TẢN MẠN

Đá

… Hôm ấy là trưa tháng 5 năm 1969. Đơn vị tôi bị phục kích. Người chết chồng lên nhau. Người bị thương như tôi thì chỉ biết nhìn lên một mặt trời chói chan hỏa diệm. Phải cố bò, cố trườn. Phải cố thoát. Không thể để cho bọn khốn nạn ấy bắt sống được. Giữa bãi trống của đỉnh đồi Kỳ Sơn, tôi trơ vơ trước những họng súng từ trên cao điểm.Rõ ràng địch thấy tôi, biết tôi còn sống. Và đạn nổ. Vậy mà lúc ấy, bên tôi, cách hai thước là một mỏm đá. Mỏm đá rộng chừng  ba gang tay, nổi lên lẻ loi. Tôi nhào đến nép thân vào đá. Đá chịu đau cho tôi. Đá chịu nạn cho tôi. Đá chịu chết cho tôi. Hàng trăm đầu  đạn sủi bọt khi chạm vào đá xẹt  lên những tia lửa như tia pháo bông…

Không phải cá nhân tôi  – một người lính – xem đá là ân nhân cứu độ, mà còn có  một người khác – người tù. Trong truyện dài Cõi Đá Vàng của nhà văn Nguyễn thị Thanh Sâm, tác giả đã dành nhiều trang để ca ngợi đá.

Xin được trích đăng lại.

…Từ khi anh đến đây, qua những thủ tục đầu tiên, những trận đòn chí tử, những cơn chết đi sống lại, bây giờ người ta bằng lòng cho anh sống để xét mình và sám hối.  Người ta đưa anh ra góc rừng chỉ cho anh một phiến đá, mỗi buổi chiều sau một ngày làm việc lao nhọc trong rừng, anh phải đến ngồi trên phiến đá đó nhìn đăm đăm về phía mặt trời sắp lặn để kiểm điểm lại những tội lỗi của mình đã phạm đối với nhân dân, với Tổ quốc bởi vì anh đã hành động trái với chính nghĩa.  Từ đây anh sẽ ngồi ở đó chiều này qua chiều khác cho đến khi nào anh giác ngộ, thấy rõ được sự lầm lỗi của anh, ăn năn hối cải viết tờ kiểm thảo thú nhận sự phản bội của mình.

rock CDV

Phiến đá của anh nó mòn trơn nhẵn bóng, gần như lên nước em ạ, phải nhìn thấy nó tận mắt thì mới được.  Những bạn tù của anh đều có mỗi người một phiến đá như vậy, chúng nó đều giống nhau đến ngộ nghĩnh, mặc cho hình thù vóc vạc to nhỏ tròn dài có khác nhau.  Có lẽ vì nó vốn chân phương là đá.  Hồi nhỏ anh đã yêu đá vô cùng, con sông Rù Rì nhỏ bé chạy vắt qua cánh đồng của quê anh, anh còn nhớ cứ hễ mùa mưa đến đá mất tăm mất tích, nhưng khi đến mùa nắng, nước sông rút cạn là đá lũ lượt trồi lên.

Ngày còn bé anh thường ra sông chơi, lũ đá lớn đá bé quen thuộc với anh biết bao, mỗi phiến đều có một tiểu sử oanh liệt và chúng đều lần lượt kể lại cho anh nghe, bằng lối nói chuyện riêng của đá.

Hỏi có chi tuyệt vời cho bằng dĩ vãng của đá?  Hỏi có chi gây xúc động sâu xa cho bằng biết từ đỉnh non nào đá đã từ đó lang thang qua biết ngàn vạn năm nào để đến tận lòng sông của quê hương anh, để cùng một đứa bé trai ngây dại là anh nô đùa với nhau qua những mùa hạ biếc.

Em biết không, khi mùa mưa tới, mực nước dâng cao, đá lặng lẽ nằm yên trong lòng nước, đã có lần nhớ quá, anh lặn xuống thăm đá, anh bơi chuyền từ phiến này qua phiến khác, sờ mó vuốt ve từng phiến, trong bóng sáng lờ mờ long lanh của lòng sông quê hương anh, đá và anh đã cho nhau những giây phút thần tiên diễm ảo tuyệt vời.

