tại một đơn vị đã từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH…

Phải. Không tự kiêu sao được khi đám lính khăn choàng đen huy hiệu Diều Hâu vồ mồi đã làm địch Bình Định kinh hồn bạt vía. Chúng tôi đã áp dụng tối đa chiến thuật dạ kích. Anh bạn, tôi xin nhắc lại, nếu địch là ma, thì ta cũng là ma, tại sao mấy ngài chỉ huy cao cấp chỉ biết cái chiến thuật nhà giàu, ngày đánh, đêm về phố nhảy đầm hay ngủ với vợ. Tại sao các ngài không thành lập những đội quân chuyên đánh đêm, hay đổi lại chiến thuật đánh ngày sang đánh đêm. Địch lợi dụng bóng tối tại sao ta lại không lợi dụng bóng tối để đột kích mật khu, phá nát hậu cần, gây cảm giác lo âu kinh sợ cho đối phương, bắt đối phương lúc nào cũng hoang mang giao động? Tại sao cứ chơi trò đóng đồn phòng thủ, chờ chuông báo tử.

Chuông báo tử. Những hồi chuông đã kéo hối hả khắp cả miền Nam, và bóng u minh đã òa chụp xuống từng người, từng thân phận. Không phải vì ta hèn. Chưa có một đội quân nào trên thế giới này, thua trận, nhưng lại tự hào cùng hàng ngũ, cùng màu cờ sắc áo như quân đội miền Nam này. Không phải một ngày, một tháng, mà cả đời. Chỉ có những kẻ trong cuộc mới hiểu và thấm thía được nỗi tự hào. Và đó là lý do cắt nghĩa tại sao tôi lại phải viết hoài, viết không mệt về màu áo cũ của mình.

Viết về một đơn vị, để mà tự hào, nhưng riêng tôi lúc này còn để hối hận.. Bởi vì, ngòi viết của tôi chưa bao giờ có một nhân vật như Y Brep trên trang giấy. Và tôi cũng chưa bao giờ mời ông Tướng giải phóng, trung đội phó của tôi một cốc rượu, một lon bia. Ông ta anh hùng như thế, dẫn toán vào mật khu, hù lính Bắc quân, thế mà mỗi ngày vẫn chào tay tôi, trình diện tôi, giúp đỡ tôi, nâng bước chân tôi lên trên những bãi chiến trường sôi bỏng. Thế mà tôi không có cả một lời. Và dù có viết, thì đám kiểm duyệt ở Sài Gòn lại bôi đen chữ Tướng viện dẫn tôi chơi xỏ một ông tướng nào đó. Vâng, tôi đã vô tình quên họ, những người lính của trung đội tôi như Y Đao, Nay Lat, Y Suk, như Nha, Vọng, Tròn, Hường, Nai, Lợi, Ký, Mễ, Ưng Luông. Tôi chỉ bận tâm đến bản thân tôi. Tôi chỉ tìm mọi cơ hội để được thăng quan tiến chức, hay để được thoát khỏi địa ngục trong lúc họ vẫn tiếp tục cùng chiếc poncho, hay lon cơm gạo sấy, coi đơn vị là mái nhà vĩnh viễn của mình mà không một lời ta thán”.

*

Diều Hâu Bỏ Núi bi phẫn, uất hận như hàng trăm ngàn chiến sĩ nơi sa trường đã liều mình dấn thân trong lửa đạn để bảo vệ quê hương nhưng thời điểm cuối cùng đành ngậm ngùi tan hàng!

“Suốt cả tuần, trận đánh vẫn chưa ngã ngũ. Hết đơn vị này tiếp đến đơn vị khác bị khựng lại khi tìm cách tiến qua mặc dù trước đó bom pháo dọn đường đã trút xuống như mưa thác. Những hang đá chằng chịt và kiên cố ở sườn đồi, nhìn xuống con lộ dẫn vào sâu trong rừng  đã khiến những cơn mưa bom, và đạn pháo binh phải chịu thua. Và đơn vị đã phải quay lui. Cuối cùng cấp trên điều động đơn vị chúng tôi đến mặt trận. Họ đã hiểu chiến thuật trận địa chiến phải bó tay trước những tên địch ngoan cố, xâm mình. Không dễ gì phải tấn công một cao điểm khi phải bò lên giữa một triền núi trống trải trước những họng súng đại liên đã chực sẵn. Và chỉ còn cách là dùng chiến thuật dạ kích. Chỉ có cách đó mới may ra làm câm họng những ổ súng tàn bạo.

