DI SẢN VĂN CHUONG MIỀN NAM / sang tac bang huu / Sách báo hiếm

Khuất Đẩu:Đọc lại CÕI ĐÁ VÀNG Của Nguyễn Thị Thanh Sâm

(Đặc biệt của tạp chí Thư Quán Bản Thảo)

Nếu Trần Hoài Thư, người đã suốt bao nhiêu năm tìm lại trong đống tro tàn của trận phần thư sau 1975, những tác phẩm văn học của miền nam Việt Nam, không nhắc đọc tác phẩm đầu tay và duy nhất của một góa phụ một nách 5 con và nhất là không có mấy chữ anh đã nếm trải, thì chắc tôi đã không có được cái bồi hồi run rẩy khi viết những dòng dưới đây.

Một cái file đến những 400 trang, đọc tốc hành trên mạng, với một người lão hóa cả lưng, cả mắt như tôi quả là một việc không dễ. Lại càng không dễ khi tôi phải nếm lại cái chén đắng mà những người dân ở các vùng “tự do”liên khu Tư và khu Năm, đã phải nếm trải trong suốt 9 năm kháng chiến vừa thần thánh vừa dại khờ của dân tộc.

Người viết không phải để “tố cọng”, mà để tìm thấy anh trong Cõi Đá Vàng. Tìm lại bóng hình của người thương còn đọng lại trong thời gian đã mất bằng ngòi bút là một cách sống lại vừa lãng mạn vừa dũng cảm. Bỡi vì, khoảng thời gian không dễ quên ấy, ngoài những trận càn, những cuộc oanh tạc của giặc Pháp, còn có những cuộc thủ tiêu, thanh trừng của chính những người đồng đội. Còn có những trại tù bí mật trong rừng sâu mà mãi sau 75 người ta mới kinh hoàng nhận ra là có thực trên cõi đời. Viết lại những cảnh ấy, với một ngòi bút nam đã là khó, mà nữ càng khó hơn nếu không tìm thấy bóng dáng anh trong đó.

Tác giả sinh 1933, sống ở vùng xôi đậu xung quanh kinh thành Huế, đã tìm thấy trong những ngày nghẹt thở ấy, một nét đẹp lạ lùng như đôi mắt lé của nhân vật nữ tên Hiếu, người góa phụ hai con mà nhân vật chính Nguyễn Trần đã yêu đắm đuối, bất chấp sự ngăn cấm của đảng. Cái nét đẹp ấy là cái đẹp của đoàn binh không mọc tóc, đêm mơ Hà Nội đáng kiều thơm của Trần, của Huỳnh, của Lương, của Huyên…của những trí thức tiểu tư sản theo tiếng gọi của núi sông, tưởng đi theo những tráng sĩ oai hùng hóa ra là đi theo một lũ cướp.

Bằng ngòi bút hết sức tỉnh táo, bằng kinh nghiệm máu xương và những mất mát không gì bù đắp được, tác giả đã tái hiện lại những năm 49, 50 thế kỷ trước, những năm mà cọng sản trắng trợn cướp công của những người thực sự yêu nước, quy cho họ là phản động, là Việt gian.

Nguyễn Trần, một thanh niên 23 tuổi, thông minh, có tài viết văn làm thơ, được kết nạp đảng và được giao phụ trách tờ QĐND của tỉnh bộ Thừa Thiên, chỉ vì không đồng tình cách xử tử một cô gái có chồng Tây lén về quê thăm nhà bằng cách bắn tên tẩm thuốc độc, mà bị kiểm điểm. Khi Trần đưa đơn xin ra khỏi đảng, liền bị đưa đi cải tạo ở Bố Hạ. Sau cùng bị gài bẩy, tan xác khi cho đi thăm mộ vợ và con ở vùng giáp ranh đồn địch.

Huỳnh, không vào đảng, nhưng ngây thơ đề nghị ngưng thực hiện CCRĐ, ngưng đấu tố nên bị quy tội chống chính sách, bị cải tạo cùng với Trần. Lợi dụng bệnh tim của Huỳnh, cứ nửa đêm lại gọi lên tra hỏi, bắt viết kiểm điểm, khiến Huỳnh bị sốc mà chết.

Lương, đậu Tú tài, không làm việc cho Pháp, bỏ Huế về quê nuôi vịt, lấy vợ sinh con, tự nguyện làm một anh giáo làng dạy bình dân học vụ, nhưng vẫn không yên vì là con ông nghè, vì gia đình dòng họ còn ở Huế, vì con địa chủ nên bị bắt quy tội là Việt gian, bị xử tử.