Anh lớn lên, say mê những chân trời mới lạ, mỏi mê theo đuổi hào quang không tưởng của cuộc đời, quên bẵng mất những người bạn lặng lẽ của thời thơ ấu.  Có ngờ đâu đến ngày nay, khi nước non chưa tàn cuộc, khi đã thành kẻ bị bỏ rơi ở xó rừng tù tội này, đá vẫn một lòng chung thủy có mặt bên anh, khi anh đã trắng tay, người bạn xưa lại đến với anh.  Lạ một điều là anh chỉ tìm lại mối tình đá xưa kia khi lòng anh đã hoàn toàn thanh thản như đứa bé ngày xưa chưa biết âu lo chi đến cuộc đời.

Phiến đá của anh bây giờ cho anh biết thật nhiều điều bí ẩn và nó biết trấn an anh một cách thần tình em ạ.  Nó nói với anh về những người đã ngồi đây trước anh, về mặt trời mỗi chiều lặn dần sau rặng núi phương Tây kia, về sự câm nín vĩ đại của vô cùng.  Dần dà nó biến nỗi khắc khoải đau thương trong anh trở thành mối hân hoan mới mẻ kỳ lạ.

Những cán bộ phụ trách cái Trung tâm Cải hối Tây Hạ này họ sành kỹ thuật tâm lý lắm em ạ, họ biết rõ tác dụng của cái cảnh mặt trời sắp lặn, bóng tối rình rập úp chụp xuống thân phận con người, cái cảnh thê lương của gió núi mây ngàn khi hoàng hôn xuống, những kẻ bị giam cầm rồi cũng đến buông xuôi tất cả, cam tâm đầu hàng số phận trong tâm trạng “nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” này.

Riêng anh, nhờ nghe được lời của đá, cho nên anh hiểu được ý nghĩa chân xác của mặt trời buổi chiều vàng vọt lặn xuống phương Tây để sớm mai lại mọc lên rực rỡ từ phương Đông như thế nào.

Từ đó anh biết rằng bình minh lộng lẫy cũng như tà huy ảm đạm, nỗi vui sướng cũng như niềm đau khổ, mọi thứ đều dàn trải ra đó, đều có sẵn ở đó, nhưng tất cả chỉ là hư vô, tất cả đều chỉ có vẻ có thật khi có mặt của con người.

Không có con người tất cả đều trở thành vô nghĩa, vậy thì chính con người thật quý hóa biết bao, em ơi, đá khôn ngoan đã dạy anh như thế, nhờ đó anh yêu sự sống vô cùng, anh không còn mỏi mê chán chường nữa, lòng anh bừng lên một niềm ham sống vô bờ.  Lạ lùng thay, chưa bao giờ anh cảm thấy tự do như lúc này, những buồn thương giận ghét thường tình không còn ràng buộc anh được nữa.  Trước kia anh luôn luôn bị dằn vặt ray rứt, những đau đớn âu lo đầy rẫy trong cuộc đời vây hãm lấy anh, có lúc làm cho anh không còn nhớ ra em nữa.  Bây giờ thì anh rảnh rang, chúng ta bắt đầu lại tất cả nghe em.  Nay anh chặt cây đã thạo không khác một tiều phu.  Anh làm việc quần quật từ sáng tinh sương cho đến xế chiều không có thì giờ nghĩ ngợi lôi thôi nữa.  Ấy cũng hay, cái chính sách lao động nó cũng được việc đấy em ạ.

Em, bây giờ ý nghĩa duy nhất của cuộc đời đối với anh là, miễn là anh còn sống, miễn là một ngày nào đó anh sẽ trở về được với em.  Phép lạ sẽ xảy ra khi anh tìm lại được em, anh sẽ đưa em trở về giòng sông khô cạn của quê anh, sẽ giới thiệu với em từng viên đá của thiên đường tuổi thơ, sẽ cùng em trở lại góc rừng u tối này, sẽ chỉ cho em phiến đá bầu bạn, phiến đá ân nhân của những tháng ngày đau thương tù tội.

Mai sau các con của chúng ta sẽ truy nguyên từ phiến đá này, xây lên đền đài kỷ niệm, sẽ biến góc rừng Tây Hạ này thành chốn danh lam, những máu thịt vô danh vung vãi trên mảnh đất tù này sẽ về nguồn về cội.

Em ơi, mai sau những vết thương xưa sẽ liền da liền thịt, vì chúng mình đã tìm lại được nhau, anh sẽ làm thơ ca tụng nhan sắc em như tự bao giờ.”

(trích Cõi Đá Vàng , An Tiêm xuất bản năm  1971, Thư Ấn Quán tái bản 2012 từ  trang 279-281)