Người lính bây giờ là người lính cảm tử. Trước hết hắn phải cố làm sao để nhận rõ nơi trú ẩn của địch, phải gắng định hướng chổ đặt khẩu súng nặng bằng cách nghe tràng nổ cũng như nhìn tia đạn lửa đến từ đâu, sau đó dùng máy hồng ngoại tuyến, tìm mọi cách bò đến, lao vào,  quăng lựu đạn tiêu diệt…

Đêm nay chúng tôi lại thêm một lần nữa, mặc đồ đen, ngậm dao găm, bọc đầy lựu đạn loại lân tinh. Tổ trưởng  còn mang theo ống nhắm hồng ngoại tuyến. Giờ G là 3 giờ sáng. Theo kinh nghiệm chiến trường, khoảng thời gian này là khoảng lý tưởng nhất cho cuộc làm ăn đêm. Bởi lẽ bất cứ thằng lính nào cũng đã thấm mệt hay cũng đang mơ màng giấc ngủ. Và mật lệnh cho chúng tôi là hỏi Thần điểu đáp Kình Ngư.

Dĩ nhiên tôi để trung sĩ Thành làm tổ trưởng tiền sát gồm hạ sĩ Nga, hạ sĩ Y Mông và hạ sĩ Phát. Hắn gan lỳ và dữ tợn. Càng nguy hiểm chừng nào, hắn lại càng say mê, phấn khích chừng nấy.

Tôi xiết chặt tay hắn, và hắn cũng xiết chặt tay tôi như chuyền cho nhau sức mạnh. Hắn thầm thì, giọng ngạt mùi rượu đế: Có gì thì nhờ ông thầy giúp đỡ con vợ tôi. Tôi cảm động đến rưng nước mắt. Tôi biết phải an ủi làm sao để hắn cảm thấy tự tin hơn. Mục tiêu không phải dễ gì thanh toán khi kẻ địch có lợi điểm hơn chúng tôi, và nhất là họ đang cố sức bảo vệ cây súng nặng. Tôi nói nhỏ: Đừng nói bậy không nên…

Tôi dẫn một tiểu đội bò lên hướng trái, và trung sĩ nhất Tông, trung đội phó, lãnh một tiểu đội bò lên hướng phải. Chúng tôi không gặp trở ngại nào khi bò qua bãi đất trống trước khi lên đồi. Chúng tôi phải dồn cục nhau. Hạ sĩ nhất Bảy bò đầu. Tôi bò theo hắn, vừa bò vừa quan sát bằng ống nhắm hồng ngoại tuyến. Trên lưng áo mỗi đứa có dấu hiệu lân tinh rất nhỏ để chúng tôi có thể dễ dàng nhận ra nhau. Qua máy nhắm, tôi có thể nhìn thấy mấy bóng đen của toán tiền sát đang lom khom vừa bò vừa chạy.

Bỗng nhiên, một tiếng nổ long trời lở đất nổi dậy, và sau đó là những tràng đạn tiểu liên, đại liên cắt xé màn đêm. Rõ ràng địch đã phát hiện chúng tôi. Tuy nhiên họ dường như không thể biết chúng tôi ở đâu. Chỉ có kẻ lợi là chúng tôi. Bởi vì chúng tôi có thể biết hang đá nào địch đang trú ẩn. Chúng tôi chỉ việc bò đến và quăng lựu đạn xuống hang đá.

Địch không mạnh như chúng tôi tưởng. Chúng tôi đã dễ dàng làm câm ổ súng nặng ngay đêm hôm ấy. Để đổi lại, trung đội phải chịu thiệt trung sĩ Thành, người hạ sĩ quan gan dạ nhất của đại đội. May mắn, hắn vẫn không chết, dù cả người hắn bị banh tơi tả do từ những trái lựu đạn mà địch đã gài trên lối dẫn đến hang đá. Hắn đã dọn đường cho những người lính cảm tử khác tiến lên để tiêu diệt ổ súng…

Giữa lúc ấy tín hiệu bay đến… Tin cho biết Sài Gòn đã ra lệnh bỏ cao nguyên!