Đó là ba mẫu người tiêu biểu cho lớp thanh niên trí thức bỏ tất cả để đi kháng chiến, mà kháng chiến chưa thành công đã bị thủ tiêu.

Nữ nhân vật chính tên Hiếu, lại càng ngây thơ hơn khi chịu cực khổ sống trong vùng “tự do” không chịu về thành để hai con được trông thấy và lớn lên trong cuộc kháng chiến, cuối cùng rơi xuống hố sâu, chỉ mang theo có mỗi cái thai hai tháng!

Đó là một thế hệ sục sôi lòng yêu nước, những người làm nên những chiến thắng Cao Bắc Lạng, Điện Biên Phủ lẫy lừng, nếu không bị thủ tiêu thì cũng sống còm cõi đói khát như Quang Dũng, Hữu Loan.

Là một cây bút nữ, nhưng tác giả rất bản lĩnh khi nhận định CS đã thừa hưởng cái khí thế bừng bừng lòng yêu nước của cả dân tộc được nuôi dưỡng từ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học. Chẳng những họ cướp được chính quyền năm 1945, mà còn cướp cả công lao của các bậc tiền bối. Ngọn cờ giành độc lập không phải họ giương lên mà chính các vị tiền bối ấy đã phất cao từ những cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Yên Bái.

Cho nên, nếu bạn là người sống ở các vùng “bị tạm chiếm” tức là ở Hà Nội, Sài Gòn và các thành phố khác thì đừng vội kết tội họ là những kẻ mê muội. Họ có đi theo CS đâu, họ đi theo ngọn cờ cách mạng đã tung bay từ lâu trong tâm hồn họ. Tác giả đã ví von CS ngon ngọt xảo trá như Sở Khanh và họ chính là những nàng Kiều tội nghiệp. Không chỉ có họ bị lừa mà cả dân tộc bị lừa. Cái quả lừa ấy tàn độc và tai hại như thế nào thì ngày nay chúng ta đã rõ.

Tác phẩm ra đời năm 1972 cùng lúc với mùa hè đỏ lửa, với hiệp định Paris, thật đáng tiếc là gây rất ít tiếng vang. Có lẽ lúc ấy người ta đang lo Mỹ rút về nước, đang tính chuyện giành dân lấn đất, chuyện bầu cử chứ không ngờ sẽ phải sống với CS. Người ta biết được những tội ác của CS ở Huế, ở Cai Lậy, chứ ít ai biết được thế nào là đấu tranh giai cấp, bị thải ra ngoài biên chế, bị đưa đi cải tạo mút mùa lệ thủy.

Nhà xuất bản An Tiêm vốn đã kín tiếng mà các nhà phê bình lại càng kín tiếng hơn. Chẳng có ngòi bút nào đả động đến, ngay cả những cây bút chống cọng như Võ Phiến. Một phần người ta cho rằng cái gì có dính dáng đến “tố cọng” là của chính quyền, là tuyên truyền, là không có tính nghệ thuật.

Nếu được PR một cách có bài bản thì tác phẩm Cõi Đá Vàng cũng đã có một chỗ đứng xứng đáng như Cúi Mặt của Bùi Đăng, được giải thưởng văn học và được quay thành phim.                .

Trong khi các cây bút nữ nếu không mê man với vòng tay học trò, nếu không ấm ức với mưa không ướt đất hay lặng nhìn tôi trên vách thì bắt đầu đòi nữ quyền bằng cách moi ra những cái xấu, những ham muốn thấp hèn của đàn ông, chứ chưa có ai dũng cảm phơi bày bộ mặt thật gian hiểm của CS cũng như đã nhìn thấy được cái đẹp của một đôi mắt lé, một cách nói độc đáo khi nói về nhân cách và tâm hồn của những con người trí thức đi theo ngọn cờ cách mạng. Ngọn cờ ấy không phải nền đỏ sao vàng, cũng không phải nền vàng ba sọc đỏ, mà là màu xanh của đồng lúa, màu nâu của đất mẹ và màu trắng của thanh bình.