Cả hàng quân đứng im phăng phắc. Những võng mô Nó đến sau khi chúng tôi được tin Mặt Trời sẽ bay đến thị sát chiến trường và gắn huy chương. Cái lệnh được ban từ một trung tâm hành quân nào đó ở rất xa, nghẹn ngào và hối hả xen giữa muôn ngàn âm thanh đàm thoại hổn loạn trong máy khuếch đại, đầy tiếng chửi thề, những lời phẫn uất, những câu hỏi mà không có câu trả lời, những tuyệt mất hết màu sinh khí. Những chiếc mũ rừng chụp lên những đầu tóc rối bù. Những chiếc quần trận mà bụi và đất đã lấy đi hết cả màu xanh, rách toạc lộ cả vãi quần lót… Trời đã trở chiều. Nắng còn sót lại làm thắm vàng cả cánh rừng bên cạnh. Ông nói kể từ giờ phút này anh em có quyền ra đi. Trước khi chia tay, xin anh em hãy cùng tôi đứng nghiêm một phút mặc niệm cho những người bạn của chúng ta đã bỏ mình. Rồi ông hô nghiêm, buồn bã. Chúng tôi cùng cúi đầu. Có những giọt nước mắt lăn trên má khô cằn, hóp sâu, bơ phờ của người lính già. Có những giọt lệ vẫn còn long lanh trên tròng con ngươi thất thần, đục lờ vì những đêm ngày căng thẳng trong lòng hỏa ngục. Có giọt lệ chưa kịp lăn, lại thêm những giọt lệ khác trào ra. Có thằng lính trẻ khóc tức tưởi khiến người lính già phải la lên: Mày làm như con nít lên ba. Làm sao tao gả con gái tao cho mày được”.

Chưa bao giờ chúng tôi cảm thấy buồn đến độ tê tái, héo úa cả ruột gan như lúc này. Súng vẫn nổ. Tiếng pháo vẫn vang dội ì ầm từ xa… Những cuộn khói vẫn còn bốc lên trên căn cứ. Những người bị thương vẫn rên rĩ. Mắt ai quay lại nhìn về hướng xa, mờ lệ. Lần đầu tiên tôi mới hiểu thế nào là nỗi mất mát. Chắc là không bao giờ tôi được cơ hội trở lại thành phố ấy nữa. Chắc là không bao giờ tôi còn trở về để ngồi trong quán cà phê có cô nàng đôi mắt rờn rợn liêu trai nữa. Mất rồi. Sự thật đến độ thật kỳ cục…

Bây giờ, thầy trò thi nhau mà chạy. Tướng cũng cuốn cờ, mà quân cũng cuốn vó. Lúc này là lúc tôi muốn bỏ tất cả. Tôi đã không còn đủ sức để gánh thêm cái trách nhiệm này nữa. Tội này ai gây nên. Lịch sử này ai gánh chịu. Những người lính của tôi, họ ít học, người gốc nông dân, người gốc Thượng, gốc Nùng, người bị bắt đi quân dịch, họ đâu có tội gì để gánh cái khối đá tảng của lịch sử. Những người có trách nhiệm bây giờ ở đâu, sao máy thì bặt tăm không một lời thăm hỏi. Hay họ đã chạy trốn rồi.

Sau đó chúng tôi vất súng cởi bỏ bộ đồng phục và mạnh ai nấy tan hàng. Riêng tôi thì không biết đi đâu nữa. Mặt trời cũng sắp lặn”.

*

Đọc những bài viết của Trần Hoài Thư về thân phận của người lính chiến mới cảm nhận những dòng thơ của anh. Trong thời chinh chiến trong thơ và văn của THT trước thực trạng bi thương trong cơn binh lửa.

Thi phẩm Ô Cửa (tuyển thơ toàn tập) dày 382 trang gồm 245 bài thơ liệt kê trong 8 trang Mục Lục. Thư Ấn Quán 2004. Trong phần Lời Mở tác giả cho biết “Tuyển tập nầy gồm những bài thơ trong Thơ THT (xb 1996), Qua Sông Mùa Mận Chín, Tháng Bảy Hành Quân Xa, Ngày Vàng, Người Lính… Có một số bài được chỉnh lại, khác với nguyên tác”. (Sau tuyển tập nầy có ấn hành hai thi phẩm Xa Xứ năm 2010, Vịn Vào Lục Bát năm 2017 có thêm những bài thơ thời lính trận).

Bài thơ Ô Cửa (trang 14 & 15) được chọn làm tựa đề cho tuyển tập thơ. Từ bài đầu tiên Đêm Vượt Sông đến bài cuối cùng Kết, tác giả không sắp xếp sáng tác theo thứ tự thời gian.

Với chân dung về một người lính trong Trần Hoài Thư từ lúc ra đơn vị tác chiến đến lúc buông súng. Thân phận người trai trong thời chiến qua bài thơ Thế Hệ Chiến Tranh:

Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo

Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn

Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm

Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân

Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích

Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu

Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích

Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu

… Thế hệ chúng tôi già như quả đất

Râu tóc mỗi ngày mọc những hoang mang…”

Cuộc sống của người lính tác chiến quá cơ cực, bóng tử thần rình rập nên:

“Chúng tôi sống, ngày là đêm, bóng tối

Trong hấm sâu, dưới địa đạo u minh

Hơi hụt hẫng, theo từng cơn địa chấn

Tai ù ù như bật vỡ âm thanh”

(Bóng Tối).

Quân Đoàn II có hai Sư Đoàn, SĐ 23 đảm trách các tỉnh phía Nam và SĐ 22 đảm trách các tỉnh phía Bắc. Nơi nầy có nhiều địa danh xảy ra chiến trận:

“Trung đội những thằng trai tứ chiếng

Những thằng bỏ lại tuổi thanh xuân

Diều Hâu bôi mặt hù ma quỉ

Thuở đất trời bày đặt nhiễu nhương…

… Trung đội ta những thằng giữ đất

Từ Qui Nhơn, Phù Cát, Phù Ly

Ra Tam Quan qua vùng An Lão

Từ Kỳ Sơn, Phước Lý, An Khê”

(Trung Đội)

Từ một nhà giáo ốm yếu, cận thị, làm lính chiến vẫn bạt mạng, sống bất cần, vì vậy khi Nhảy Trực Thăng ở Phước Lý:

Thì ta ra trận, ta ra trận

Trăm lần thì cũng chuyện rong chơi

Vẫn chuyến bốc quân vào buổi sớm

Vẫn chuyến trở về không buồn vui”

Hết nơi nầy đến nơi khác từ núi rừng đến sình lầy như Đêm Đột Kích Ở Nho Lâm:

Đồng nước mênh mông, quân ngoi ngóp

Đêm đặc lòng như thuỷ mộ quan

Òa lên trái sáng run hơi thở

Nghiến chặt hàm răng về Nho Lâm

Ai dẫn đường đi sao khựng lại

Trời đen không thấy một vì sao

Bốn bề thăm thẳm lau cùng sậy

Những rặng tre mờ in bóng cao”

Người lính Thám Kích luôn luôn ứng trực, không có giờ giấc, đôi khi hành quân cả tháng, vừa về đơn vị lại lên đường Trước Giờ Tiếp Viện:

Nửa đêm kẻng giục, quân ra trận

Kinh động cả lòng đêm tối bưng

Nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy

Không buồn chỉ một chút bâng khuâng

Đời ta là con số không vô tận

May trên đầu còn chiếc mũ rừng

Mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ

Chiến tranh. Thì cũng tựa phù vân”.

Hình ảnh sống thực của người lính Thám Kích nay đây, mai đó mới phác họa được thảm cảnh:

“Diều Hâu đã về như một lũ âm binh

Kẻ trước kẻ sau lao vào địa ngục

Đêm không thấy đường giữ dây khỏi lạc

Chúng tôi băng đồng nước ngập

Giải cứu quê em”

(Đêm Tiếp Cứu Chợ Huyện)

Sống sót lúc hành quân, được trở về hậu cứ như Đàn Ngựa Về Thành:

Khi trở lại ngồi trong lòng quán tối

Thuốc vàng tay và vầng trán đăm chiêu

Thế hệ chúng tôi những đứa đôi mươi

Hồn đã mọc những nụ buồn rất sớm

Khi trở lại, dựa lưng vào vách quán

Để giọt buồn pha đậm tuổi suy tư

Chiếc mũ rừng che nửa mặt âm u…”

Cũng như những bài trong văn xuôi, thế hệ của anh sinh nhầm trong cuộc chiến nên phải cam chịu đao binh, bất hạnh… thay vì nguyền rủa nhưng vẫn tự hào:

Tôi đứng giữa những nỗi buồn lịch sử

Lẫn tự hào của tuổi trẻ hôm qua”.