Cò một điều mà nhiều người có lẽ phân vân tự hỏi khi gập lại cuốn sách, ấy là anh là ai, anh ở đâu mà chị đã đề từ: em tìm thấy anh trong Cõi Đá Vàng. Theo tôi, anh có thể là một phần của Trần, của Huỳnh và cũng có thể là của Lương. Một Trần theo kháng chiến mà vẫn nhớ tới bến đò Thừa Phủ, với những mái tóc thề, chiếc nón bài thơ, tà áo lụa và môi rất hồng. Là Trần khi bẻ một nhánh cây đắp lên thi thể lõa lồ của nữ “Việt gian”. Là Trần khi dám yêu một thiếu phụ nghèo, xấu xí dưới mắt mọi người nhưng rất đẹp với anh. Là Huỳnh với người yêu tên Lan trong mộng. Là Lương với mặc cảm nếu bỏ về thành sẽ bị coi như Việt gian. Có anh thì cũng phải có em trong đó. Em có thể là Thương, là Huyền, là Hiếu, rất nhân hậu, rất dịu dàng.

Hai chữ Kim Thạch, nơi người chồng bỏ mình vì một trái mìn, có nghĩa là đá vàng. Nhưng Cõi Đá Vàng lại có nghĩa là tình chồng nghĩa vợ. Không khóc than, không kể lể, người viết chỉ nói tới những cái xấu cái ác của CS để làm nổi bật tính cách cao đẹp của những con người thực sự yêu tổ quốc, yêu đồng bào trong đó có chồng và chính bản thân tác giả. Một gói ghém thật kín đáo, thật khiêm nhường nhưng xiết bao trân trọng. Đây là một bài thơ xuôi khóc chồng mà chỉ có những người góa phụ dũng cảm và đoan chính như tác giả mới viết được.

Tôi không có được cái may của họa sĩ Đinh Cường hay  nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, được quen biết vào ra ngôi nhà có hoa mimosa vàng của chị ở Đà Lạt. Nhưng qua tác phẩm Cõi Đá Vàng, tôi có thể hình dung một thiếu phụ đẹp dịu dàng, rất mực yêu chồng thương con. Ngôi nhà chìm trong sương mờ và trong phấn thông vàng ấy, đêm đêm khi các con đã yên giấc, một mình một bóng bên bàn viết, chị đã sống lại những tháng năm mà một củ khoai luộc với nước dưa cải ngon lạ lùng, hay trước những thố bồ câu tiềm ngon bổ đã quên mất không biết phải ăn như thế nào, những năm tháng ấy với những con người có thể là anh, là chú, là người yêu thầm lặng đã lần lượt hiện ra trên trang bản thảo, biến thành những nhân vật ngập tràn tình yêu thương.

Một Trần yêu một góa phụ mắt lé. Một Huỳnh yêu Lan trong mộng và Lan thực trong trại cải tạo. Bọn họ đã chết trong đói nghèo nhưng sống giàu có trong tình yêu. Dù đảng canh chừng, dù cái chết rình rập, họ vẫn yêu nhau với tất cả cung bậc buông thả của tình yêu. Đó chính là thông điệp gửi tới người đọc, rằng tình yêu vượt thoát lên trên tất cả, tình yêu chiến thắng cái ác và vĩnh viễn bất diệt.

Vậy nên, đừng xếp chị vào những nhà văn chống cọng mặc dù tác phẩm là một bản cáo trạng rất chân thực và sâu sắc, bỡi vì đứng trên đỉnh cao của tình yêu, chị nói tới cái Đẹp viết hoa của chính con Người.

Là người đã từng nếm trải chín năm kháng chiến, vị đắng  tưởng đã tan đi trong bộn bề nhọc nhằn của cuộc sống, tưởng đã chai lì cảm xúc sau 37 năm bắt buộc phải bám theo cái đuôi XHCN, không ngờ đọc Cõi Đá Vàng, tôi  vẫn không quên cái thuở ban đầu cay đắng ấy và thực sự ngậm ngùi cho số phận của những nhân vật trong truyện. Tôi xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu sắc cây bút đàn chị Nguyễn Thị Thanh Sâm, với một bút lực vững chải, một tầm nhìn nhân ái bao dung, đã khái quát được một giai đoạn lịch sử vừa hào hùng mà cũng vừa khờ khạo của dân tộc.

Tôi cũng xin được cảm ơn những người bạn Đinh Cường, Trần Hoài Thư và nhiều bạn khác đã làm sống lại một tác phẩm xứng đáng được sống, tưởng chừng đã bị thất lạc và chìm trong quên lãng.

Việt Nam

16/2/1912 

Bài cùng chủ đề:

Viết lúc 4 AM: Sau những bức tường là những cánh cửa không chịu mở…

Cuối cùng, chúng tôi vui lắm….

Viết lúc 4AM- Những người vác thập tự giá

Tủ sách Di sản văn chương miền Nam: Cõi đá vàng của Nguyễn thị Thanh Sâm


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s