Với ngọn đồi mà người lính Thám Kích đã bao lần hành quân rồi trong lần trở lại với Đồi Xưa:

“Tôi qua đồi xám mây mờ núi

Thương về đâu một lũ sáo rừng

Hôm qua đồi ngập hàng trăm xác

Đạn pháo đào sâu bãi chiến trường

Có ai dưới lớp mồ hoang dã

Nằm xuôi chân mắt mở trợn trừng

Chiều nay sao mọc về phương Bắc

Sao ruột lòng vắt đỏ phương Nam

Cỏ tranh lớp lớp che đường dốc

Phòng tuyến buồn hiu nhuốm nắng chiều

Trận đánh cũng đi vào quên lãng

Sao còn rờn rợn những hồn xiêu”

Chiến tranh thật tàn khốc, trên đồi dưới sông đều là mồ chôn xác người. Những nơi người lính trận nhập cuộc đều là chứng nhân cho những nấm mồ.

Những địa danh trong vùng trách nhiệm đó, ngoại các địa danh có tên trên bản đồ, và một nơi nguy hiểm, gọi là Eo Chết:

“Địch cho Trung Đội qua eo chết

Hai bên sườn đại liên đan nhau

Một hai ba… Lộn. Nằm co quắp

Còn lại vẫn ào lên ào lên

Đừng bò! Đừng bò!

Trung đội phó hét cuồng điên

Cỏ tranh bắt mồi cháy mạnh

Gió tạt khói mù

Bốn bề khói rợp

Khói cay cay cặp mắt nổ tròng

Khắp bốn bề gào thét xung phong

Cao điểm chiếm rồi

Vui mừng quá độ

Mà sao người lính Truyền Tin rơi lệ

Báo cáo trong tiếng mất tiếng còn

Về những thằng bị kiến cắn * ngủ yên”

(* Bị kiến cắn: Tử trận)

Địa danh Kỳ Sơn có nhiều nơi ở miền Bắc, và hình như chỉ ngọn đồi Bình Đinh mang tên nầy, cũng là nơi xảy ra hoạt động đơn vị của đối phương (Nông Trường 3 Sao Vàng) nên luôn luôn xảy ra nhiều cuộc đụng trận với nhau.

“Kỳ Sơn đồi trọc chim không đậu

Đại đội đi, một nửa không về

Lớp lớp người nhào lên, ngã gục

Đạn sủi bờ sủi đá, u mê

Kỳ Sơn cao độ hai trăm thước

Đêm hoảng kinh, đỏ huyết vầng trăng

Những xác hôm qua, vàng rám mỡ

Những anh hùng, ngụy tặc, nằm chung

Kỳ Sơn ơi,  Kỳ Sơn Kỳ Sơn

Người chưa về tóc mẹ bạc như sương

Ngày sau ai nhớ cho dòng lệ

Kỳ Sơn ơi, Kỳ Sơn Kỳ Sơn…”

Đọc bài thơ Kỳ Sơn nầy nhớ bài Trường Sa Hành của Tô Thùy Yên:

“Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!

Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.

Lính thú mươi người lạ sóng nước,

Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi…”.

Bài thơ Đêm Phục Kích Ở Luật Chánh cho thấy sự đối mặt với địch quân:

“Ráng thức, mắt ơi đừng nhắm nhé

Nơi nào cũng vậy, cũng hồn ma

Nơi nào cũng vậy, ngàn tinh tú

Nhoà nhạt trên cao, tựa mái nhà

… Trời hởi, thèm chao ơi giấc ngủ

Sao mà, ngực thình thịch nổ tung

Đêm nay dài quá, sao dài quá

Mà đám Sao Vàng chưa đến thăm?

… Ai biết đêm rồi ta trắng mắt

Để chuông chùa rộn rả bình minh?”

Lúc lâm trận, phải đối mặt nhau, súng đạn vô tình, ta không giết địch thì địch giết ta nhưng sau trận chiến, nhà thơ thể hiện tấm lòng nhân bản, hình ảnh cao đẹp của người lính chiến:

“Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm

Để thấy miền Nam lính hiền ghê gớm”

Có một nơi nào hơn ở Việt Nam

Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam”

(Ta Lính Miền Nam)

Một Ngày Không Hành Quân tìm niềm vui bên ly rượu để nhớ đồng đội đã ra đi và với đối phương cũng rót rượu thương xót:

Cô hàng ơi cho một ly không

Tôi rót mời một người lính Bắc

Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật

Trên người vẫn còn sót lại bài thơ

Trên đồi cao, mây vẫn xanh lơ

Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng

Tôi với hắn, đâu có gì thống hận

Bài thơ nào cũng viết để yêu em”

Sau những năm làm lính Thám Kích với xác người, thây ma… với thương tích, tử sinh… thế mà Từ Biệt Núi Rừng vẫn còn mang theo hình ảnh:

Từ biệt núi rừng, vùng đất khổ

Những ngày bùn đỏ bám giày saut…

… Mà sao cứ nhớ chùm lan dại

Giữa bãi hoang tàn vẫn nở hoa

Thôi nhé, Trường Sơn xin bỏ lại

Ta về châu thổ lội qua Miên

Bỏ lại trên vai hòn núi nặng

Cho những bạn bè đồng đội anh em”.

Zoom

Tôi đang đánh máy một bài dịch của Nghiêm Sỹ Tuấn và Nguyễn Vĩnh Đức từ tiếng Đức nhan đề “Dưới mắt Thượng đế”, HINTER UNS STEHT NUR DER HERRGOTT của HANS KILLIAN . được đăng nhiều kỳ trên nguyệt san Tình Thương năm 1964, 1965, 1966. Vì mắt quá yếu, tôi phải dùng hai monitor khổ rât rộng để zoom. Google OCR đã giúp tôi rất nhiều trong việc chuyển từ graphic sang Word (xin nhớ là muốn chuyển phải upload file dưới dạng jpg đừng tiff).
IMG_0762

Đây là đoạn đánh máy khiến tay tôi phải run, tim như thổn thức, xúc động vô chừng khi tác giả nói về một người đàn bà bị phát hiện ung thư trầm trọng cần phải mổ gấp để hũy cái bào thai, hầu cứu người mẹ:.

“Bà ta cầu khẩn nhìn tôi :
– Không, không bao giờ ! Thưa giáo-sư, đứa bé không thuộc một mình tôi, mà còn của chồng tôi nữa. Không đời nào tôi chịu bỏ nó. Tôi muốn trao nó lại cho chồng tôi. Nó là TỜ DI-CHÚC của tôi, tôi biết lắm, tôi không thể sống được. Chính vì thế mà tôi xin giáo sư cho tôi được sống đến khi đưa béra đời. Vì nó mà tôi đến đây, chứ không phải vì tôi..

“Vì nó mà tôi đến đây, chứ không phải vì tôi.” Cai câu giải thích tại sao bà lại đến gặp bác sĩ, quả thật đáng suy nghĩ.

Nhưng mà chao ơi, người đàn bà ấy không biết là, có một điều mà vị bác sĩ của bà dấu bà:
“Thế-giới chungquanh chỉ tồn tại nếu hòa-điệu với di-sản tình yêu mà thiếu-phụ dành cho người chồng.
Lẽ dĩ-nhiên, tôi dấu không cho thiếu phụ biết là di-sản ấy có thể không bao giờ đến tay người thu-nhận. Không cho bà ta hay, tôi đã đi hỏi Nha Quân-Y, và còn giữ trong ô kéo một bức-thư riêng báo tôi biết đơn-vị của người chồng thiếu-phụ được coi như “mất tích trên chiến-tuyến miền Đông”.

Xin được cám ơn nguyệt san Tình Thương. Xin được cám ơn hai dịch giả. Đặc biệt là dịch giả Nghiêm Sỹ Tuấn. Một người rất uyên bác, thông thạo Đức Ngữ, một bác sĩ y khoa, tốt nghiệp năm 1965, ra trường tình nguyện chọn binh chủng nhảy dù để phục vụ và ít lâu sau tử trận tại Khe Sanh vào năm 1966.

Đó là lý do số tới, TQBT sẽ thực hiện chủ đề “Những người làm văn học nghệ thuật nằm xuống trong chiến tranh” đễ tưởng nhớ đến những người như bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn…

Số báo đến phát hành vào tháng 1-2019. Quí thân hữu nào muốn đóng góp, xin gởi bài về càng sơm càng tôt, nhưng phải trước 12/15 (phải là sáng tác mới, thể loại tự do, không cần hạp chủ đề)

Bảo vệ: MIỀN NAM những buổi trưa nắng vàng lực lưỡng, những đêm sao óng ánh đầy trời, những ngày mưa nhạc mùa thánh thót, những chiều gió thổi cho bà ba bay, những sớm sương đọng cho trái chĩu cành, miền Nam thật mới vì chưa thấy hết… (Mai Thảo: 15 năm – Khởi Hành 1969)

Nội dung này được bảo mật. Hãy nhập mật khẩu để xem tiếp: