DI SẢN VĂN CHUONG MIỀN NAM / Dương Nghiễm Mậu / TẠP CHI THU QUAN BẢN THAO

Tạp chí TQBT số 55 chủ đề nhà văn Dương Nghiễm Mậu

Theo báo Người Việt, Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, một trong các tác giả nổi tiếng nhất miền Nam Việt Nam, vừa qua đời lúc 8 giờ 35 phút tối Thứ Ba, 2 Tháng Tám, tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi, nhà báo Phí Ích Bành, em ruột của nhà văn xác nhận với nhật báo Người Việt.

Chúng tôi xin post lại tạp chí TQBT số 55 tháng 1-2013 chủ đề nhà văn Dương Nghiễm Mậu như là nén hương lòng của anh em chúng tôi đối với một nhà văn lớn – từ nhân cách đến ngòi bút –  mặc dù thuộc thế hệ đàn anh của chúng tôi nhưng ngòi viết của ông rất là gần gũi với thế hệ chúng tôi.

Bia DNM

 

 

Phần chủ đề:

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu

thu but dnm

Thủ bút của nhà văn DNM

 Lời tòa soạn

 Nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã để lại cho văn học miền Nam một gia tài đồ sộ: 21 tác phẩm, và có lẽ nhiều rất nhiều bài văn chưa kịp xuất bản đã đăng trên các tạp chí miền Nam trước 1975.
Bởi vậy việc chọn bài tiêu biểu để đăng lại trên TQBT quả là một việc hết sức khó khăn cho chúng tôi. 

Sau đây là những lý do về những bài chúng tôi chọn để đăng lại trong phần trích văn DNM:

  1. Kinh Kha, con chủy thủ và đất Tần bất trắc. Đây là một truyện trong tập truyện Nhan Sắc, được xuất bản trước 1975 (nhà xb An Tiêm 1966) và được tái bản sau 1975 (Nhà xb Văn Nghệ 2007) với một đoạn bị cắt xén. Bài chúng tôi đăng là bản gốc toàn vẹn được đăng trên tạp chí Văn (số 58 ngày 15/5/1966). Chúng tôi không rõ bài này có thay đổi gì không khi An Tiêm xuất bản vì chúng tôi không có tài liệu để tham khảo.
  2. Niềm đau nhức của khoảng trống, nhằm bổ túc tài liệu cho bài viết của giáo sư Nguyễn văn Trung và nhà văn Trần văn Nam.
  3. Tiếng sáo người em út, nhằm bổ túc tài liệu cho bài “đọc và bình” của Khuất Đẩu. Đây cũng là truyện ngắn cuối cùng của DNM được viết trước năm 1975.

Bốn bài bút ký được viết về ba biến cố lịch sử của miền Nam: 1) Thời Phật giáo tranh đấu, Nhất Linh tự tử. 2) Mùa hè năm 1972. và 3/ Bài viết trên báo Thời Tập số cuối cùng (tháng 4.1975).

Chúng tôi tin rằng những bài bút ký này rất hiếm quí, không thể tìm ở trên NET.

  1. Một bút ký quan trọng khác không kém, được Văn Xã xuất bản vào năm 1969 là Địa Ngục Có Thật. Một số chương của bút ký được đăng rời rạc trên tạp chí Văn. Chúng tôi đã sưu tầm, đánh máy và tái bản, để kèm theo kỳ phát hành này như là ấn bản đặc biệt.

dnm.jpg

Tiểu sử

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa (quê ngoại  làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn .

Từ 1957 trở đi viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Tiểu thuyết đầu tay Đầy tuổi tôi đăng trên tạp chí Văn Nghệ từ số 2, tháng 3/1961 (sau in thành sách đổi tên là Tuổi nước độc, Văn, 1966), truyện ngắn Cũng đành in lần đầu trên báo Tân Phong của Trương Bảo Sơn; truyện ngắn Rượu chưa đủ, trên Sáng Tạo (bộ cũ, số 28-29 tháng 1-2/1959) đã xác định phong cách văn chương Dương Nghiễm Mậu. Từ 1962, làm tạp chí Văn Nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Tin Sáng, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Điểm, Chính Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ, Sóng Thần… Tập truyện ngắn đầu tay Cũng đành do tạp chí Văn Nghệ xuất bản năm 1963. Truyện dài Gia tài người mẹ (Văn Nghệ, 1964), được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (miền Nam), 1966.

1966 nhập ngũ. Từ 1967 làm phóng viên quân đội đến 30/4/1975. Lập gia đình năm 1971, với cô Hồ Thị Ngọc Trang, giảng viên Anh ngữ. Sau 30/4/1975 bị bắt giam. 1977 đươc tạm tha. Từ 1977, học nghề sơn mài và sống bằng nghề này tại Sài Gòn.

Tác phẩm đã in:

Truyện ngắn: Cũng đành (Tạp chí Văn Nghệ, Sài Gòn, 1963), Đêm (Giao Điểm, 1965), Đôi mắt trên trời (Giao Điểm, 1966), Sợi tóc tìm thấy (Những tác phẩm hay, 1966), Nhan sắc (An Tiêm, 1966), Kinh cầu nguyện (Văn Xã, 1967), Ngã đạn (Tân Văn, 1970), Cái chết của… (Văn Xã, Sài Gòn, 71; An Tiêm, tái bản, Paris, 2001)…

Truyện dài: Gia tài người mẹ (Tạp chí Văn Nghệ, 1964), Đêm tóc rối (Thời Mới, 1965), Tuổi nước độc (Văn, 1966), Phấn đấu (Văn, 1966), Ngày lạ mặt (Giao Điểm, 1967), Gào thét (Văn Uyển, 1969), Con sâu (Sống Mới, Hoa Kỳ, không đề năm)…

Những tác phẩm khác: Địa ngục có thật (bút ký, Văn Xã, 1969), Quê người (Văn Xã, 1970), Trong hoang vu, Tên bất lực, Kẻ sống đã chết, v.v…

Nguồn: http://thuykhue.free.fr/stt/d/dnmau01.html

 

PHẦN I
(NHIỀU NGƯỜI VIẾT)

 

Trần Hoài Thư

Đi tìm Địa ngục có thật

BIA DNCT

 

Từ một nỗi tha thiết ao ước của người bạn văn cùng thời, khi ngỏ ý được thấy Thư Quán Bản Thảo sưu tập lại truyện ngắn Kinh Kha, con chủy thủ và đất Tần bất trắc cũng như tập bút ký Địa Ngục Có Thật của Dương Nghiễm Mậu, tôi lại lên đường. Lần này thay vì Cornell, hướng Tây Bắc, nay là Yale hướng Đông Bắc. Qua Google, tôi được biết cả hai thư viện này đều lưu trữ Địa Ngục Có Thật. Nhưng kỳ này tôi chọn Yale vì Yale cách nhà tôi chỉ khoảng 3 giờ đồng hồ lái xe. Trong khi Cornell phải mất 5 tiếng.

Lên đường kỳ này dù lòng hăm hở nhưng tấm thân không hăm hở chút nào. Tôi đã bước vào tuổi 70, chứ không còn trẻ để có thể nhấn bàn đạp gia tốc. Tuổi tôi bây giờ là: Đi về biết chở gì theo/ Chở theo vạt nắng trên đèo vào xe. Chứ không phải no nê cùng trời mây sông núi. Thị lực mắt kém rõ. Thêm Gout hết hành chân trái qua chân phải, hết bàn chân lên đầu gối. Bởi cái tính vẫn còn khoái khẩu của mình, đau thì kiêng cữ, hết đau thì xả láng bất cần. 

Thời tiết đầu tháng 12, hôm nay có vẻ lý tưởng. Khoảng 60 độ F, một nhiệt độ rất hiếm hoi trong tháng cuối năm dương lịch này. Chiếc xe theo xa lộ, phóng hai ngọn đèn giữa trùng trùng điệp điệp đôi mắt sáng lóa xuôi ngược trên một tuyến đường được tiếng là bận rộn nhất của tiểu bang. May mắn lần này, Gout chỉ hành chân trái, lúc này nó được yên nghỉ trong khi cái chân phải thì miệt mài nhấn hoặc giảm bàn đạp gia tốc hay thắng phanh.

Sau ba tiếng đồng hồ, chỉ dừng một trạm nghỉ, gọi cốc cà phê, rồi đi ngay. Trời đã sáng. Xa lộ 95 quen thuộc dạo nào, lần lượt lùi dần, để nhường lại cho con đường College. Nó sẽ dẫn vào khu đại học Yale, với những tòa nhà được xây theo kiểu kiến trúc La Hy.

Sau khi đóng tiền làm thẻ thư viện, ($35) chỉ hiệu lực cho một tuần lễ, tôi nhấn nút cho thang máy lên tận lầu 4. Cả tầng lầu tối om, tôi mò mẫm bật contact điện. Lần mò đến kệ để sách. Nhưng tìm hoài tìm mãi không ra Địa Ngục Có Thật.

Làm sao diễn tả được nỗi buồn của tôi trong lúc này. Có những điều không thể ngờ, nhưng chúng vẫn xảy ra. Tôi xuống quầy phụ trách ở lobby hỏi. Và được biết sách hiện ở tại một thành phố khác. Có người mượn và giao ở một thư viện khác. Chưa hoàn trả về thư viện chánh.

Thôi thì đành trở về. Uổng công, uổng sức, phí tiền, phí bạc vô ích.

Có lẽ tôi sẽ bỏ cuộc. Sẽ không làm ấn bản đặc biệt như dự định nữa. Tôi chẳng có nợ với ai hết. Ngay cả đối với văn chương miền Nam. Ngay cả đối với nhà văn Dương Nghiễm Mậu mà tôi ngưỡng mộ về văn tài cũng như khí phách của ông.

Vậy mà tôi buồn đến rưng rưng. Khi trở về, xe bị kẹt vì một đoạn đường dài bị sửa. Xe nối đuôi xe bò nhích cả mấy dặm.

Hai ngày sau, tôi nhận được email của thư viện Yale cho hay là Địa Ngục Có Thật đã đến thư viện. Email còn cho biết chỉ ưu tiên dành cho tôi 10 ngày.

Sau ngày đó, họ không bảo đảm có sách nếu tôi muốn mượn.

Như vậy, dù muốn dù không, lại thêm một lần nữa lên đường. Lại hai ngọn đèn lẫn vào muôn vàn ánh đèn chiếu sáng, tôi cố mở căng đôi mắt. Lại chiếc xe tôi lạc vào giòng thác cuồn cuộn của xe cộ trên xa lộ Garden State Parkway, và 95. Lại một biển âm động cuồng nộ với những ánh đèn pha chói sáng khi chiếc xe tôi chạy chậm. Lẽ phải và ánh sáng. Địa ngục có thật. Cuốn bút ký có một không hai viết về Tết Mậu Thân ở Huế. Chẳng lẽ để nó ngủ quên im lìm trong một kệ ngăn nào đó của Yale hay sao?

Tôi đến Yale để mở lại ánh điện trong một tầng thư viện tối om, mò mẫm tìm lại cuốn sách mình mong đợi, hay ngồi bệt trên nền, mở từng cuốn tạp chí Văn, Văn Học, Sáng Tạo, Bách Khoa, Văn Nghệ… Tội nghiệp, những trang giấy của một thời ta muốn yêu ai thì cứ bảo là yêu, ghét ai ta cứ bảo là ghét… Không phải chỉ đọc, mà mang xuống lầu, để chụp lại từng trang bài mình cần giữ. Rồi mang về nhà, đánh máy, layout… Có khi thiếu một trang, ngủ không yên, lại lái xe làm thêm một chuyến…

Đó là cách tôi trả ơn đối với một nhà văn mà tôi ngưỡng phục.

Về lẽ phải và sự thật mà ông đã để lại cho văn chương miền Nam. Và về cách thế sống của ông sau 1975: khi ông quyết định tự chọn cho mình chiếc thập tự giá.
Trần Hoài Thư

 

DƯƠNG NGHIỄM MẬU và TỦ ĐỰNG SÁCH RỖNG KHÔNG

Tùy bút của Khuất Đẩu

Viết về Dương Nghiễm Mậu, trước đây, bây giờ và mai sau, nhiều người đã viết, đang viết và sẽ viết. Có nghĩa rằng, dù Vũ Hạnh muốn những đứa con tinh thần của anh “an giấc ngàn thu” [1] qua những trận phần thư sau 75, nhưng chúng vẫn không chết.

Trong một bài trả lời về việc Vũ Hạnh phản đối nhà xuất bản Phương Nam đã tái bản 4 tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, Phạm Xuân Nguyên hiện là chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội, đã nhắc khéo người mang tên “thằng gù ở bên hông nhà thờ Đức Bà” rằng, trong tự điển văn học do miền Bắc xuất bản, đã không thể không ghi tên Dương Nghiễm Mậu và dành riêng 4 trang để viết về thân thế và sự nghiệp sáng tác của tác giả.

Cái mà Vũ Hạnh vừa soi mói vừa mỉa mai gọi là dòng chảy âm thầm đó, tức là văn học miền Nam trước 75, thực sự là một dòng sông lớn vẫn miệt mài xuôi chảy không ngừng về đại dương văn học của dân tộc.

Vũ Hạnh chỉ còn là một tên biệt kích già, (chính ông ta nằm vùng ở miền Nam làm biệt kích văn hóa), sau khi chỉ điểm để đưa hàng loạt nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng vào chốn lao tù vẫn không được đảng cho nắm giữ chức gì, bị bỏ rơi như một con mèo ốm, nhân cơ hội tái bản sách của Dương Nghiễm Mậu liền meo meo cho mọi người biết rằng hãy còn có “ta” đang hấp hối trong đống rác của lịch sử.

Trước sự ồn ào thù hận không vì giai cấp mà vì ganh tài, nhà văn một thời thao thức đi tìm con đường dấn thân, “của người trí thức, người sĩ phu trước một hiện tại lịch sử, hành động hay không hành động, hành động vì cái gì, hành động theo hướng nào”, [2] anh chỉ mỉm cười.

Có người bảo đó là nụ cười an nhiên vì tin ở mình, có người bảo đã đến chỗ tĩnh lặng của chữ Thiền.

Tôi, thì tôi không nghĩ như vậy. Ai mà không đau xót khi thấy những đứa con tinh thần của mình bị vùi dập không thương tiếc. Không chừng nụ cười đó chính là tiếng khóc khô không lệ, như Xuân Diệu từng viết.

Tôi được một lần đến thăm anh cùng với Lữ Kiều.

Chỗ tiếp khách chỉ có mấy chiếc ghế, một cái bàn con và một cái tủ rỗng. Một cái tủ trong ngôi nhà trống tềnh toàng, rộng hơn một thước cao hơn hai thước, không ngăn kệ, không cửa nẻo với 5 mảnh ván cũ xỉn đóng khung cái không gian lạnh lẽo như trong một cái áo quan. Cái tủ ấy đã từng chất đầy sách của chính anh trước tác, của bạn bè và đương nhiên là của các nhà văn lớn đông tây kim cổ. Trước tôi, Trần Vũ một lần ghé thăm anh có viết về cái tủ sách không có sách ấy. Nó là chứng tích của một thời phần thư ô nhục, mà cái chế độ lớn tiếng tự xưng là ưu việt này gây nên.

Không chỉ riêng anh, ở miền Nam này, nhà nào cũng có một tủ sách bị hốt sạch như thế. Nhưng rồi, người ta tìm cách lấp đầy khi cái cơn cuồng nộ ngu muội kia qua đi. Đó là chưa nói tới những tủ sách ở miền Bắc được thay dần toàn những thứ “phản động, đồi trụy”. Việc săn lùng sách miền Nam đã trở thành một mốt mới, một thức tỉnh của những người lâu nay khát gió thèm mây, trong số đó đương nhiên là những nhà văn nhà thơ cuối đời nhận ra những gì mình viết chỉ là một tấm bia mộ, như Nguyễn Khải.

Nhưng với anh, tủ vẫn để trống không, vẫn như một cái huyệt mộ. Tôi tưởng tượng, những đêm mất ngủ, bên tách trà, một mình anh với cái tủ, không biết anh đã nói những gì với nó. Một lời xin lỗi hay một cái nháy mắt rằng, cái ngày ấy không còn xa!

Cái tủ rỗng không ấy, mới nhìn thì thật vô duyên, nhưng ngắm kỹ thì lại hóa hay. Nó như một con mắt trừng trừng nhìn vào quá khứ dù đã bị móc mắt. Nó còn là vết xăm lên trán một nhà văn. Nó cũng còn là một thách đố thầm lặng, là chiếc áo quan mở sẵn để chờ khâm liệm cái thây ma nô dịch kia.

Còn một điều này nữa, khi đứng dậy ra về, tôi nhận ra trên chiếc ghế sơn mài mình vừa ngồi là khuôn mặt cách điệu của một trong những kẻ gieo tai ách lên đất nước này. Sơn mài là một nghề kiếm cơm của anh sau 75, khi được cụ Nguyễn Gia Trí chỉ vẽ cho một vài thủ thuật. Anh đã tỉ mẩn đem những khuôn mặt của quỷ bày lên đó cho mọi người đặt đít ngồi xuống.

Hóa ra anh lại còn thâm hơn các cụ thâm nho ngày xưa.

Khuất Đẩu

29/11/2012

 [1] Chữ dùng của Vũ Hạnh
[2] Phạm Xuân Nguyên

 


 

 

 

Trong quán cà phê,
với Dương Nghiễm Mậu

 Nguyễn Xuân Thiệp

 

Sáng nay (22 tháng 5. 2010), trời nhiều mây và nắng yếu, lòng bâng khuâng tưởng nhớ xa xôi. Không phải nhớ người bên cầu như Lục Du đâu mà nhớ bạn. Bèn ra cà phê Starbucks ngồi, rồi gọi điện cho Nguyễn Xuân Hoàng nói chuyện chơi. Thế nhưng bạn đã không có ở đầu dây. Ngồi buồn, uống hết ly cappuccino, bèn đứng dậy ra xe về nhà. Ngừng xe, xuống mở thùng thư check mail thì gặp một phong bì lớn, do Đinh Cường gởi đến. Mở ra xem, thấy một tài liệu Dương Nghiễm Mậu viết về các bạn văn – như Thanh Tâm Tuyền và bè bạn, trước khi có tờ Sáng Tạo. Kèm theo là cuốn sách cũng của Dương Nghiệm Mậu do Văn Mới xuất bản 2009 – Lênh Đênh Qua Cửa Thần Phù. Nghĩa là hình ảnh DNM tràn ngập. Trông Nghiễm vẫn chưa già cho dù đã vào hàng “xưa nay hiếm”. Nguyễn nghĩ về bạn dưới trời xưa, và rồi những hồi ức chợt hiện về.

Cũng chưa lâu lắm, ấy là vào dạo Tháng Tư 2007. Qua tin báo, Nguyễn được biết Dương Nghiễm Mậu vừa cho in lại 4 cuốn sách (trong đó có Nhan Sắc) bán rất chạy, đồng thời gây xôn xao dư luận. Hỏi cô em ở Sài Gòn về chuyện này được cô kể lại như sau: “Em có gọi điện báo tin cho tác giả là trên báo Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh, số ra ngày 5-4 có đăng bài phê phán nặng nề của cô Lê Anh Đào (dạy ở trường Trần Văn Ơn, Quận I) nhân đọc truyện Từ Hải Và Cuộc Phiêu Lưu Của Đời Chàng trong tập Nhan Sắc. Cô Đào cho rằng ông Dương đã thú vật hóa con người và lưu manh hóa hình tượng văn học cổ điển của dân tộc”. Cô viết: “Tôi thực sự bị sốc. Sao tác giả lại độc đến thế. Không biết những bạn đọc từng yêu mến Truyện Kiều có cảm thấy bị xúc phạm như tôi không. Tôi sẽ dạy các em cấp hai của tôi về Truyện Kiều thế nào đây nếu các em đọc Dương Nghiễm Mậu? Thú vật hóa, lưu manh hóa… vậy tác giả là người gì? Văn học Sài Gòn trước 75 là thế này đây sao?”

Đọc những lời viết của cô Lê Anh Đào, Nguyễn có mấy ý nghĩ sau đây: Một, cô Đào thiếu hiểu biết và đọc quá ít (hình như cô chưa đọc Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Hà, Phạm Thị Hải Anh – Hải Anh cũng viết về Nguyễn Du, Kim Trọng, Thúy Vân, Thúy Kiều đấy, mà viết khá ly kỳ, cô Đào đọc đi rồi phê phán. Hai, cô dùng từ quá nặng nề thô lỗ để nói với nhà văn, và hình như cô có ác cảm đối với nền văn nghệ trước 1975 nói chung, nên mới hậm hực chửi rủa, phỉ báng. Là cô giáo mà cô ăn nói như thế sao, cô Đào? Hay cô nhận lệnh của một tên cán bộ văn hóa ác ôn nào đó để viết?

Thật ra, giọng điệu của cô Lê Anh Đào hoàn toàn trái ngược với những lời giới thiệu của Chi Mai trên E-văn. Con người ta khi cầm bút ít ra cũng phải tỏ là mình có học chứ. Chi Mai viết với sự hiểu biết nghiêm chỉnh:

“Là một nhà văn nổi tiếng ở miền Nam trước 1975, Dương Nghiễm Mậu sáng tác nhiều và gây được ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả. Công ty văn hóa Phương Nam vừa tái phát hành 4 tập truyện ngắn hay của ông: ‘Đôi mắt trên trời’, ‘Cũng đành’, ‘Tiếng sáo người em út’ ‘Nhan sắc’.

Dương Nghiễm Mậu sinh ngày 19/11/1936. Tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh tại làng Mậu Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). Ban đầu, ông viết đoản văn, tùy bút cho phụ trương văn nghệ học sinh của các báo chuyên nghiệp. Năm 1954 vào Nam. Từ năm 1957 viết nhiều: tạp văn, tùy bút, truyện ngắn, truyện dài… Năm 1962, ông chủ trương tạp chí Văn Nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho Sáng Tạo, Tia Sáng, Văn Học… Sau đó, ông chuyển sang ngành vẽ tranh sơn mài từ năm 1977 đến nay.

“Từ điển văn học của NXB Thế Giới nhận xét: “… (Dương Nghiễm Mậu) là một trong những nhà văn Việt Nam thế hệ 60-70 đã đào rất sâu vào bản chất của cuộc hiện sinh con người… Ông đứng riêng một cõi, dường như không có bạn đồng hành, và đã tạo được một lối cấu trúc về truyện ngắn, truyện dài nằm trong nhân sinh quan bao quát của triết học hiện sinh và vô thần…”

Ông Nghiễm ơi, Nguyễn thương ông và quý ông. Nhớ khi Nguyễn rời Việt Nam đi có gửi lại ông một tập thơ mỏng Như Một Lời Chia Tay. Mấy năm sau, ông gửi một cái thư cho Nguyễn Trung Dũng mà cẩn thận gửi vòng qua Úc châu, trong đó có nhắc tới tập thơ của Nguyễn với một câu than ngậm ngùi: Thơ thì còn đây mà người biết bao giờ mới gặp, hay chẳng bao giờ nữa…

Ông Nghiễm à, nghe những tin tức về các cuốn sách của ông, lại được nhìn ảnh chụp bìa sách, Nguyễn rất muốn được cùng ông tới một quán cà phê nào đó, Vô Thường chẳng hạn. Ở đó, ta vừa uống cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc”, vừa chuyện trò nắng mưa trên trời dưới đất, thỉnh thoảng lật sách ra xem, đọc chơi vài đoạn. Thú lắm, phải không ông Nghiễm. Nhưng Nguyễn ở xa như thế này, lại ngại sấm sét cuồng phong ở bên kia biển, thì làm sao mà bảo là về để uống cà phê với nhau. Ôi, thèm chết đi được. Thôi đành tưởng tượng Nguyễn là cô Như Thị để được ngồi cùng nhau trong một quán đắng vầy cuộc văn chương. Đây, lời kể của nàng Như Thị:

“Nghe và đọc hết một lượt các bài góp ý, phê bình hiện tượng tái bản sách của các nhà văn trước 75, mà cụ thể của Dương Nghiễm Mậu, tôi nhấc điện thoại “Bố ơi, người ta mắng bố ghê quá. Con sợ…” Bên kia đầu dây, giọng đàn ông trẻ trung, đầm ấm Không sao, toàn bàn cái bên lề, có gì mà sợ. “Giọng điệu vậy mà bảo không sao. Con lên chở bố đi cà phê, thấy thực sự bố “không sao” mới tin.” Ừ thì lên! Chỗ cũ ấy, nhớ không?

“Chỗ cũ ấy” là một quán cà phê khá thanh nhã, thoáng mát và rộng rãi – nơi tôi gặp nhà văn Dương Nghiễm Mậu lần đầu, mấy năm trước, nhờ một duyên khởi từ nửa vòng trái đất bên kia. Tôi gọi ông là “Bố” tự nhiên, căn cứ vào chênh lệch tuổi tác và cả quê chung Hoài Đức – Hà Đông của “hai bố con”. Đôi khi tôi gọi ông là thầy, căn cứ vào tư cách và tri thức, tài hoa nghề nghiệp. Ngoài ra, đôi khi cũng gọi anh, vì vẻ mặt trẻ trung, phong thái duyên dáng khi nâng tách cà phê, châm điếu thuốc Con Mèo nhả khói, nhẹ nhàng chia sẻ với người đối thoại những hồi ức viết lách một thời…

“Tôi gọi Bố, Thầy, Anh và xưng Con xưng Em thoải mái. Nhà văn như cái rây, lọc tất cả ngôn từ của tôi, dễ dàng chấp nhận, không ngạc nhiên, xúc động. Chưa bao giờ hỏi tôi là ai, ở đâu, tại sao, làm gì mà lại… Trong câu chuyện hào hứng, bố rõ ràng đang đi lại con đường thời trẻ, thăm những ga xép đìu hiu từ lâu vắng bóng con tàu, những dãy phố ọp ẹp, những căn nhà trọ tạm bợ, gặp những chị phụ nữ gầy ốm bế đứa con khóc ngằn ngặt, những anh giáo dạy tư sắp mất việc, những đứa trẻ con nhà vợ lẽ, lớn lên như lau trắng xác xơ… Con đường bố đi có tiếng bom đạn vô hình, có cái chết và sự buồn rầu lặng ngắt. Mỗi cột cây số trên đường là một tập truyện ngắn, truyện dài. Bố nhớ kỹ từng câu thoại, từng đoạn kết truyện. Nhớ nhưng mắt không buồn. Chân bước đều, vừa dắt tôi vừa chỉ trỏ, cắt nghĩa. Tôi đi bên bố, trở lại là đứa nhỏ mười mấy tuổi, trước tết Mậu Thân hai năm. Mắt tôi thấy lại xa lộ Biên Hòa, đoạn khỏi ngã ba Vũng Tàu. Bên kia xa lộ là căn cứ Long Bình của Mỹ với hàng hàng lớp lớp dây kẽm gai, bốt gác cao ngất, hầm hố, súng đạn, bãi trực thăng, xe jeep và những chú G.I  da đỏ như gà chọi, mặc áo trận bốn túi, nhai chewing gum. Bên này xa lộ là thị trấn Tam Hiệp, khu Gia Viên, Chợ Sặt – Hố Nai. Bao nhiêu bãi rác Mỹ, chợ trời, bar rượu và những túp lều ghẻ lở đứng liêu xiêu. Bao nhiêu người nghèo sống chung với rác và đàn chuột, chó hoang, mèo hoang… Hệt như truyện của bố. Tôi buột câu hỏi “Bố này” Cái gì cơ? “Bố làm thế nào để viết có air riêng thế.” Thì đọc nhiều. Trước tiên là thế đã. Rồi mạnh dạn viết như mình nghĩ. Không sợ bị ngộ nhận, bị chê cười. Tôi đã phải đọc lắm thứ. Cả những thứ bị coi là paraliterature (cận văn học, á văn học). Đôi khi viết tạp bút, tiểu luận, như cách bắt mình học thêm. Viết về Hồ Biểu Chánh chả hạn. Cô đọc “Ngọn cỏ gió đùa” đi, cái đoạn tả anh chàng ăn cắp cám heo, ông Hồ Biểu Chánh viết không chê được. Hồi đầu thế kỷ XX, miền Nam có ngòi bút như thế rất quý. “Vâng, bố nhớ ông Phan Văn Hùm không?” Ừ! Ông này nữa….

Trong quán, nhạc thoảng bay nhẹ nhàng. Sáng thứ bảy, quán nhiều khách đôi. Nhưng không thấy ai như tôi và bố – ngồi riêng hai đầu bàn, khoảng giữa chất ngổn ngang sách báo, thuốc lá, hoa, cà phê… như khoảng cách thời gian không gian bất khả thắng vượt.

Bố rít thuốc. Đốm thuốc lập loè đỏ. Tôi xin một điếu. Hai bố con chẳng nhìn vào đâu, vào ai. Thoải mái một cõi.Và tôi, hơn năm mươi năm làm người, lần đầu tiên ngồi với văn nghệ sĩ mà không thấy tiếc thì giờ, tiếc lời, tiếc phận.

Tôi hỏi thời này người đọc, người viết trẻ thiếu cái gì so với thời cũ. Không suy nghĩ, bố đáp ngay: Thiếu sự kiên tín! “Con thấy, đã vậy còn hay ngụy tín…” Cô nói đúng! Có lẽ chỗ này khiến mấy mươi năm nay, văn học không khơi dòng được, không có cái mới. Tôi đọc những bài công kích tôi trên báo. Chưa thấy ai đụng chạm những điều thuộc về cốt lõi. Chỉ nói những chuyện thuộc thẩm quyền của nhà xuất bản và người cấp phép. Mới đây có bài của Phạm Xuân Nguyên trên Văn hóa-Thể thao. Ông này cô biết không? “Con không quen nhưng có đọc lai rai vài bài Hội chứng Babylon, Văn học Việt Nam – Nỗi buồn tiểu thuyết, và năm ngoái, đầu tháng 10, bài Vì một nền văn học sạch, trên trang web vannghesongcuulong.org. Trong bài này, khi trả lời người phỏng vấn Lê Anh Hoài, ông Phạm Xuân Nguyên có nhận xét: “Văn học ta không thể nào lớn được vì không được sống trong môi trường văn học đúng nghĩa của nó”. Ông Phạm Xuân Nguyên, khi viết về tôi, với tư cách bạn đọc-nhà phê bình, cũng viết nghiêm túc. Cô nên tìm mà đọc. Còn bạn đọc bình thường lâu nay quen với văn học minh họa, văn học mô tả A là A, B là B. Những truyện nhiều tầng nghĩa, có symbol hơi lạ là không chia sẻ được với tác giả, thậm chí ngộ nhận. Thí dụ trường hợp nhân vật Từ Hải. Từ Hải thì Dư  Hoài viết, Thanh Tâm Tài Nhân cũng viết, chứ đâu chỉ Dương Nghiễm Mậu trong tập truyện ngắn Nhan sắc. Tương tự, Phạm Thái, Kinh Kha nữa. Bảo tôi bóp méo nhân vật, tả sai bét so với “chính sử” thì… Bố ngưng nói, không hề cau có. Tôi biết bố chừng mực, ít bị lôi cuốn vào chuyện thị phi.”

Ừ thì xong buổi cà phê. Có phải đây là Sài Gòn và mình là Như Thị, vừa nói chuyện với ông Nghiễm?

NXT


____

 

▀▀▀▀▀▀▀▀▀▀

 

ĐINH CƯỜNG

Dương Nghiễm Mậu
người đã nhìn thấy địa ngục có thật

 

Écrire, c’est aussi ne pas parler
C’est se taire
C’ est hurler sans bruit
( Marguerite Duras )

 

Nhớ không Nghiễm, sáng mờ sương ngày ba mươi Tết
chở bạn ngồi sau chiếc suzuki đen
ra trạm xe lên phi trường Phú Bài đậu trên ga về lại Sài Gòn
chưa đầy hai ngày sau, từ đêm giao thừa cùng với
tiếng pháo nổ là tiếng súng của quân Bắc Việt vào
thành phố Huế ( đã nuốt lời giao ước
thời gian ba mươi sáu giờ hưu chiến )

Những ngày sau đó là một thảm kịch đau thương của lịch sử đến bây giờ chưa nguôi… như một Guernica của Picasso thời nội chiến Tây Ban Nha.

Hơn tháng sau bạn trở ra Huế trên chiếc C130 ghé qua Đà Nẵng đủ để bạn nghe và nhìn thấy thêm những vết tích tan thương của mấy ngày Tết những xác chết, hầm hố, những chiếc hòm bên đường còn dán màu giấy đỏ, những bó hương chưa tàn chao ơi là lời thét gào vô hậu chi mà vô hậu …

Nhớ không Nghiễm, như một điềm báo: Le Temps du Massacre
     Phim chiếu Tết ở rạp Hưng Đạo

Thời điểm Tàn Sát… như một mối thù thằng người bằng bìa cầm khẩu súng do Lê Vinh vẽ còn rơi toòng teng trên cửa rạp, phía trong không còn một cái ghế không còn một miếng tôn trên mái tôi chở bạn về Gia Hội xuống Bãi Dâu xem người ta đào tìm xác chết rùng rợn đêm về thăm Sơn còn trú trong ngôi nhà cổ là thư viện đại học Huế, nghe Sơn hát nhỏ mà ngậm ngùi :

Chiều đi qua Bãi Dâu hát trên những xác người
Tôi đã thấy tôi đã thấy
Trên con đường người cha già ôm con lạnh giá
Chiều đi qua Bãi Dâu hát trên những xác người
Tôi đã thấy tôi đã thấy
 Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em 

Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh
Chị vỗ tay hoan hô hòa bình
Người  vỗ tay cho thêm thù hận
Người vỗ tay xa dần ăn năn. [1]

Bao nhiêu bà mẹ đã mất trí đã vỗ tay trước cõi đoạn trường tang tóc ấy.
Chúng ta thì đôi mắt ráo hoảnh nghĩ đến Quân người bạn trung úy, tay súng thiện xạ của một Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến có thoát ra được vùng Gia Hội không.
Tôi lại cùng đi với Nghiễm đến phỏng vấn ở Bộ Chỉ Huy TQLC đang đóng tại một nhà dân trong Thành Nội. Đi đâu Nghiễm cũng đeo theo cái máy to trên vai, bao nhiêu ghi âm trong ấy để về đài viết lại (Nghiễm làm tại đài số 7, trong khuôn viên Đài Phát Thanh Sài Gòn, được đồng hóa cấp bậc hạ sĩ, các đài phụ như số 7, đài  Tự Do … đều do Mỹ tài trợ). Dương Nghiễm Mậu từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ biết đi xe đạp, chúng tôi nói vui, vậy mà anhTạ Tỵ viết trong Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi : [2] Nhà văn Dương Nghiễm Mậu cũng đến thăm tôi . Mậu trông vẫn vậy với nụ cười tinh quái, Mậu nói :
– May quá, hôm nay ông anh có nhà/ Đạp xe đạp hộc máu mồm từ nhà đến, ông anh thủ trên lầu, ở dưới nhà bà chị bảo, đi vắng / Buồn quá ông anh ơi/ (trang 307)
Hình ảnh Dương Nghiễm Mậu luôn với chiếc áo chemise trắng cụt tay bỏ ra ngoài quần,
Đi đôi dép lẹt xẹt, có khi cầm thêm cây dù, đi bộ hoặc thỉnh thoảng đi cyclo hay taxi…
Và cái thú duy nhất của Mậu là mỗi năm vào những ngày mùa đông về thăm quê Hà Đông (nay sáp nhập vào Hà Nội mở rộng) nằm đắp tấm chăn bông… nơi đó còn ông chú ruột.

Nhớ e-mail Trần Hoài Thư nói viết về Dương Nghiễm Mậu cho anh ấy ấm lòng, cứ viết, không cần chờ tài liệu gì cả, và nói gởi trước ngày 10 tháng 12. Gặp ngày cuối tuần hai cháu nội về chơi. May đêm qua thức dậy giữa khuya viết được một đoạn, chiều nay tìm mấy tấm hình xưa cũ, scan gởi với lời ghi chú chắc Nghiễm sẽ như thấy lại bóng dáng thời trai trẻ của chúng ta. Trong đó thích nhất bức ảnh tôi chụp Nghiễm thấy sau lưng, đeo cái máy ghi âm to đang bước qua nhịp cầu Tràng Tiền bị giựt sập hồi Tết Mậu Thân.

Từ hôm nghe tin nhà văn Mạc Ngôn được giải văn chương Nobel, đem mấy tập tiểu thuyết Báu Vật Của Đời và Đàn Hương Hình ra đọc lại tôi vẫn không mấy thích bằng đọc truyện của Marquez, Kafka hay của Cao Hành Kiện, Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường, Dương Nghiễm Mậu mà theo tôi ba tác giả sau xứng đáng nhất cho nền văn chương hiện đại Miền Nam, của cả Việt Nam khi cần nghiên cứu và trao giải.

Virginia, 9 Déc, 2012

Đinh Cường

 

[1]  Hát trên những xác người
Ca khúc Trịnh Công Sơn viết xong 28-2-1968

 

▀▀▀▀▀▀▀▀▀▀

 

VIẾT VỀ TÁC PHẨM DƯƠNG NGHIỄM MẬU 

TRẦN VĂN NAM  

 

                                 

DƯƠNG NGHIỄM MẬU, THỬ XÉT GIỚI HẠN BA LỐI VIẾT TRONG BA THỜI KỲ                                                                                                                                                                                                            

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu xuất hiện rất sớm trong Tạp chí Sáng Tạo ở Sài Gòn, thuộc thời Văn Học Miền Nam, có truyện đăng báo khoảng năm 1956. Từ 1963 đến 1975, ông đã có đến 20 tác phẩm được xuất bản. Vậy thử xét giới hạn ba lối viết trong ba truyện ngắn và trong ba thời kỳ, kể như là quá ít đối với sự nghiệp văn chương của Dương Nghiễm Mậu. Điều này khẳng định đây không phải một bài nghiên cứu hay phê bình văn chương đòi hỏi phải đào sâu và xét toàn diện các tác phẩm của một nhà văn. Ước mong đây chỉ là một bài tiểu luận nhỏ, một bài nhận định nhỏ về văn học. Ba truyện ngắn này, người viết bài có dịp đọc từ rất lâu, đến nay vẫn còn hoài những điều tự hỏi. Có phải không ba truyện ngắn dưới đây đã viết theo ba lối: truyện “Cũng Đành” viết tự phát theo khuynh hướng vẽ lại bức tranh cùng khổ do chiến tranh, có thể quy định thuộc loại văn chương “Hiện Thực Xã Hội Thời Chiến Tranh”; truyện “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống” viết tự phát theo hướng tự vấn nội tâm diễn giải thành “Tra Hỏi Hiện Sinh Phi Lý”; truyện “Bên Sườn Núi Đá” viết không tự phát mà có dự định theo hướng “Viết Theo Dòng Ý Thức” (đúng hơn là phải nói theo lối viết đồng-xuất quá-khứ hiện-tại).

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu ở lứa tuổi (ông sinh năm 1936) biết thế nào là loạn lạc vào thời Pháp trở lại Đông Dương, thời xảy ra cuộc kháng chiến chống Pháp, thời Pháp kiểm soát hầu như khắp lãnh thổ và tiến hành bình định. Dân chúng chạy tản cư, rồi hồi cư; khốn khổ vì những nghi kỵ Việt Minh trà trộn vào thành phố. Ông viết truyện “Cũng Đành” trong bối cảnh ấy. Có thể ông đã chứng kiến đau khổ của nạn nhân giặc giã, hoặc có thể ông đã từng kinh qua sợ hãi dù khi ấy ông mới chỉ ở tuổi thơ không bị hạch hỏi tra xét nhiều như người trưởng thành. Rồi khi lớn lên lúc đã di cư vào Nam, ông viết truyện hồi ức mô tả những cảnh mắt thấy tai nghe thời kỳ Pháp chiếm đóng Hà Nội, ngòi bút mô tả hiện thực chiến tranh, hiện thực xã hội cùng khốn. Mô tả có tính chất tự phát, thấy sao thì viết vậy, nghĩa là chưa có ý thức với lý thuyết “viết theo khuynh hướng hiện thực xã hội thời chiến tranh”. Cũng Đành: truyện một thanh niên thuộc một đơn vị kháng chiến (nhân vật xưng tôi, nhưng ta biết đây không phải tự truyện vì thuở ấy tác giả còn ở tuổi thiếu niên), vì bệnh sốt rét phải trở về làng chữa bệnh. Ăn uống thiếu thốn, cơm với bảy tám phần trộn sắn ngô, bệnh sốt sét không thuốc men phải liều theo cách chỉ bảo nuốt sống những con giun (trùn đất). Dĩ nhiên bệnh không chữa khỏi, anh liều vào Hà Nội tìm thuốc uống mà không có giấy thông hành (giấy đi lại vào ra thành phố cấp cho những người đã được chính quyền Pháp công nhận có cư trú trong vùng kiểm soát). Làng anh ở cách Hà Nội 43 cây số. Trong mình không có giấy tờ nên chủ xe nào cũng từ chối cho anh lên xe, may có chiếc xe chở củ nâu bằng lòng nhét anh vào giữa những bao củ nâu.  Đây là cảnh thường xảy ra thời quân Pháp kiểm soát những nút chặn đi vào thành phố: “Khi tỉnh dậy thì xe đang ngừng. Tôi lắng nghe tiếng giày đinh lộp cộp, những bao củ nâu bị lay động và có tiếng chọc của một chiếc gậy sắt. Tôi biết là xe đang bị khám, nên hai lần bị gậy sắt thọc vào lưng, tôi không dám nhúc nhích…”. Gần tới Hà Nội thì chủ xe không dám cho đi tiếp, và anh bị bỏ lại bên đường giữa hiu quạnh hai bên ruộng lúa. Chủ xe cũng thương tình cho anh vài đồng bạc. Trời còn tối, anh mò vào một cái chòi bỏ trống giữa đồng, sáng ra phải đi ngay vì cái chòi ấy chính là cái quán bán bún riêu và bánh đúc cho nông dân đi ruộng. Anh cũng trót lọt vào được thành phố, đói quá phải bới móc những thịt bánh sót lại trong những lon hộp vứt bỏ ở các đống rác. Gặp người làm công cho bố mẹ ngày xưa, được ông cho tá túc trong lều rách nát, và kiếm cho việc làm trong lò nấu thủy tinh làm ve chai. Nhưng vì uống quá nhiều thuốc ký-ninh trị sốt rét, anh trở thành nghễnh ngãng, bị đuổi việc. Anh kiếm sống bằng cách đi móc rác, thu gom ve chai và vụn sắt, bán cho các nơi tái-biến-chế. Có lần anh trúng mối tìm nhặt được rất nhiều đồ phế thải ấy, do quỷ kế gạt các người đi tìm hài cốt những thân nhân bị chôn vùi trong những hầm trú bom bị máy bay đánh sập thời chiến tranh Mỹ-Nhật: họ tưởng anh là người cư trú trong vùng nên biết đích xác nơi nào có hầm sụp chôn người, họ cứ theo lời chỉ điểm bịa đặt của anh mà đào bới và anh trúng mánh tiếp tục thu nhặt mảnh vụn phế thải đem đi bán. Tuy vậy, anh cảm thấy ngao ngán cuộc sống lây lất này, có ý nghĩ muốn chết cho rồi. Kiếm sống được khấm khá, một hôm anh đang ăn gà luộc thì có một đứa con gái cũng nghèo đói nhưng có vẻ thuộc giới giang hồ, thản nhiên cùng dự bữa ăn. Anh theo về gian nhà tạm bợ của nó, và hai người sống chung, rồi chia tay, và điều không may tiếp liền theo là hậu quả không giấy tờ cư ngụ ở Hà Nội. Anh kể vụ cô gái giang hồ đem “bồ” mới về nhà và đuổi anh đi như sau: “Đừng lấy gã đó. Ở với anh… Mấy ngày sau chúng tống cổ tôi đi với mấy chục bạc. Tôi ngày ngày đi móc rác, chiều đến mò vào Văn Miếu nằm. Đêm đêm sờ soạng những bia đá, những gạch ngói nằm im mà thấy tủi thân… Đến một khuya kia, tôi thức dậy vì ánh sáng đèn pin soi vào mặt. Tôi mở mắt nhìn bọn lính chĩa súng vào người. Chúng hỏi giấy tờ, tôi không có gì nên điệu về bót…”. Anh bị nghi ngờ, bị tra khảo đủ thứ cực hình, bị hạch hỏi và trả lời khi thế này khi thế khác nên càng thêm tội, cầu viện đến cô gái giang hồ để mong cô nhận là vợ cho khỏi bị nghi ngờ anh là địch vào thành phố, nhưng cô ta nói không quen biết. Cuối cùng thì anh bị quân Pháp xử bắn. “Cũng đành một kiếp người”: Chắc đây là ý tưởng chủ đạo của truyện ngắn này. Tác giả viết truyện tự phát nhưng có thể quy định vào phạm trù thuộc khuynh hướng “hiện thực chiến tranh, hiện thực xã hội”. Nhà văn chỉ kết án tình thế chiến tranh làm con người đi đến thảm kịch; trong đó có người tốt người xấu (ông chủ xe không xấu bụng lắm, người làm công cho bố mẹ cũ có tình người, cô gái giang hồ trở mặt, và chính anh cũng là một gã mánh mung). Hiện thực xã hội trong truyện của Dương Nghiễm Mậu không đậm nét mâu thuẫn giai cấp; cũng không đậm nét phán đoán đạo đức; còn quân Pháp đang chiếm đóng thành phố thì đương nhiên thuộc phe ác. Như vậy, nhà văn viết truyện nhiều xã-hội-tính này chỉ tự-phát vẽ lại bức tranh đen tối của các nạn nhân chiến tranh, có lẽ tiền khởi không do hướng dẫn bởi lý thuyết văn chương nào.

Rồi nhà văn vẫn tiếp tục viết tự phát, viết về sự trống vắng cô đơn: một chủ đề rất thường được đề cập đến trong thơ văn, nghĩa là không phải một chủ đề mới lạ. Nguyên nhân làm Hạnh, tên nhân vật, cảm thấy cô đơn cùng cực vì có cái bướu nơi cổ, cái bướu làm người con gái Hạnh yêu không muốn cùng đi dự lễ; và Hạnh đã sẵn nỗi cô đơn từ thuở nhỏ vì là một đứa trẻ mồ côi lang thang. Sự cô đơn ấy là một khoảng trống của cuộc đời, một bãi sa mạc trong cuộc sống, không người thân thích đã đành số phận, mà đi tìm một người yêu cũng bị lạnh nhạt. Nhà văn Dương Nghiễm Mậu trong truyện “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống” đào sâu thêm nỗi cô đơn của Hạnh. Bị sự lạnh nhạt của người mình yêu, Hạnh có ý nghĩ muốn tự tử. Hạnh ra nằm ở đường xe lửa, đợi chuyến tàu qua cắt đứt cuộc đời trống vắng lẻ loi. Nhưng Hạnh chợt nghĩ lại, tại sao mình không cắt cái bướu để may ra còn sống và lấp bỏ khoảng trống do nó gây ra. Nghĩ vậy, nên Hạnh can đảm và liều lĩnh tự mình cắt lấy. Tuy Hạnh cũng biết cẩn thận với băng vải cầm máu, dụng cụ tẩy trùng, thuốc men; nhưng vết cắt đau quá làm anh ngất đi. Người ta cấp cứu đưa anh vào bệnh viện, và bác sĩ cho biết cái bướu ấy là ung thư. Từ cái bướu làm đau nhức khoảng trống cô đơn đến cái bướu ung thư là một suy sụp qua một giai đoạn khác, giai đoạn tuyệt vọng. Cốt truyện giản dị là như vậy. Nhà văn viết truyện đào sâu về những suy tư nội tâm, những suy nghĩ về xã hội xa lánh, về người mình yêu không được đáp ứng; tự khám phá sự hất hủi chính là để Hạnh nhận ra mình; nhận ra số kiếp mình phải chịu đựng cô đơn, không thể trách ai: “Bao nhiêu năm cô đơn của tuổi trẻ anh đã mang theo – tuổi trẻ của một đứa bé mồ côi lang thang không biết la thét với ai, chỉ biết la thét với những chuyến xe lửa chạy qua mỗi ngày, hú còi và phun khói… Khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối chích vào thân thể anh… Em đã chịu đựng sự có mặt của anh, nhưng đến bây giờ em không còn đủ sức chịu đựng nữa – em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh”. Rõ ràng nội dung, với thân phận mồ côi và cái bướu quái ác, truyện viết có tính chất đi sâu vào những suy tư nội tâm, tự mình hiểu được nguyên nhân tại sao xã hội và người mình yêu đơn phương xa lánh. Nội dung truyện như vậy không phải mới lạ, ví dụ cuốn tiểu thuyết “Bướm Trắng” của Nhất Linh còn phong phú hơn nhiều với vài trăm trang dằn vặt nỗi cô đơn của một người mang bệnh lao phổi, còn nhiều tình tiết hơn vì không phải chỉ là truyện tình đơn phương như trong “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống”. Dương Nghiễm Mậu viết tự phát nhưng có ý thức truyện sẽ đào sâu tâm lý về khoảng trống cô đơn vì cái bướu cổ, cũng như Nhất Linh với ý thức viết truyện theo dõi những quanh co tâm lý, ứng phó có khi bất ngờ, của một bệnh nhân lao phổi đối diện với những suy sụp cuộc đời và cuộc tình. Nhưng truyện “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống” đã được Giáo sư Nguyễn Văn Trung diễn giải theo những chủ đề của Triết học Hiện Sinh, thành một giảng khóa cho sinh viên Đại Học Văn khoa Sài Gòn kể từ niên khóa 1961-1962, sau được in ra thành sách “Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu thuyết, do nhà xuất bản Tự Do ấn hành năm 1963 (?) (sách được kiểm duyệt tại Huế để cho phép ấn hành, năm 1962). Những chủ đề Triết lý Hiện Sinh du nhập từ Pháp và Đức, như: Hiện sinh Phi Lý (ta hiện diện trong đời này ngoài ý muốn của ta, có khi như một sự thừa thãi vô ích); Hiện sinh Phi lý nhưng ta có Tự Do (Tồn tại Hiện hữu không thể tránh, nhưng ta có quyền lựa chọn một cách ở đời vì đó là trách nhiệm của mỗi người); và Tiểu Thuyết Như Một Ý Thức (không cần nhiều tình tiết kết cấu thành truyện, chủ yếu dằng dặc độc thoại nội tâm). Cụ thể như cái bướu là một thừa thãi vô ích, Hạnh đâu có muốn mà nó vẫn gắn liền với đời của anh. Rộng ra thì ta hiện diện trên đời này cũng là điều ngoài ý muốn của mình, cha mẹ gặp nhau rồi sinh ra ta. Số kiếp hạnh phúc hay cùng khốn đã an bài sẵn cho ta rồi; cũng như lẽ hiển nhiên phải chết của mỗi người là cái đã định (Être-à-la-Mort; Being-unto-Death). Từ ngữ “Số phận” trong cảm nghĩ ngày xưa được diễn lại thành Hiện sinh Phi lý. Dương Nghiễm Mậu viết tự phát về một trường hợp số phận, biến thành truyện về sự Tồn Tại Thừa Thãi. Một ví dụ khác do diễn giải từ ý tưởng thông thường thành một chủ đề khác của Triết lý Hiện Sinh: Hạnh nằm trên đường xe lửa để tự tử, sau đổi ý muốn tự mình cắt bỏ cái bướu thay vì chết đi cho xong. Sự đổi ý ấy được diễn giải là Con Người Có Tự Do Lựa Chọn, có trách nhiệm với hành vi đời mình: một chủ đề của Triết lý Hiện Sinh về Tự Do và Trách Nhiệm, về Hữu-Tại-Thế (Être-au-Monde; Being-in-the-World). Và đây là một hệ-luận từ Triết Lý Hiện Sinh áp dụng vào truyện viết tự phát của Dương Nghiễm Mậu: truyện chủ định đào sâu tâm lý được diễn giải thành lối dàn trải cảm nghĩ, tất cả chỉ là độc thoại nội tâm, gồm thâu vào thuật ngữ “tiểu thuyết là ý-thức” thay vì “tiểu thuyết là kết cấu truyện”. Tóm lại, ta thấy có những tương đồng giữa xưa và nay, rốt cuộc chỉ là những thuật ngữ mới rọi sáng cho lối viết tự phát mà thôi. Xin lặp lại những diễn giải mới: – Cái bướu bẩm sinh thành Tồn Tại Thừa Thãi – Đổi ý định tự tử sang ý định cắt cái bướu thành chủ đề hiện sinh Tự Do và Trách nhiệm – Đang sống đời không muốn sống thành Hiện sinh Phi lý – Truyện đào sâu tâm lý thành Truyện Là Ý Thức – Từ mặc cảm bị đời xa lánh vì cái bướu đến trạng thái tuyệt vọng kề cái chết vì ung thư, được diễn giải thành chủ đề “sự vong thân”, ta trở thành kẻ xa lạ với chính ta. Những dòng sau trình bày những diễn giải ấy, những rọi sáng bằng ngôn ngữ triết lý. Chắc nhà văn trước đây sáng tác cũng với những điểm tương tự như vậy. Nay họ có thể minh-bạch-hóa những tự phát mà từ lâu mình đã viết: “… Tiểu thuyết là trình bày kinh nghiệm nhận thức đó, là mô tả cuộc hành trình nhận định về cuộc đời của một nhân vật là chính tác giả. Tác giả suy nghĩ cuộc đời qua nhân vật là chính mình… cảnh vật sự vật không còn được mô tả như một khung cảnh… cảnh vật sự vật chỉ là công dụng, là dịp gây thức tỉnh… Không còn có tình tiết như sợi nút của câu chuyện… nhà văn chỉ là muốn trình bày sự đi tìm, thì làm gì còn tình tiết để kết thúc câu chuyện… dù tác giả dùng ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai thì cũng không thay đổi gì, vì nhân vật cũng vẫn là tác giả đối thoại với chính mình… nhân vật bây giờ là ý thức, ý thức phản tỉnh… thiết thực đời sống con người không trải ra theo một thứ tự nhất định. Trái lại thường là một  sự hỗn độn, trà trộn với nhau giữa quá khứ và hiện tại, hay với tương lai… đập vỡ đồng hồ (một chi tiết trong truyện The Sound and The Fury của Faulkner) có ý nghĩa như một chống đối lại với thời gian khách quan tuần tự; bây giờ họ đã sa cơ thất thế nhưng vẫn bám níu vào thời xưa, và sống bây giờ như thể mình vẫn giàu sang phú quý (đây là kỹ thuật viết đảo lộn niên lịch)… những sự kiện tương đối không liên tục và liên hệ được xếp gần nhau không theo thứ tự nào, nhưng theo thứ tự xuất hiện trước ý thức (đây là kỹ thuật viết đồng-xuất). Những đoạn trên trích trong cuốn sách “Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết”, từ trang 147 đến 152, do Xuân Thu tái bản năm 1990 tại California.

Qua đoạn viết trên đây, ta nhận ra có những điều trùng hợp giữa lối viết tự phát không theo hướng dẫn của lý thuyết văn chương nào; như nhân vật chính là hóa thân của tác giả (chẳng hạn nhân vật Thúy Kiều là hóa thân của Nguyễn Du; Nhất Linh chắc có để bóng dáng mình nơi các nhân vật trong “Đôi Bạn” và “Giòng Sông Thanh Thủy”); như tình tiết trong các truyện xưa có khi cũng giản lược để chỉ là một dàn trải những suy tư nội tâm hay trực cảm huyền bí (chẳng hạn truyện “Chơi Giữa Mùa Trăng” của Hàn Mặc Tử nào có tình tiết gì ngoài những giao cảm với ảo-diệu dưới ánh trăng trên những cồn bãi cát trắng gần bờ biển. Và chẳng hạn như “Dòng Sông Định Mệnh” của Doãn Quốc Sỹ đâu có tình tiết gì nhiều ngoài bóng dáng dòng sông có lúc trắc trở, có lúc thênh thang, có lúc hội nhập trùng dương, được lấy làm biểu tượng cho bôn ba đời người (bôn ba xuôi ngược vốn là kiếp sống nhiều người thường từng trải, đâu cần yếu tố phức tạp cho cấu trúc câu truyện). Tuy nhiên có những điều hoàn toàn mới như kỹ thuật viết đồng-xuất, như kỹ thuật viết đảo lộn niên lịch. Những điều này không hẳn thuộc Triết Lý Hiện Sinh mà tổng quát thuộc dòng văn học Hiện Đại của thế giới, được đề cập đến nhiều thời Văn Học Miền Nam trước 1975: gồm ảnh hưởng từ các tiểu thuyết của Marcel Proust (trong cuốn Đi Tìm Thời Gian Đã Mất); William Faulkner (trong cuốn Âm Thanh và Cuồng Nộ); Tân Tiểu Thuyết với các tác giả Michel Butor, Alain Robbe-Grillet, Nathalie Sarraute; kịch tân kỳ với Samuel Beckett…  Lúc ấy sách báo ở Sài Gòn chưa nói nhiều đến các nhà văn còn ở mức độ hiện đại hơn nữa như James Joyce, Gabriel Garcia Marquez, Cao Hành Kiện… Từ những sách báo không ngớt đề cập đến Triết Lý Hiện Sinh và Tiểu thuyết Hiện Đại kể trên, chắc nhà văn Dương Nghiễm Mậu có ít nhiều chịu ảnh hưởng, và ta thấy ảnh hưởng đó ít nhất trong một truyện mà người viết bài này cảm thức được: truyện ngắn “Bên Sườn Núi Đá” đăng trong tạp chí “Thế Kỷ 20”, số 4, ấn hành tại Sài Gòn, tháng 10 năm 1960. Tuy là truyện ngắn chiếm 9 trang báo (khổ lớn hơn các tạp chí văn chương cùng thời kỳ), nhưng truyện ngắn này có thể phân tích thành 5 truyện nho nhỏ và xen kẽ nhau thành 8 tiểu đoạn. Các truyện nhỏ xen kẽ nhau như sau: truyện Trình và ông Hai làm nghề biển đang làm việc bên sườn núi đá; truyện ông Hai và đội lính kèn; truyện Trình và vợ con; truyện ông Hai và gia đình; truyện ông Hai và con trai lớn đôi co về nghề đi biển. Và 8 tiểu đoạn xen kẽ nhau như sau: Mở đầu truyện với bối cảnh Trình và ông Hai đang ngồi trong chòi lá tạm bợ bên sườn núi đá sát bờ biển, ngoài trời cả tuần đang mưa bão nên họ không đi biển được để đánh cá ướp muối phơi khô bán cho khách hẹn. Để bớt nôn nóng âu lo, ông Hai ngồi đọc bộ sách “Tam Quốc” bên đống lửa; còn Trình thì ngồi bất động kế bên, nhớ vợ nhớ con đang ở một nơi xa… Tiểu đoạn thứ nhì: Cảnh xưa kia ở sườn núi đá này có một trại lính trấn giữ coi sóc hải phận, nhờ đó có mở một con đường ven sườn núi mà mỗi tuần mới có xe lương thực và thư từ đến với đội lính trấn thủ. Ông Hai từng là lính kèn thuộc ban quân nhạc của trại binh trong một thành phố, lúc ấy ông cũng đã hơn sáu mươi tuổi. Về sau, ông yếu hơi, nên được phái ra trại lính trấn thủ ven biển này, chỉ để làm công việc thổi kèn đánh thức đám lính dễ ngủ quên ven bờ biển lạnh; ngoài ra còn thổi kèn như đồng hồ tập hợp lễ chào cờ, báo phiên gác, báo giờ ăn giờ ngủ. Tiếng kèn của ông yếu vì tuổi đã khá già. Rồi trại binh bị gỡ bỏ vì ở đây không còn cần thiết cho canh phòng. Nhưng ông Hai không muốn rời bờ biển núi đá, dường như nó gắn bó tâm hồn bí ẩn gì đó của ông. Ông giã từ đời lính, đến chòi lá này của Trình để cùng làm nghề đánh bắt cá biển. Và ông cũng tiếp tục thổi kèn, nhưng bây giờ là “kèn miệng” chỉ để đánh thức Trình những khi còn thèm ngủ buổi sáng sớm: “Tiếng kèn sáng nào cũng như sáng nào vọng lên: tò tí te, tò tí te, te te tò tí te tò, te te tò tí te tò”… Tiểu đoạn thứ ba: Ông Hai vẫn ngồi bên đống lửa. Than lửa nóng làm ông nhớ đến trưởng đồn, nghĩ đến bắp rang ông trưởng đồn phân phát cho đám lính ở trại. Đoạn này có những câu đối thoại ngắn trao đổi giữa ông Hai và Trình, qua đó ta biết về gia cảnh của Trình; biết vợ Trình rất ái ngại nghề đi biển của Trình. Tiểu đoạn thứ tư: Ông Hai lại lật tìm chỗ đọc bỏ dở trong cuốn “Tam Quốc”. Cuốn sách già bằng tuổi ông trưởng đồn, so sánh này khiến ông Hai một lần nữa nhớ đến trại lính và những công việc nhàn rỗi của ông trưởng đồn khi xưa: như ký giấy đi phép cho vài người; chơi cờ tướng; làm thơ rồi ngâm vịnh; đọc cuốn sách Tam Quốc này đây vì nó là cuốn sách gối đầu giường trước khi cho ông Hai làm kỷ niệm. Ông lại nhớ hồi trại gỡ bỏ, các bạn lính khác vui mừng vì được giã từ biển, còn ông có bí ẩn gì mà lại thích biển và tìm cách ở lại. Đến đây là lúc nói về gia cảnh của ông Hai: quê hương ông ở vùng núi non đất đỏ mạn ngược, nhiều người như mẹ ông chưa từng thấy biển bao giờ, chỉ biết biển qua những con cá mắm từ miền xuôi đưa lên. Nhưng có tiếng biển gọi trong tâm hồn của ông, mơ hồ như bụi sóng… Tiểu đoạn thứ năm: Sáng sớm, thay vì ông Hai, Trình bắt chước thổi kèn miệng để đánh thức ông già. Lần đầu tiên ông Hai thốt ra lời tự trách mình: “Vô dụng, thật vô dụng”. Biển vẫn còn động mạnh. Trình hé lộ ý nghĩ lo lắng, biết đâu có đêm ngủ quên bị sóng lớn tràn ngập đem tất cả ra biển. Chợt ông Hai thấy một xác thuyền tắp bờ, kẹt vào hốc đá trong đêm. Thuyền còn chắc, nhưng trống trơn. Nhìn kỹ thì thấy còn một cái mũ dạ ướt sũng. Ông Hai ngắm nghía, nói nó giống cái mũ dạ của thằng Khôi, con ông. Tiểu đoạn thứ sáu: Trình thắc mắc sao từ lâu ông Hai thổ lộ ông không có đứa con nào. Đến đây là lúc nói rõ hơn về gia cảnh của ông Hai: khi xưa ông là thủy thủ, có vợ có con, nhưng ông yêu biển hơn gia đình; thường ra đi xa vợ con. Ông không ưa đời sống nơi đất liền vì thường thấy có những va chạm nhỏ nhặt giữa người với người. Ông vui đời thủy thủ, nghĩ rằng cứ lãnh lương gửi về cho vợ con là đủ bổn phận. Rồi một ngày kia, sau một thời gian đi quá lâu trở về, ông mới biết vợ đã mất, có lẽ vì bệnh nhưng sâu xa là do ông bỏ bê xa lánh gia đình. Con ông là thằng Khôi sống với bà ngoại. Ông quyết định giã từ nghề đi biển làm hại gia đình, và đem con lên sinh sống với nghề thư ký ở vùng thật xa biển, nơi mạn ngược. Tiểu đoạn thứ sáu: Con trai ông lớn lên, dần dần tỏ ra bướng bỉnh, không muốn cưới vợ sống yên vui gia đình. Nó thích đọc sách, ham hội họp với bạn bè, và thèm những chuyến đi xa. Nó mang dòng máu giang hồ giống như ông. Tiểu đoạn này có những đối thoại đôi co giữa hai cha con, một bên khuyên răn con đừng mộng tưởng phiêu lưu, một bên nói cha làm thui chột ý chí phải làm một điều gì khác thường hơn đời sống an phận. Và thằng Khôi quyết định vào ngành hải quân. Trước khi nó đi vào cuộc sống lênh đênh hải hành, ông cho nó một cái mũ dạ để làm kỷ vật nhớ cha già. Nó đi biệt, bao lâu nay không biết tin. Tiểu đoạn thứ bảy: Lý do ông Hai bỏ nghề thư ký ở mạn ngược, xin vào đội lính kèn, vì ông thấy cô độc, muốn sống đời sống có đồng đội thay thế cho gia đình mà vợ con không còn nữa. Ông trở lại niềm yêu thích biển tiềm ẩn trong máu huyết, nên khi trại lính gỡ bỏ, ông muốn ở lại bờ biển có chòi lá của Trình… Ở tiểu đoạn này, ông Hai để bộc lộ tâm hồn lúc nào cũng mãi hoài vọng một điều gì. Xưa là hoài vọng một kiếp sống giang hồ, coi thường cuộc đời yên vui. Mới đây, khi nhặt được cái mũ dạ trên con thuyền tắp vào hốc đá, ông cứ hoài vọng tin rằng con trai ông không chết đâu. Bây giờ, khi Trình nóng lòng không thể đợi bớt cơn biển động và ra khơi đánh cá một mình, và ông Hai cũng lại hoài vọng tin rằng Trình sẽ đánh được cá thật kết quả. Ông đốt lửa nhiều ngày nữa trong mưa bão, hết củi nhen lửa, ông xé từng tờ trong bộ sách “Tam Quốc”để nuôi ngọn lửa, ngồi mà hoài vọng Trình sẽ thành công. Tiểu đoạn này, ta thấy có vẻ không thực lắm, chỉ như một biểu tượng, một bức họa tượng trưng nói lên ý chí muốn thắng nghịch cảnh của con người. Và tiểu đoạn thứ tám: Trái với ý chí nhất định thắng của con người, sự thật trong nhiều trường hợp thì ta không thể vượt nổi thiên nhiên, như trường hợp biển đã xóa bỏ dấu vết ông Hai cùng chòi lá trên bờ biển, còn Trình thì mãi không thấy trở về. Tác giả kết thúc ở cuối truyện như sau: “Sau mùa biển động ít lâu, có một chiếc xe theo con đường độc đạo ra ven sườn núi đá – người ta theo lời hẹn tới lấy cá, nhưng khi những người lái buôn tới nơi thì không thấy dấu vết gì tỏ ra rằng ở đó có bàn chân người đã đặt đến. Sườn núi đá vẫn khô cằn lầm lỳ, biển vẫn màu nâu. Bọn lái buôn nguyền rủa quay xe, có kẻ nói lớn: – Tụi khốn kiếp thế mà dám giao hẹn”.

Từ lối viết tự-phát tương đồng với những chủ-đề Triết Lý Hiện Sinh, nhà văn Dương Nghiễm Mậu chắc đã có đôi chút chịu ảnh hưởng, sau khi có người phân tích những nét tương đương, rồi đọc thêm những tài liệu ngoài cuốn “Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết”. Qua đó, nhà văn tiếp cận thêm những lý thuyết văn chương hiện đại như Tân Tiểu Thuyết, Viết Theo Dòng Ý Thức Hỗn Tạp của William Faulkner, viết theo kiểu Đồng-Xuất Hiện-Tại Quá-Khứ của Marcel Proust hoặc của Ernest Hemingway, và có lẽ ông đã áp dụng. Vậy thiển nghĩ ở truyện ngắn “Bên Sườn Núi Đá”, ông không viết tự-phát mà theo lý thuyết văn chương. Truyện ngắn “Bên Sườn Núi Đá” theo thiển nghĩ gần với cách viết” Đồng Xuất Thời Gian” hơn là “Hỗn Tạp Theo Dòng Ý Thức”. Bởi vì truyện ngắn này theo phân tích gồm có 5 truyện nho nhỏ xen kẽ nhau trong 8 tiểu đoạn, khi thì từ hiện tại nhắc đến quá khứ, khi từ quá khứ sực trở về hiện tại, tuy vậy chúng không hỗn tạp mà có sự chuyển mạch để đổi thời điểm. Ta lần lượt thấy 4 lần chuyển mạch: Mở đầu truyện với bối cảnh ông Hai và Trình ngồi trong chòi lá ven sườn núi, đợi hết mưa bão đang làm biển động. Tiểu đoạn này được chuyển mạch với câu: “Vào những tháng trước chàng (Trình) chỉ có một mình”, chuyển mạch như vậy để bắt vào truyện tại sao có thêm ông Hai (bởi sau khi trại lính không còn, ông Hai ở lại với bờ biển này thay vì về với gia đình như các bạn cùng trại lính). Ở đoạn ông Hai và Trình đối thoại qua lại vài câu ngắn, qua đó Trình nói về gia cảnh của mình, dự định đặt tên cho con, cùng ý nghĩ chỉ ra làm một thời gian ngắn, mong có được một số tiền bán cá, rồi sớm về với vợ con. Thấy ở đoạn này, lúc Trình tư lự miên man, ông Hai lấy cuốn “Tam Quốc” ra đọc, và câu chuyển mạch viết như sau để bước qua tiểu đoạn nói về công việc của ông trưởng đồn: “Nó (cuốn sách) già như ông trưởng đồn khi xưa”. Và để chuyển mạch nói về gia cảnh làm thư ký thuở nào ở mạn ngược, nhà văn Dương Nghiễm Mậu cho xuất hiện cái mũ dạ trong con thuyền trống không tắp vào hốc đá sau đêm mưa bão. Sau cùng, để báo trước chủ đề con người như ông Hai (và con ông) có bản chất mãi hoài vọng và muốn chiến thắng một điều đã hằn nếp trong tâm tưởng, rồi rốt cuộc là thất bại, được chuyển mạch bằng câu chuẩn bị: “Ra ở với anh là tôi muốn vật lộn với biển”… Tóm lại, ta thấy nhà văn Dương Nghiễm Mậu viết truyện theo lối tự phát và cũng có nương theo lý thuyết văn chương. Xin nhắc lại: Nhà văn Dương Nghiễm Mậu viết truyện “Bên Sườn Núi Đá” theo lối “Đồng-xuất Quá khứ Hiện-tại” hơn là viết theo “Dòng Ý-Thức Hỗn-Tạp”.

TRẦN VĂN NAM (City of Walnut, California, tháng 11 năm 2012)

 

▀▀▀▀▀▀▀▀▀▀

Dương Nghiễm Mậu,
“sống tự do hay là chết”.

 Ghi rời của Nguyễn Lệ Uyên

Báo chí miền Nam viết nhiều, nói nhiều về Dương Nghiễm Mậu và đều dành cho ông những tình cảm đặc biệt và một vị trí xứng đáng trong dòng văn học Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1954 trở lại đây (ngoại trừ thằng Gù bên hông nhà thờ Đức Bà).

Với 21 tác phẩm, gồm truyện ngắn, truyện dài và những đoản văn, bút ký…  người đọc đã nhìn thấy trọn vẹn thái độ và trách nhiệm của ông với ngòi bút của chính mình trước người đọc, xã hội và cả một khúc lịch sử ngắn ngủi bị xé toạc, tơi tả.

Trên bán nguyệt san Thời Tập, số cuối cùng, số 23 tháng 4.1975, khi mà ông chủ bút Viên Linh chưa thấy được mặt mũi “đứa con út”, thì ở đó, Dương Nghiễm Mậu đã có bài trả lời ngắn về những lý do tại sao ông không chịu di tản ra nước ngoài:  “Có người đến hỏi tôi: Có đi ra ngoại quốc không? Tôi đã trả lời dứt khoát: Tôi sống và chết tại nơi này. Người ấy hỏi: Anh chấp nhận sống chung với người Cộng Sản? Tôi nói: Tôi không phải là một con chó để nay sống với chủ này, mai sống với chủ khác chỉ vì miếng xương chúng liệng ra. Tôi tin tưởng con đường tôi đi. Có một nơi là lẽ phải và ánh sáng. Có một nơi là lẽ trái và bóng tối. Có trắng và đen không thể nhập nhằng được. Nếu tôi có chết chăng nữa, điều ấy tôi không ân hận. Lịch sử đã chứng minh rằng: Nhiều khi cái chết là một điều tốt hơn là sống. Chết đi cho người khác sống, cho lẽ phải và sự thực, sống chết như thế cần thiết. Tôi bình tĩnh với quyết tâm đó”.

Thái độ chọn lựa của Dương Nghiễm Mậu cũng chính là thái độ của chàng Kinh Kha với con chủy thủ trên đất Tần bất trắc, một truyện ngắn mà ông đã rút cả máu, cả ruột gan để viết. Ông để Kinh Kha qua sông Dịch. Ông ném đoản đao vào tay Kinh Kha. Chàng cầm chặt, kề vào cổ Tần Vương, nhưng thay vì run sợ, Tần Vương lại ngửa cổ cười khan, sảng khoái. Và chàng hiểu ra tất cả: Tần Vương này chết sẽ có một Tần Vương khác, vài ba Tần Vương khác… đánh đổ một chế độ độc tài này thì tức khắc sẽ có một chế độ độc tài khác mọc lên.

Đó là sự thất bại cay đắng của trí thức, một thất bại nhục nhã của lòng yêu chuộng tự do, hòa bình. Và hình ảnh chàng Kinh Kha lầm lũi quay lui trong một cung điện nguy nga, tráng lệ tội ác vẫn là nỗi đau đớn không cùng của chính ông, như một dự báo cho ngày hôm nay.

Tại sao như vậy? Những kẻ tọc mạch luôn muốn biết “tại sao” như một căn bệnh sổ mũi kinh niên. Và không để cho những kẻ đó khốn khổ mò mẫm trong bóng đen suy diễn, ông dốc tuột sự thật đang diễn ra từng ngày từng giờ, mà ai cũng nhìn thấy những cảnh tượng đau lòng này nối tiếp những đau thương khác dồn dập đổ ập trên quê hương: “Những chiếc xe như súc vật, những xác nguời nằm như lá khô, pháo kích không ngừng, những bà mẹ, đứa bé bò trên mặt đường và chiếc bình sữa… Trong cồn cào của thời sự, những sự việc làm tôi chóng mặt. Tôi tự hỏi: có phải đã tới lúc mà mình phải cầm lấy mũi nhọn, phải, chỉ có thế trong chọn lựa một khi cơn lốc đến. Tôi không thể có một chọn lựa đầu hàng để sống như trâu chó. Tôi chỉ thương hai tấm con thơ… Có thể một cơ sự như thế sẽ đến không?” (sđd) .

Những cảnh tượng kinh hoàng, xám xịt màu đen tối kia, không phải chỉ đến những ngày cuối cùng chúng ta mới nhìn thấy, ông mới nhìn thấy. Đã từ rất lâu, khi mới là chàng thanh niên ngoài 20, ông đã thấy và hiểu tất cả, tạo thành vật nhọn đâm thẳng vào tâm hồn ông, đau nhói. Ông đã nhìn thấy và ông đã viết ra. Trong bối cảnh xã hội đang vật vã, hấp hối, với tư cách của một phóng viên chiến trường, ông đã lặn lội đến tận nơi các đơn vị hành quân trên khắp 4 vùng chiến thuật, sống dưới đạn bom gào rú trong các trận đánh, những bãi chiến trường xác chết ngổn ngang. Nhưng bi thảm nhất, đọng lại trong tâm trí ông là những cảnh tượng hãi hùng: Đó chính là những xác chết, những nấm mộ lấp vội ven đường, trong vườn nhà của những người dân vô tội, không có lấy một tấc sắt trong tay để tự vệ trong biến cố Mậu Thân ở Huế. Sự điên cuồng dã man đã đẩy hàng ngàn người dân vô tội chết tức tưởi, chết không nhắm mắt mà không hiểu tại sao mình phải chết! Trong bút ký Đi Trên Những Xác Chết đăng trên bán nguyệt san Văn số 104 phát hành ngày 15.4.1968, sau này in lại trong tập Địa Ngục Có Thật, có đoạn ông ghi lại: “Ở trong nhà mọi người vẫn sinh hoạt bỗng nghe tiếng nổ, rồi một người đàn bà kêu lên ở ngoài sân, chạy ra thấy bà ta ngã xuống chết. Hết sức kinh hoàng, cũng như phía sau nhà đó, bảy người cùng chết, những ngày đó chẳng ai chết mà có được quan tài. Người ta lo đào một cái huyệt vùi xuống cho xong. Tội nghiệp, một bà vợ ở xóm trên này, ông chồng bị bắt đi bị bắn chết, bắn chết trước mặt, rồi trận đánh tới, bà vợ chỉ còn đủ thì giờ kéo xác ông chồng về bỏ trong buồng, đóng cửa lại rồi dắt con chạy loạn…”

Một đoạn khác, cũng ở bài bút ký này: “Những ngày đầu tiên, ngay sau khi tiếng súng ngừng nổ, người ta đã đổ xô tới đó nhìn mặt những người chết đã nát, nhiều xác chết để bừa bãi, mặt che bằng những tàu lá chuối, bằng những tờ báo, những con chó quanh quẩn, những người bao khẩu nhìn ngó…  Những cái xác nào bị đào lên dập xuống nhiều lần. Những đồng bạc được đếm trên những xác người sình thối…  Hai ngàn, rồi năm ngàn… Những xác chết đã thành tiền cho những người nào đó…”.

Đó là những gì ông đã tận mắt nhìn thấy ở khu vực cầu Gia Hội, Huế trong những ngày Mậu Thân.

Vâng, từ Gia Hội qua Phú Cam, lên Thừa Phủ, đến sân nhà thờ Chánh tòa và cả sân trường Đồng Khánh… nơi nào cũng xác chết, cũng tan hoang, cũng thù hận và chém giết và máu và xương trắng và khăn tang… Chính lũ người mọi rợ mang trong đầu cái học thuyết hoang tưởng và ngu xuẩn nhất trần gian đã đẩy cả ngàn người dân vô tội vào tử lộ. Và, chúng ta hỏi, họ là ai? Không ai cả mà cũng chính là họ, những người trí thức, những kẻ mô phạm, những tên cuồng tín. Ông đã đưa ra hình ảnh một cô gái Huế mỹ miều, mấy năm liền thi rớt y khoa ở Sài Gòn, sau trở về Huế học văn khoa, bỗng dưng một ngày kinh hãi nổ ra, cô ta xuất hiện trên chiếc mobylette như một mụ phù thủy gớm ghiếc đu trên chiếc chổi cùn… “Đến lúc biến cố mọi người thấy cô ta mặc quần jean đeo súng và chạy cùng khắp trong thành phố, nhiều người bị cô ta chỉ vào mặt và tất nhiên sau đó nhiều hậu quả đã xảy ra…”.

Không chỉ chừng đó cảnh tan hoang nheo nhóc. Ở tận cùng đất nước: Cà Mau rồi ngược ra Tây Nguyên, những Pleiku, Kontum, Nha Trang, Phan Rang… Quảng Ngãi, Đà Nẵng… đâu đâu, nơi nào cũng có “những anh em du kích lẻn về phá rối đời sống dân chúng”.

Không chỉ nghe. Không chỉ nhìn thấy, tận mắt chứng kiến mà, hơn hết, như ông nói là phải có trách nhiệm với ngòi bút, nên ông đã ghi lại một cách trọn vẹn. Đó cũng là trách nhiệm với bản thân ông, trách nhiệm với xã hội bằng giọng văn đặc hữu: Tỉnh táo đến độ khô khốc như những cơn gió Nam cồ Nam mái trên dải đất miền Trung, xoáy tung những mái tranh nghèo xơ xác, nhấn chìm những phận người như bọt bèo, nhưng không thấy ở ông, những dòng chữ nơi ông sự bi thiết hay hằn học.

Có lẽ chính điều này đã giữ cho tâm hồn ông được thăng bằng, bởi trong bút ký đã dẫn, ông trích lại vài trường canh trong ca khúc của Phạm Duy ẩn hiện đâu đó trong ký ức ông. Đó là những ca từ và giai điệu đẹp để cuộc đời này đẹp hơn chút, trên đống hoang tàn đổ nát: “Buổi sáng nay thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường, nhưng trong vườn anh, đóa tường vi vẫn nở thêm một đóa, tôi vẫn sống tôi vẫn ăn và tôi vẫn thở… biết bao giờ…”.

Viết về Dương Nghiễm Mậu lúc này giống như đang ngồi trước tủ sách trống rỗng của ông: Một nỗi niềm xót xa cay đắng của một nhà văn luôn đặt trách nhiệm về thiên chức và nhân cách lên hàng đầu, như là điều xác tín: “Với riêng tôi, nhìn lại quá khứ từ 15 năm trở lại đây tôi có thể hài lòng để nghĩ rằng mình đã làm hết, đóng góp hết những gì có thể làm, có thể đóng góp. Lập trường dứt khoát của tôi đã hơn một lần được xác định trên những giòng chữ viết. Ở đó bao hàm một phấn đấu không cùng” (trả lời trên Thời Tập).

Tôi nhớ trên tuần báo Khởi Hành năm 1969, đã đặt câu hỏi về những suy nghĩ của nhà văn về tuổi 20, ông đã nói, đại ý: “Với lương tri người trẻ tuổi nào cũng mong tìm thấy cho mình và cho mọi người một đời sống đáng sống. Bộ mặt thực của thế hệ 20 ở Việt Nam năm 1969 không phải do cái bề mặt giả hình của nó, mà nhiều người trẻ tuổi khoác lên mình hay người ngoài nhìn vào thấy. Có thể nói bộ mặt đó bi quan nhưng rất tin tưởng”.

Còn trên tuần báo Nghệ Thuật, khi đọc tác phẩm Đêm Tóc Rối, Viên Linh đã có nhận xét: “Nhân vật của Dương Nghiễm Mậu là những người trẻ tuổi bị đè nặng bởi quá khứ về mặt tinh thần, và bởi tương lai về mặt trách nhiệm… Nhân vật Dương Nghiễm Mậu là người tù giam lỏng”.

Khoảng năm 1972, trên tuần báo Khởi Hành có loạt bài thăm dò độc giả bây giờ thích nhà văn nào, tại sao? Và tôi nhớ có một độc giả viết như sau: “Về Dương Nghiễm Mậu, ta bắt gặp hình ảnh của những kẻ sĩ bó tay trong một xã hội băng rã. Phong thái nhân vật của ông nửa anh hùng, nửa ăn cướp. Dương Nghiễm Mậu hiểu được phần nào tâm trạng của những người trẻ tuổi ưa suy nghĩ, thích hành động nhưng sớm chán nản trước thời cuộc”.

Trước 1975, độc giả vẫn đón đợi ở ông những suy tư ray rứt từ những nhân vật. Và bây giờ cũng vậy, đó là lý do tại sao nxb Văn Nghệ (Sài Gòn) và công ty văn hóa Phương Nam cho tái bản 4 tập truyện ngắn của ông (Đôi Mắt Trên Trời, Cũng Đành, Nhan Sắc, Tiếng Sáo Người Em Út) đã khiến thằng Gù phải giở giọng cay độc như đã từng, hồi đầu những năm 75,76: “Những tác phẩm này giá trị ra sao, đa số bạn đọc sống ở miền Nam trong thời chống Mỹ đều đã biết rõ. Bởi lẽ, những quyển sách này không chỉ là các sản phẩm văn hóa mà vốn là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần…

…Hơn ba mươi năm trôi qua, những thứ sản phẩm, gọi rằng văn hóa, rất độc hại ấy đã được xếp xó cùng với bao khối bom, mìn, súng ống đủ loại từng gây chết chóc, thương tật cho những con người yêu nước và tưởng rằng sự yên nghỉ ngàn thu của các sản phẩm như thế là chuyện lịch sử đã an bài rồi. Và các tác giả – là Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên – sống lại ở thành phố này vẫn được đối xử bình đẳng, không hề gặp phải bất cứ sự quấy phiền nào. Những nỗi khổ đau và những sai lầm đã được xếp vào dĩ vãng, được khuyên khép lại, quên đi để cùng nhìn vào thực tại, hướng về tương lai…

…Vì những lẽ đó, rất nhiều bức xúc, phẫn nộ của các bạn đọc khi thấy Công ty Phương Nam ấn hành sách của ông Dương Nghiễm Mậu. Các bạn đọc này gồm nhiều thành phần: vị tướng đã từng xông pha trên các chiến trường chống Mỹ, nhà giáo dạy văn, một cựu sĩ quan quân đội, nhà thơ, nhà báo… Đem những vũ khí độc hại ra sơn phết lại, rêu rao bày bán là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước” (SGGP số ngày …/4/2007).

 

tp dnm8-2-2016 10-08-50 PM

 

Đọc lại những truyện ngắn trong 4 tập này, không biết thằng Gù tìm ở đâu ra những dòng chữ và các nhân vật lẫn lời thoại trong đó là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần… rồi thì: là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước v.v… Thằng Gù chỉ nói vu vơ mà không chỉ ra được độc hạixúc phạm danh dự đất nước nằm ở chỗ nào trong 4 tập truyện trên? Có phải vì trước đây, trên tuần báo Nghệ Thuật (hay Khởi Hành?) có loạt bài phỏng vấn độc giả bây giờ thích nhà văn nào? Và thằng Gù thì không có tên trong những nhà văn được độc giả ưa thích nhất: Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Trùng Dương, Nguyễn Đình Toàn, Viên Linh, Nhã Ca… nên ông cay cú mãi tới tận ngày hôm nay? Hóa ra ông ta chỉ là tay chạy chợ, một kẻ xum xoe theo lối chính trị hóa văn học giảo hoạt không hơn kém!

Trong khi đó, một cách công tâm, nhà phê bình văn học miền Bắc Phạm Xuân Nguyên đã có cái nhìn sắc sảo của một nhà phê bình chính thống, không vị nể, kiêng kỵ: “Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những trăn trở, hoài nghi, lo âu, dằn vặt trước những hoàn cảnh có thể biến con người thành chuột, hạ cấp nhân tính thành thú tính (“Những chuột”), trước sự bạo hành của cái ác có thể khiến con người dửng dưng với nỗi đau của đồng loại (“Lấy máu”). Tính biểu tượng của truyện “Những chuột” buộc người đọc từ hoảng sợ đến thức tỉnh.

Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những day dứt lựa chọn của người trí thức, người sĩ phu trước một hiện tại lịch sử: xuất xử hay hành tàng, hành động hay không hành động, hành động vì cái gì, hành động theo hướng nào. Cả tập Nhan sắc gần như có thể nói là được viết cho đường hướng tư tưởng này, bằng những truyện dã sử và giả sử. Từ Hải, Kinh Kha, Hồ Quý Ly, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ, Phạm Thái khi trở thành nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đã được nhà văn đặt vào những tình thế lựa chọn, và họ đã phải lựa chọn theo cách của con người hiện đại muốn ở họ. Họ phải lựa chọn để không ngừng đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. “Phải sống. Sống không phải là nương theo những điều đã được định sẵn. Sống là tìm kiếm, lựa chọn, đương đầu…”, do đó, mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.

Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những tình cảm bình thường, giản dị, mà chân thành, xúc động, đưa đến những đồng cảm, sẻ chia giữa những con người cùng ở trong một tình thế sống (“Lời chúc cho kẻ phản bội”). Văn đó không hề hạ thấp con người, ngược lại, nó buộc mỗi người phải bận tâm với chính mình trong tư cách con người.
(Phạm Xuân Nguyên, Truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu, Thể Thao & Văn Hoá, số ra ngày 13/4/2007)
Tạm bỏ qua chuyện thằng Gù, chúng ta hãy trở lại câu hỏi: Tại sao độc giả lại thích truyện Dương Nghiễm Mậu? Vì khoảng trước năm 1963, như lời kể của Mai Thảo trên tạp chí Văn, California số tháng 12 năm 1984, thì thiên truyện đầu tay của Dương Nghiễm Mậu gửi đến tòa soạn (không nói rõ tạp chí nào) và bị vất bỏ. Mai Thảo nhặt được, đọc nó và cho đăng (trên Sáng Tạo?). Thiên truyện này được Võ Phiến nhắc lại trong bộ Văn Học Miền Nam có tựa Rượu Chưa Đủ: “Chuyện xảy ra ở một thành phố… Nhân vật chính thường ngày đến công viên, gặp người này người nọ, làm chuyện nọ chuyện kia v.v…, công viên nào vậy? Tác giả không thèm đặt cho những nơi chốn đó lấy một cái tên” (Võ Phiến, VHMN, trg 709).

Cũng theo những tiết lộ của Võ Phiến, trong những truyện ngắn đầu tay và những tập truyện xuất bản đầu tay như Cũng Đành, Gia Tài Người Mẹ… độc giả chừng như không mặn nồng đón đợi gì nhiều ở ông, có lẽ do cách viết “không giống ai” ở ông. Dương Nghiễm Mậu chấp nhận điều này, xem như một lối đi riêng của mình và buộc độc giả phải chấp nhận. Quả vậy, độc giả đã “đầu hàng” và dần hồi tìm thấy ở ngòi bút của ông một phong cách riêng, rất độc đáo, không lẫn với văn phong của ai khác; ngay chính trong nội dung và những vấn đề ông đặt ra cho từng nhân vật nhận lấy trách nhiệm, hành động cùng những suy tư cũng khiến độc giả phải “giật mình”. Nói giật mình, bởi ông đứng hẳn về phía cái mới, từ cấu trúc ngôn ngữ, xây dựng nhân vật để chuyển tải những nội dung ông đặt ra, thường là những câu hỏi “không hỏi”, để cho người đọc tự xoay xuể, tìm câu trả lời theo cách riêng của từng người. Ông chỉ đặt ra các vấn đề mà không giải quyết vấn đề? Về vấn đề này, trên Bách Khoa số 154 ngày 1.6.1963, Đặng Tiến có nhận xét: “Tất cả các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đều nghèo túng. Xã hội của Dương Nghiệm Mậu là xã hội bị chiến tranh tàn phá, ở đâu cũng còn vết tích của rạn vỡ: Trong thành phố, trên cơ thể, trong tâm hồn. Một xã hội con lạc cha, vợ lạc chồng, anh em hầm hè nhau như hổ đói, người với người xem nhau như súc vật. Nhưng truyện của Dương Nghiễm Mậu không phải là truyện xã hội… Vấn đề đặt ra ở đây, không phải là làm thế nào mang lại cơm áo cho những người đói rách, nhưng vấn đề là tạo ra trong mỗi người đang đói rách một ý thức về những giá trị siêu việt trầm tích trong tâm hồn họ… Vấn đề ở đây là một vấn đề siêu hình, thuộc về định mệnh ” (Võ Phiến, sđd, trg 708).

Điều mà nhà phê bình Đặng Tiến nhìn thấy ở Dương Nghiễm Mậu cách đây non nửa thế kỷ có lẽ khá chính xác đối với toàn bộ tác phẩm của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, bởi sau 1975, ngoài thời gian bị tù đày, làm sơn mài kiếm sống, hầu như ông không viết gì, hiếm khi tiếp xúc với những “kẻ lạ mặt”. Duy nhất độc giả chỉ mới được đọc tập truyện vừa ở dạng ebook trên mạng có tựa Lênh Đênh Qua Cửa Thần Phù và ở đó, trong truyện này, ông cũng đã tạo ra trong mỗi người đang đói rách một ý thức về những giá trị siêu việt trầm tích trong tâm hồn họ. Cũng lại là vấn đề siêu hình và thuộc về định mệnh!

Cái định mệnh khốc liệt ấy, không phải do ông tạo ra, ông không có quyền dựng lên. Nó chỉ là cái hiển nhiên của xã hội đã đẻ ra nó, để những đứa con xác xơ Chí Phèo bị quăng ra giữa đời, để những Xuân tóc đỏ, những chị Dậu… buộc phải hiện hữu trong thời hiện đại rất đỗi ma quỷ. Thời đại đang có sự lẫn lộn giữa thiện và ác, giữa quỷ và người. Và ông, với thiên chức của nhà văn, đã ghi lại trung thực.

Điều đáng tiếc duy nhất ở phía người đọc trong nước bây giờ, giống như tủ sách trống không của ông, chúng ta không còn có quyền giữ lại một tác phẩm nào của các nhà văn miền Nam để nhẩn nha đọc lại, để có cái nhìn chính xác hơn về nhân vật, về nội dung sau bao nhiêu năm bị đóng kín sau “khung cửa hẹp”. Dẫu không còn tác phẩm trong tay, nhưng những gì chúng ta đã được đọc trong 21 tác phẩm ông để lại cho đời là những dự báo, là những cơn đau quặn thắt cho mỗi chúng ta, những người còn chút lương tri, dẫu ở trong hay ngoài nước, như blog Bút Chì đã viết, được Dân Luận trích đăng và dẫn sau đây:

Em lớn lên, em nhìn xung quanh, em học và suy nghĩ, có bao giờ em nhìn thấy gì, nghe thấy gì ngoài những băng rôn khẩu hiệu khoa trương trống rỗng, những lời lẽ sáo mòn vô nghĩa, những bài học khô khan buồn ngủ? Em lớn lên, em xem ti-vi và đọc báo, em có bao giờ thấy những con người béo tốt đang tự giao cho mình trọng trách cầm lái cho đất nước dám đứng lên nói một cái gì không cần cầm mảnh giấy, nói một cái gì không làm em buồn ngủ, nói một cái gì mới trong suốt từng ấy năm? Và giả như có lúc nào họ nói không dùng giấy, hoặc thậm chí nói với sự chuẩn bị  kỹ  lưỡng trước khán giả nước ngoài, có phải em sẽ nhận ra ngay sự ngu dốt, ấu trĩ, độc ác và chết chóc trong từng hơi họ thở? Làm sao em có thể mơ đến việc họ có thể kể cho em nghe về những hy sinh mất mát của tiền nhân, về những khó khăn đau khổ của hiện tại, về việc tiếp nối một truyền thống nào và hướng đến một tương lai ở đâu. Không, họ không kể với em gì cả. Họ luôn xuất hiện chớp nhoáng sau những chiếc mặt nạ rồi nhanh chóng lủi đi mất

(https://danluan.org/…/but-chi-ke-chuyen-emnghe-tu-nuoc…).

Tôi không dám chắc chủ blog này đã có đọc Dương Nghiễm Mậu hay chưa? Nhưng hơn hết, có lẽ anh (chị) chủ blog này thuộc thế hệ trẻ, thế hệ có lương tri, có suy nghĩ, thao thức, dằn vặt về vận mệnh dân tộc. Những ray rứt trên kia, có phần nào giống với các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu từng băn khoăn, ray rứt và bất lực?

Và, ông Mậu bây giờ cũng có những chiếc mặt nạ ma quỷ, nhưng không phải để treo lên tường như một cách làm dáng thường thấy ở loại nhà văn rởm, cung đình, mà làm ngay trên mặt ghế đẩu, bằng sơn mài để ông ngày ngày kê đít lên, bạn bè tới thăm kê đít lên.

“Dù vũ trụ có đè bẹp con người, con người vẫn lớn hơn những gì đã hủy diệt nó. Người ta nhớ lại câu nói đó của Pascal khi đọc Dương Nghiễm Mậu” (Đặng Tiến, Vị trí con người dưới mắt Dương Nghiễm Mậu, Bách Khoa số 154).

Những nhân vật của Dương Nghiễm Mậu, kể cả chúng ta, đang bị “đè bẹp” và chúng ta “vẫn lớn hơn những gì đã, đang hủy diệt nó”.

Đó là thái độ của kẻ sĩ.

Sống tự do hay là chết.

Đó là cách chọn lựa của kẻ sĩ bất lực!

(Udon Thani tháng 12/2012)

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

▀▀▀▀▀▀▀▀▀▀

 

Vương Trí Nhàn

KỸ THUẬT VĂN XUÔI DƯƠNG NGHIỄM MẬU

 

Với tôi việc theo đuổi đề tài DNM ngay từ những năm trước 1975, thực ra còn để thỏa mãn một nhu cầu khác. Đó là tìm hiểu các vấn đề kỹ thuật văn xuôi theo hướng hiện đại mà đọc phê bình văn học phương Tây, tôi thấy người ta thay nhau đào bới khơi gợi.

Hồi đó, ngoại trừ một vài người đặc biệt như Nguyễn Thành Long …, các tác giả văn xuôi ở Hà Nội rất ít khi bàn với nhau về cách viết, về giọng điệu văn xuôi hoặc cụ thể hơn như độc thoại nội tâm như dòng ý thức. Không biết thì lấy gì để bàn. Vả chăng hồi ấy lo lắng băn khoăn về hình thức là sa vào nghệ thuật vị nghệ thuật là muốn học đòi phương Tây nhảm nhí.

Trong khi đó, thì ở Sài Gòn tôi thấy các cây bút văn xuôi thể nghiệm rất nhiều. Có người còn bàn, nhiều người chỉ lẳng lặng viết và DNM là một ví dụ.

Những trang viết của ông đủ sức gợi ra niềm tin và chỉ ra sự cần thiết của việc đổi mới đó.

Tôi đã chép và đọc lại nhiều lần để tìm ra cái bí mật tại sao nhà văn này có thể viết những đoạn như đoạn sau:

Kim đã lấy chồng, đã sung sướng ra sao. Tôi lặng lẽ nhớ về những gì đã có. Trong những người đến với em, anh là người yêu em hơn hết. Em ngoại tình trong tư tưởng phải không anh. Tôi mỉm cười. Có điều anh ngu phải không. Kim lặng im. Có lẽ anh không yêu em như em tưởng. Tôi nói tùy em nghĩ. Thời gian đã trôi, đã trôi, mới đầu tôi tưởng tôi không yêu nhưng cho đến nay tôi rõ tôi yêu Kim.

Trong khi  không còn đủ sức để tiếp tục tìm hiểu kỹ thuật văn xuôi nữa, tôi chép lại ở đây một số nhận xét của báo chí Sài Gòn trước 1975 về phương diện này của ngòi bút DNM. Xuất xứ ở đâu thì tôi đã cẩu thả không ghi đầy đủ, song chẳng lẽ chỉ vì vậy mà không giới thiệu với bạn đọc?

Nhân đọc Sáng mùa xuân: Trong văn DNM (và có lẽ trong văn tiểu thuyết mới, dòng ý thức nói chung) lời nói của nhân vật cũng là sự việc, cũng là một cái gì tiếp nối trong dòng sự việc đang triền miên.

Nhưng điều này, —  ngược trở lại, — mới quan trọng. Là các sự việc trong đó cũng tiếp nối, cũng là một thứ cầu nối, nó liền lặn trong mạch văn thành một thứ mạch nối của tác giả suốt từ đầu đến cuối.

Mời ông vào, tôi quay lại, một người tớ gái đang mời chúng tôi, bà cụ cười, chúng tôi cùng bước vào trong vườn.

Trong văn DNM, có lúc thấy lời nói liên tiếp tuôn chảy, lời nói đơn điệu, và tác giả làm nổi khá rõ cái đơn điệu ấy, bằng cách tô đậm cho cái đơn điệu ấy.

Đấy, hàng ngày chúng ta ăn nói với nhau mới vớ vẩn làm sao, nhạt nhẽo làm sao – dường như tác giả nói vậy. Cũng như ông, văn ở bên ngoài giọng điệu, và bên ngoài thơ, như một tiếng nói trong đời sống vậy. Cuối cùng, tác giả mới dành cho mình một điều kiện để nói lại. Cuối cùng tác giả mới chứng tỏ không, nói thế thôi, nhưng cuộc đời nó còn những phía ở sau, mà mỗi người không làm sao biết được.

Có lúc, DNM không gọi tên nhân vật, DNM cho không gian thời gian mất đi cái cụ thể, và những con người vừa bơ vơ, vừa phải quan hệ với nhau.
Chúng ta nhớ, bắt đầu là một DNM tượng trưng (tập Cũng đành). Một lúc nào đó, DNM lại đi vào những chuyện rất cụ thể (ký sự). Và bây giờ DNM lại tượng trưng trở lại.
Cái diều hâu trong đời, trong tác phẩm, sau những lúc phát biểu, lại trở thành một cái gì rất xa lạ. DNM thường không ngồi chung.
Đọc DNM bao giờ cũng thấy một tiếng nói, tiếng nói của tác giả một mạch văn mang văn tác giả. Mọi chuyện vào đây đều chịu sự chi phối của phong cách ấy.

(nguồn: Blog Vương Trí Nhàn: http://vuongtrinhan.blogspot.com)

 

▀▀▀▀▀▀▀▀▀▀

 

MAI THẢO
Con đường Dương Nghiễm Mậu

 

Khoảng cuối thập niên 50 và bắc cầu sang đầu thập niên 60 – cây cầu đến nay còn soi bóng tuyệt đẹp trên dòng sông đất nước – những tấm lòng đồng chí với những phá vỡ và những làm mới của văn học và cho văn học, đã được liên tiếp chứng kiến gần như trong cùng một thời điểm, hai cuộc lên đường đi về những chân trời phía trước của một thế hệ những người cầm bút ở miền Nam.

Lên đường thứ nhất khởi sự từ Lên Đường Lớn: từ hiệp định chia đôi đất nước, từ Bến Hải và vĩ tuyến 17, theo những bước chân trùng trùng của di cư một triệu. Đội ngũ tiền phong của nó là Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn và Nguyên Sa, những người trước vào từ miền Bắc, bài thơ thứ nhất viết dưới những mái lều vải tạm trú của sinh viên, hai người sau “viễn phương” hơn, lên khỏi những hầm rượu tả mạn sông Seine, mới từ Pháp về. Những vì sao đầu này của một vòm trời văn chương vừa dựng thoạt đầu là những lấp lánh lẻ tẻ. Trên tờ Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, tờ Đời Mới của Nguyễn Đức Quỳnh, Trần Văn Ân, tờ Lửa Việt, Người Việt của sinh viên Hà Nội di cư. Rồi sau cùng đến với nhau thành một họp mặt chung trên tờ Sáng Tạo.

Lên đường thứ hai, đã thấp thoáng trong dấu chân lên đường thứ nhất, nên có thể coi như một đồng hành, làm một gờm thành đầy khí thế của những người viết trẻ, tất cả đều ở tuổi hai mươi, và diễn đàn chính của họ là tờ Văn Nghệ, chủ nhiệm Lý Hoàng Phong, anh ruột nhà thơ Quách Thoại. Họ là Viên Linh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Du Tử Lê, Đỗ Quý Toàn, Trần Đức Uyển, là Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng. Và một người viết mới, tuy cùng một lên đường với bằng hữu nhưng độc lập, tách biệt, như đi một mình trên con đường riêng. Đó là Dương Nghiễm Mậu.

Những người của hai lên đường làm mới văn học nói trên, đến nay tuy đã mấy chục năm, nhưng với phần lớn tôi đều giữ được những kỷ niệm về lần đầu gặp mặt. Kỷ niệm với mỗi người mỗi khác. Thanh Tâm Tuyền, căn gác xép ám khói ở toà soạn Dân Chủ, hắn hỏi xin một điếu thuốc và tôi tưởng hắn là thợ sắp chữ. Nguyên Sa, cái mũ trắng thầy giáo, lần đầu tới Sáng Tạo, gọi tôi vào phòng trong dậy một điệu nhảy swing. Cái áo thun cũ, cái quần xà lỏn của Doãn Quốc Sỹ, bữa ăn trưa đãi tôi ở Đại Học Xá. Cung Trầm Tưởng, cái cà-vạt đỏ chói, tóc đỏm dáng từng sợi. Viên Linh mặt mày cau có giận dữ vì đến đưa thơ tôi còn ngủ vùi, cửa toà báo treo tấm biển đi vắng. Trần Thanh Hiệp không nhìn lên, vùi đầu vào cuốn tự điển to gấp hai người Hiệp. Quách Thoại, cái anh chàng khả ố ngất ngưởng ở tiệm ăn Thanh Thế, lần gặp đầu đã tự nhận là vua thơ một thời. Nhưng kỷ niệm về lần thấy đầu, biết đầu với Dương Nghiễm Mậu là vô tình và lý thú nhất, sau này tôi kể chuyện lại, anh em còn cười lớn với nhau.

Nhớ đó là một buổi trưa rảnh rỗi, tôi ghé vào thăm một diễn đàn bạn. Người bạn đang cắm cúi làm việc. Tôi kéo ghế ngồi hút thuốc lá, thấy ở cạnh mình một cái sọt rác đựng đầy những bản thảo gởi đăng không đăng và liệng bỏ đi. Buồn tay tôi nhặt những tờ bản thảo bị xé bỏ ấy lên coi. Cuối cùng và ở tận đáy cái sọt rác ấy là một bản thảo truyện ngắn. Tôi đọc mấy dòng đầu, giật mình vì lối vào truyện mạnh dạn, mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới. Đọc tiếp mấy trang nữa; tôi hỏi người bạn: “Bỏ đi tất cả đây à?” Người bạn không ngửng đầu lên: “Ừ, đã đọc rồi bỏ không đăng” “Moi lấy đi được không?” “Để làm gì vậy?” người bạn ngạc nhiên hỏi.”Mặc moi” tôi nói, và cất cẩn thận cái truyện ngắn bị vất bỏ ở một diễn đàn bạn vào túi áo, trở về đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm. Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc lóng lánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi cái hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu. Hạt ngọc bị vất bỏ ấy và tôi đã tình cờ lượm được, đúng là một hạt ngọc. Bao năm rồi không đọc lại tôi chẳng thể nhớ hết từng chi tiết của truyện chỉ nhớ cái chàng nào đó với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu đã có ở Rượu Chưa Đủ một đoạn văn kết thúc tuyệt hay. Đoạn văn tả người anh đến đón em ở viện mồ côi. Hai anh em cùng mồ côi cha mẹ từ sớm. Hai anh em đi lang thang một ngày trong thành phố, không có một đồng xu nhỏ. Buổi chiều, trước khi đưa em trở về viện, người anh dẫn em vào một công viên, yên lặng lấy đất đắp thành những mô hình sông núi quê hương, thầm nghĩ hai anh em trơ trọi giữa đời, thôi bầy trò chơi đắp hình sông núi với em, để có được cùng em, dù một cách rất tội nghiệp buồn rầu, một ý niệm về điểm tựa, về nguồn gốc. Thật là chững chạc và cũng thật là cảm động. Đó là truyện ngắn thứ nhất của Dương Nghiễm Mậu.

Sau này, ngắm nhìn một Dương Nghiễm Mậu đã nhanh chóng nổi tiếng, đã có hàng chục tác phẩm được in ra, có được thêm những nhận thức mới về cõi văn sáng rỡ một tâm thức thời đại vô chừng nghiêm chỉnh hiếm thấy ở một người viết trẻ, tôi vẫn mãi mãi nhớ đến hai đứa bé mồ côi đắp hình sông núi quê hương trong sáng tác Rượu Chưa Đủ tôi lượm được trong sọt rác một tòa báo của Mậu. Một công viên vắng lặng. Công viên đó chính là hình ảnh con đường văn chương Mậu đã mở ra và đi trên đó, một mình. Những mô hình sông núi quê hương. Đứa nhỏ mồ côi nghiêm chỉnh, sớm hiểu biết, ý thức trong truyện cũng chính là Dương Nghiễm Mậu, đã đắp xong và rất hoàn chỉnh, những mô hình sông núi cho cõi văn, cõi viết của mình.

Tuần lễ trước đây, ở một lá thơ của một người bạn thân gởi sang từ Sàigòn, có một đoạn bạn tôi vắn tắt cho hay về Dương Nghiễm Mậu sau 1975. Dương Nghiễm Mậu không đi năm 1976, phải trình diện học tập cải tạo, bị giam ở trại tập trung Phan Đăng Lưu Gia Định, hơn một năm sau được thả về cùng một đợt với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca. Thư kể Mậu bây giờ làm việc ở một xưởng sơn mài thành phố, vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà cũ vùng ngoại ô Trương Minh Ký, một đời sống từ lâu đã biết làm cho đơn giản đến tận cùng khiến nghèo túng đến mức nào cũng không còn là thảm kịch, và dẫu ở cảnh ngộ nào cũng thư thái ung dung. Thư kể Mậu đi bộ khoan thai trên hè phố, cái dù đen nơi tay, cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười tươi tắn. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, vẫn là Dương Nghiễm Mậu ấy, sau Rượu Chưa Đủ đến tìm tôi và đưa thêm những truyện mới, những sáng tác mở đầu cho sự nghiệp văn chương tốt đẹp này của Mậu đều được trang trọng giới thiệu trên tờ Sáng Tạo Bộ Cũ và Bộ Mới. Nụ cười tươi tắn, cái nhìn hóm hỉnh. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, độc lập một trời riêng, tách biệt một đường riêng, phản chiếu trong văn viết và trong một tấm hình nổi tiếng độc đáo của Trần Cao Lĩnh, Mậu nhắm mắt mỉm cười dưới một mặt kim đồng hồ kim phút kim giờ cùng ngộ nghĩnh rớt xuống.

Sau biến cố 1975, trước khi bị truy nã và do đó đứt hết liên lạc bằng hữu, tôi còn gặp Dương Nghiễm Mậu nhiều lần. Một lần ở cổng xe lửa số 6. Trời râm mát mà tác giả Địa Ngục Có Thật vẫn chiếc dù đen trong tay, như một vật tùy thân. Mừng rỡ đứng lại trò chuyện giữa tan hoang Cộng Sản đã vào. Mậu cười nói với tôi: “Nhiều chuyện lạ lắm sắp xảy ra, đây chỉ là bắt đầu và anh em mình sắp nhìn thấy”. Rồi kể là đã sắp đặt tức khắc xong xuôi đời sống. Đã đơn giản còn cho đơn giản hơn nữa. Đã thu hẹp còn cho thu hẹp hơn nữa. Để lúc nào phải đi thì đi.

Ít lâu sau, quả nhiên Dương Nghiễm Mậu đã “phải đi”, cùng với anh em văn nghệ sĩ miền Nam. Đi thẳng vào trại tập trung Phan Đăng Lưu. Một lần khác, gặp trên hè đường Tự Do, xế cửa nhà sách Xuân Thu. Mậu, một cây dù Tú Xương, tay kia xách một túi giấy, nói ở trong là một cái chăn len, đồ dùng quý nhất còn lại trong nhà, và Mậu đang trên đường ra chợ trời Tôn Thất Đạm bán lấy ít tiền đem về cho vợ mua gạo. Kể chuyện khốn quẫn mà cười thật vui, nét mặt sinh hoạt, ánh mắt riễu cợt. Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở nghệ sĩ ta một số bản lĩnh chói lòa. Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong nghịch cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình. Nhưng tươi tắn, vững vàng và trong sự trẻ trung đặc biệt, gần như không có tuổi, thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đoán thấy, sự kiêu hãnh tuyệt của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.

Lần sau cùng gặp, thời gian này Mậu vừa được trả tự do, là chiếc dù đen hiền triết tôi nhìn thấy ở trước rạp chiếu bóng Trương Minh Giảng. Lần đó, kẻ bên này đường, kẻ bên kia, tôi đang bị truy lùng ráo riết, nên chỉ nhìn nhau gật đầu, vẫy tay chào không ai đứng lại. Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng tôi nhớ vừa đi vừa còn nhìn lại, nhìn cây dù đen văn chương xa dần, lòng đầy quý mến.

Bạn hữu còn kể ít nhiều chuyện về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng Lưu. Như về cái thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp với anh em cùng tù, đặc biệt là với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo ngược nóng nảy, Mậu vắn tắt khuyên: “Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ”, và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an toàn, nhất nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của anh “Dương Nghiễm Mậu”. Một chuyện ngộ nghĩnh về Phan Đăng Lưu: Buổi sáng hai anh em được trả tự do, Nhã Ca có người đến đón ở cửa trại, Mậu không có ai, Nhã Ca còn 5 đồng trong túi, Mậu không có một đồng nào. Nhã đưa cả 5 đồng cho bạn, để đi xe. Mậu cầm tiền cười lớn: “Anh là ông vua đi bộ ở Sàigòn, cần gì xe cộ nữa” và dùng 5 đồng của Nhã Ca ung dung vào quán uống cà phê. Chi tiết này đủ cho thấy bản lĩnh Dương Nghiễm Mậu trong nghịch cảnh.

Một chuyện ngộ nghĩnh khác, vẫn về Phan Đăng Lưu. Chẳng hiểu vì lý do nào cùng với Lê Xuyên, tác giả Chú Tư Cầu, Mậu là một trong hai tù nhân văn nghệ bị quản huấn bỏ quên lâu nhất. Mãi gần nửa năm sau, mới được gọi tên. Cuộc thẩm vấn tức cười không thể tả được:

– Dương Nghiễm Mậu. Tên thật Phí Ích Nghiễm.

– Sao lại những hai tên?

– Một tên cha mẹ đặt. Một tên vì nghề nghiệp.

Quản huấn lắc đầu, Mậu không có một hồ sơ tội phạm. Đành hỏi:

– Anh bị bắt vì tội gì?

– Tôi không biết.

– Vô lý. Phải có tội mới bị bắt. Anh làm nghề gì?

Mậu nửa đùa nửa thật:

– Nghề văn nghệ sĩ.

Tên quản huấn dốt nát chẳng hiểu nghề văn nghệ sĩ là cái nghề quỷ gì, nhưng nét mặt rạng rỡ:

– Có thế chứ. Vậy tôi ghi vào hồ sơ tội trạng anh, anh nhớ kỹ nhé, tội anh là tội văn nghệ sĩ.

Tội văn nghệ sĩ. Tếu thật. Nhưng cũng là sự thật. Tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, sau 1975, cũng bị đem ra trưng bày tại phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy như sách của chúng tôi. Nội dung những tác phẩm Dương Nghiễm Mậu cũng bị đem ra mổ xẻ và đả kích thậm tệ ở các lớp học, các buổi họp và trên đài phát thanh Cộng Sản. Cái “tội văn nghệ sĩ” do tên quản huấn dốt nát định cho Mậu ở buổi thẩm vấn Phan Đăng Lưu, tôi biết. Mậu công nhận và còn thầm công nhận mãi. Như một ở cùng cảnh ngộ với bằng hữu. Như một tin tưởng vĩnh viễn ở chính mình, và qua bản thân, ở văn chương. Văn chương với Dương Nghiễm Mậu, mang ý nghĩa tốt đẹp nhất và toàn vẹn nhất của một tự thành. Con đường đi vậy là trước sau thông suốt. Những bước chân đi trên con đường ấy vậy là đã tới. Tôi vẫn nghĩ trở lại cái truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu tôi nhặt được trong một cái sọt rác và đăng lên một số Sáng Tạo năm nào. Đứa trẻ mồ côi im lặng đào đất chơi trò đắp hình sông nước quê hương. Trò chơi tuyệt vời ấy đã hoàn tất. Nó cũng là cái trò chơi chúng ta cùng nhìn thấy là tuyệt vời và đã hoàn tất, bằng văn chương của người viết văn đi một mình trên con đường mình là Dương Nghiễm Mậu.

Tin nhà đưa sang cho biết hiện giờ nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã trở thành công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Bằng hữu văn nghệ ở Sài Gòn gần như trên hết thảy đã ngừng viết và đã phải đổi nghề. Để sống. Để có lao động, để được yên thân. Nghe nói Nguyễn Thụy Long đi đạp xích lô. Nghe nói Trần Lê Nguyễn bán sách cũ. Nghe nói Nguyễn Đình Toàn nuôi thỏ nuôi gà ở làng Báo Chí cũ. Tất cả đều dãi dầu, tất cả đều sương nắng. Nghe những tin nhà về bạn bè, thấy lòng xót xa buồn rầu, nhìn thấy những khổ cực đang chồng chất lên những thân thể chữ nghĩa thất thế và đang phải sống giữa chế độ hiện giờ của chúng ta. Riêng nghe tin Dương Nghiễm Mậu bây giờ làm công nhân một xưởng sơn mài thành phố, không hiểu sao tôi lại thấy vui vui và muốn cười. Có lẽ vì Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn, và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh. Cũng có lẽ vì tôi thấy Mậu vững chãi nhất, chẳng phải buồn phiền và xót xa cho hắn.

Công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Cây dù đen Tú Xương. Đúng là cảnh “Sáng vác ô đi tối vác về” rồi nhé. Dương Nghiễm Mậu! Những tấm sơn mài. Cây dù bên cạnh. Tôi đang hình dung ra Dương Nghiễm Mậu ngồi một mình một góc trong một xưởng thợ Cộng Sản, trước những tấm sơn mài ấy. Muốn hỏi Mậu ở Việt Nam nghìn dặm : “Những tấm sơn mài ấy có vẽ hình sông núi quê hương?” Chắc là có. Chắc là có. Không trên tranh thì trong tim, trong hồn, trong thức, trong ý. Và cái nền của sơn thì vẫn là một con đường. Con đường đi qua đời sống. Con đường đi qua văn chương. Con đường đẹp nhất, vì con đường thẳng tắp. Con đường đẹp nhất, vì là con đường một mình. Cuối cùng là đứa trẻ mồ côi trong truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu sự thực không bao giờ mồ côi. Mồ côi là những kẻ khác kia.

MAI THẢO
▀▀▀▀▀▀▀▀▀▀

 

TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT
Khuất Đẩu đọc và bình

  

Dù là một nhà văn được nhóm Sáng Tạo phát hiện, nhưng Dương Nghiễm Mậu không viết như Mai Thảo, nghĩa là không cách tân lối viết,  không quá chú trọng làm sao cho mỗi chữ gõ lên nghe leng keng.

Ông có vẻ như một “phu chữ” kiên nhẫn “gánh” những con chữ như cách Hữu Loan gánh từng tảng đá, để dựng nên ngôi nhà chữ nghĩa của mình. Ngôi nhà ấy, mới trông rất bình thường nếu không muốn nói là tầm thường.

Nhưng bước vào trong, cái vừa hấp dẫn vừa làm ta ngài ngại, chính là không khí trong mỗi truyện, một không khí hơi lành lạnh, hơi u uất, hơi dằng xé. Truyện nào cũng đau đau, buồn buồn, để lại hay làm bật lên trong lòng người đọc những suy nghĩ, những băn khoăn thực khó gọi tên, nhưng rất gần và rất thực.

Như truyện có thể gọi là rất mỏng và rất nhẹ của ông mà tôi sắp nói tới đây: truyện Tiếng sáo người em út.

Truyện không hơn 10 trang in, chỉ có 3 nhân vật. Người anh cả, người em út và người cha vừa mới chết.

Người anh cả về thăm nhà không báo trước, nghe tiếng sáo của người em út không còn thô mộc mà nay đã chín, cảm thấy rất vui. Người anh vào nhà, thấy cha đang nằm, để yên cho cha ngủ. Nói chuyện với người em đang xúc lúa từ cỗ áo quan, mới biết người em gái kế đã chết. Nói về ông nội, về mẹ. Sau cùng người em út nhờ người anh cả giúp mình khiêng cỗ áo quan lên nhà trên. Người anh nhíu mày: “Mang lên làm gì?”. “Cho cha nằm”, người em nói. Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp: “cha chết rồi sao?”. “Cha đi tối hôm qua”. Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đập rồi tiếng khóc oằn lên…

Những sự việc nêu trên tưởng là rất bình thường hóa ra rất kịch tính. Từng lớp, từng lớp như những cánh cửa gỗ trong một ngôi nhà cổ mở dần ra, để sau cùng dẫn người đọc tới cái nỗi đau òa vỡ của người anh cả: sau bao nhiêu năm mới về thăm nhà thì cha đã chết! Chỉ ba chữ khóc oằn lên đã cho ta thấy được cái bất hạnh nghẹn ngào của đứa con tự kết tội mình.

Nhưng nếu chỉ để kể lại một câu chuyện buồn như thế thì chắc tác giả cũng không muốn kể làm gì. Tác giả còn muốn hơn thế nữa. Muốn qua người em út nói đến cách sống và cách nhìn đời của người cha. Một người, cả đời không làm gì quấy, không có gì phải hối hận…cha nhẹ lòng khi nhắm mắt có con ở bên. Con hãy thổi sáo cho cha nghe. Và em đã thổi sáo từ đêm qua đến giờ…

Người em út mới đọc lướt qua, tưởng đó là một người vô tâm nếu không muốn nói là không giữ tròn chữ hiếu. Cha chết mà lại đi thổi sáo! Chẳng tẩm liệm, chẳng để cha mang theo một thứ gì ngoài những hạt thóc đựng trong ruột tượng của mẹ. Tự mình bồng cha lên đặt vào cỗ áo quan, để cha gối đầu lên đó. Cũng không ma chay, chỉ có bát cơm trắng mời cha cùng ăn với hai anh em. Cũng không trống kèn ỉ eo, chỉ có mỗi tiếng sáo đơn độc của mình!

Nhưng đó là một người con trai út rất hiểu cha, yêu cha và   biết nối chí cha, dù giặc giã, dù trâu không còn một con cũng cố bám lấy đất vì đất vẫn chung tình cho họ từng hạt lúa. Khi người em thổi cơm, từng hạt gạo rơi xuống gặp phải lửa thành bỏng gạo, người em nhặt lên bỏ vào miệng chứ không để cháy thành than. Và tuy người em út bảo anh về thì em sẽ đi, nhưng cuối cùng: anh nghĩ em bỏ nơi này mà đi được sao? Ai cũng bỏ đi cả thì nơi này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh lấy đâu nơi để trở về?

Người em út qua những cử chỉ, lời nói có vẻ không còn là một người em nhỏ bé nữa. Anh ta sống bên cạnh cha từ nhỏ, chứng kiến bao nhiêu cái chết, bao nhiêu đổi thay chẳng những đã trưởng thành mà còn trở nên già dặn, sâu sắc. Ta có cảm tưởng người anh cả đang nói chuyện với cha mình chứ không phải với người em út. Hay nói cách khác, chính người em út là hình bóng còn đọng lại của người cha.

Người anh cả, thời gian và đường xa đã dạy cho anh những gì? Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh đâu có sống với những điều đó? người mà mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết.

Người anh trở về ít nhiều mang mặc cảm tội lỗi với gia đình. Nhưng đó không phải là một người phá gia chi tử, không đàng đúm ngược xuôi mà bỏ nhà đi vì một mộng tưởng nào đó, cho dù là lạc đường dại dột. Người cha với lòng thương con, đã bênh vực người anh cả khi nói, anh đã sống thay cho cha.

Trong truyện Gia tài của mẹ, người mẹ chính là hình ảnh tượng trưng của một nước Việt Nam nội chiến từng ngày. Thì ở truyện này, tôi cũng thấy một nước Việt Nam qua hình ảnh của người cha nghèo dù trải qua bao đời vẫn bám giữ lấy đất và truyền lại ý nguyện đó cho thế hệ mai sau.

Truyện được viết tại Sài Gòn, 1974. Gần 40 năm sau, đọc lại mà giật mình. Những ruộng đồng Việt Nam, giờ rất thiếu đàn ông, chỉ có đàn bà và các người già là còn cố bám lấy đất.

Người anh cả ấy, giả dụ như ra đi từ sau 75 liệu lúc này trở về có còn được nghe tiếng sáo của người em út? Một tiếng sáo rất nhẹ nhàng nhưng là tiếng sáo nhẫn nhục của người ở lại. Tiếng sáo không than van, không oán trách, nhưng sao nghe rất bùi ngùi.

bỏ nơi này mà đi được sao, nên tác giả sau 75 không ngờ lại là “người em út”, người sống với bao nhiêu đổi thay, bao người đã chết, quyết trụ lại nơi này dù biết rằng ô nhục, tù đày vì nếu không thì những người như các anh lấy đâu nơi để trở về?

Trên tôi đã nói, những con chữ của tác giả rất thô mộc. Không kéo lê thê với những tính từ trùng lắp không cần thiết. Tôi có cảm giác những con chữ ấy là những hạt gạo trên sàng, nghĩa là tác giả đã lọc lựa rất kỹ, nhất là những hạt sạn. Người khác, có thể vì tiếng sáo mà kết thêm hoa lá cành để có thể là tiếng sáo của Trương Lương, hay của Trương Chi. Nhưng ở đây: tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay tiếng sáo đã chín. Từ thô mộc/non nớt/chập chững đến đã chín là cả một khoảng thời gian dài. Những lần tiếng sáo cất lên, đều vui tươi thanh thoát, chỉ sau cùng, khi chôn cha xong, mới bi thiết.

Tiếng sáo ấy tuy phát ra từ hơi thở của người con út, nhưng thực sự là tiếng lòng của người cha. Vì thế, khi thổi xong, người em út đã cắm chiếc sáo trên mộ cha. Cử chỉ này gợi nhớ đến người xưa trả kiếm bên mộ. Lòng hiếu thảo của người em út thật khác người, bi tráng.

Tác giả cố ý không đặt tên cho các nhân vật. Chỉ nhắc đi nhắc lại, người cha, người anh cả, người em út. Vậy nên, người nào cũng có thể là người cha, người anh cả và người em út trong mỗi gia đình Việt Nam. Có nghĩa rằng ít nhiều người đọc bồi hồi thấy thấp thoáng hình bóng của mình trong đó.

Tiếng sáo nói lên được tiếng lòng của người cha, thì cỗ áo quan lại nói lên cả một khoảng thời gian dài từ ông nội với cái án xử bắn, với đứa con gái chết chùm một lúc bốn người không nhặt được xác để chôn, nó gợi nhớ đến một cuộc chiến tranh quá dài, dài đến nỗi không còn làm ai xúc động được nữa trước cái chết. Và tấm nhiễu đỏ, được chôn theo cha, phải chăng là máu và nước mắt từ nay hãy tan vào lòng đất để cho cây lúa lại mọc lên tươi tốt?

Nhiều người thường nói tới cái hiện sinh mà Dương Nghiễm Mậu chịu ảnh hưởng của các trào lưu phương tây. Tôi nghĩ, cũng chỉ là một chiếc áo mà chính họ cho là đẹp, là mới, muốn khoác lên tư tưởng Dương Nghiễm Mậu, thế thôi. Tư tưởng của ông rất Việt Nam, rất nhân hậu. Có ảnh hưởng chăng là cách viết, cách dùng câu chữ, cách dựng truyện của ông. Mỗi chi tiết đều phải thật cần thiết, phải sắp xếp sao cho thật khoa học. Từ chiếc sáo đến cỗ áo quan, cái ruột tượng của mẹ, bát cám lợn, bát cơm… đều được đặt đúng lúc đúng chỗ. Vì vậy, truyện không lan man mà chặt chẽ như một kịch bản phim. Trọng tâm của truyện là tâm hồn và nhân cách của người cha được bao quanh những lớp vỏ như một củ hành. Cái lõi cay nhất, nồng nhất nằm ở lớp vỏ tận cùng. Chỉ một cái ruột tượng của mẹ đựng đầy lúa để gối đầu cho cha, cũng đủ cho ta thấy ông yêu vợ đến thế nào. Và cũng chỉ có người con út mới hiểu được tình yêu đó của ông.

Tôi thấy cách viết đó phảng phất như E. Hemingway viết Lão ngư ông và biển cả. Cái bộ xương cá bên cạnh chiếc thuyền tơi tả kia nếu tác giả không đưa vào truyện thì coi như đã không có một Lão ngư ông và biển cả làm xúc động cả thế giới.

Truyện cũng gợi nhớ đến Malentendu của A. Camus, ở đó người em gái Martha đã nguyền rủa người anh vắng mặt của mình với tất cả căm hận, vì thế mới đưa đến ngộ nhận đến nỗi người mẹ giết con. Ở đây, người em không kết án người anh, tuy có ít nhiều trách móc anh đã bỏ nhà đi. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện tuy có vẻ buồn nhưng không đến nỗi trở thành bi kịch. Vẫn có chỗ cho tình anh em, tình cha con, có chỗ cho sự dung thứ. Và đó là cái khác biệt giữa một Âu châu đổ nát sau thế chiến thứ hai với một Việt Nam sau một cuộc chiến tương tàn quá dài.

Chỉ với một truyện ngắn này thôi, ta cũng đã nhìn ra được tầm vóc của một bậc thầy. Phải chăng vì vậy mà Vũ Hạnh đã dùng cái mã tấu “phản động” để “chặt” ông khi thấy tác phẩm này được tái bản?

 06/12/2012

 

▀▀▀▀▀▀▀▀▀▀

“Niềm đau nhức của khoảng trống”  

(Của DƯƠNG-NGHIỄM-MẬU, Thế-kỷ 20, số 4)

                                                    Nguyễn Văn Trung 

 

Cứ để ý ngay những đầu đề truyện ngắn của một số nhà văn trẻ bây giờ, cũng có thể thấy được sự khác biệt về ý-hướng sáng tác của họ và những người lớp trước.

Tiểu thuyết không phải là tả cảnh, tả tình nhưng là một suy nghĩ. Do đó truyện không còn phải là một giải trí, nhưng là một sự thức tỉnh đưa tới nhận định về cuộc đời.

Sự thay đổi ý-hướng đó có thể làm cho nhà văn không cần bận tâm về cốt truyện hay tình-tiết ly-kỳ, rùng rợn hay phức-tạp bi đát. Cốt truyện hay không phải là chủ-yếu của truyện vì sự suy nghĩ có thể khởi điểm từ bất cứ một sự việc nhỏ mọn, tầm thường nào. Do đó, đọc truyện, không còn đi tìm cốt truyện hay, nhưng là xem sự thức tỉnh đạt tới một chiều sâu đến đâu trong việc tra hỏi về ý nghĩa cuộc đời.

Cốt truyện của Dương-Nghiễm-Mậu không có gì đáng kể, nhưng cái hay của nó chỉ ở những suy tư của nhân vật chính là tác giả.

Tác-giả kể một người thanh niên có cái bướu ở cổ vì thế không đi dự dạ hội được với một người con gái mình yêu. Chính người con gái này cũng không muốn đi với Hạnh, tên người thanh niên. Cái bướu là dịp để Hạnh nhận định về số phận ở đời của mình, và câu chuyện trình bày sự hành-trình nhận thức đó của Hạnh.

Kỹ-thuật diễn tả độc-thoại nội tâm, Hạnh suy nghĩ tự hỏi để dần dần khám phá thấy một ý nghĩa cuộc đời. Rất nhiều đoạn trong truyện là một thứ nói chuyện với chính mình: tự tra hỏi và trả lời,…

Ví dụ: “Sao nó lại có ? Sao nó lại lớn ? Rồi có lớn đến chừng nào ? Trong làn da mỏng này là cái gì ? Cái kiếp trước của mình ư ?”

Hay:  “Cái sự thực này làm anh không đến được với em và em run sợ nó. Không tại em, không tại anh, tại cái gì ? Tại người ta ư ? Hay tại cái kiếp trước của anh ?”

Hạnh nhận thấy rằng cái bướu là một sự thừa thãi ở trên thân thể anh, là một quái gở phi lý mà mọi người muốn chối bỏ. Nếu Hạnh sống có một mình ở đời này thì không sao, chàng sẽ nuôi nấng nó, giữ nó lại được.

“Nhưng tôi còn có những ràng buộc vây quanh, nên nó là kẻ xa lạ, một sự quái gở, một hiện tượng quái gở mà mọi người chỉ mặt gọi tên nó”.

Chính vì Hạnh còn có Thúy, người yêu, và xã hội chung quanh mà Hạnh muốn vứt bỏ cái bướu đi. Nhưng có thể vứt bỏ được không? Hạnh đi tìm những lý do có thể đưa tới những giải đáp. Đó có phải là di truyền, do cha mẹ chàng để lại không? Hạnh đi tìm xem lại những ảnh cũ của cha mẹ bây giờ đã mất, không thấy họ có. Hay tại kiếp trước của chàng?

“Anh là kẻ độc ác nham hiểm đã ra cửa này vào cửa kia cho người ta thù ghét và đánh dấu không cho lẩn mặt. Người ta đã điểm danh anh rõ ràng là hiện thân một sự nối tiếp đày ải mà bây giờ anh phải gánh chịu?”

Khoa học bây giờ có thể giải quyết được không? Hạnh đi tìm bác sĩ, nhưng họ xem mà không chữa vì đó là triệu chứng của ung-thư, không nói cho Hạnh biết ; tuy nhiên điều đó cũng làm cho chàng đoán được và buồn rầu bực bội trước một bất lực của khoa học. Hạnh có cảm tưởng đây là một số kiếp, định mệnh không thể tránh được và nhất là không được lựa chọn. “Anh cũng như mọi người không được quyền về sự sinh ra mình”. Nhưng Hạnh cũng nhận thấy: “Anh không thể không được quyền với thực tại”. Hạnh muốn thay đổi số phận, và ít ra, đó cũng là một lựa chọn theo ý muốn của chàng. Hạnh nghĩ đến việc đi tự tử. “Ít nhất ra tôi đã tự chọn cái chết”, tôi đã trách nhiệm một cuộc đời theo ý tôi. Hạnh ra nằm trên đường xe lửa, đợi chờ một chuyến tàu qua sẽ thực hiện sự lựa chọn của chàng. Nhưng chính lúc sắp xảy ra sự thực hiện đó, Hạnh như thấy một tiếng gọi: “Thế chính anh, anh không thể cắt nó đi được ư” làm cho Hạnh nhận ra một sự có thể có một lựa chọn khác, và Hạnh nhỏm dậy, lăn về bên cho chuyến tàu chuyển qua. Chàng về nhà, mua dao cạo, băng, cồn, thuốc đỏ. Thật là giản dị, chỉ cần một chút can đảm là “Tôi tự mang tôi đến đời sống”.

Nhưng Hạnh ngất đi khi cắt cái bướu, người ta đưa vào nhà thương cấp cứu. Khi Hạnh tỉnh lại, viên bác-sĩ đã từ chối chữa chàng mới nói thật cho chàng biết chàng bị ung thư. “Nếu để vậy thì nó phát ra chỗ thừa đó. Cắt nó đi sẽ lan vào trong. Rất khó chữa. Số mệnh của ông không còn bao lâu”.

Bây giờ thì Hạnh nhìn nhận số mệnh. Số mệnh của chàng là một sự cô đơn vì chàng là kẻ xa lạ của mọi người.

“Bao nhiêu năm cô đơn của tuổi trẻ anh đã mang theo – tuổi trẻ của một đứa bé mồ côi lang thang không biết la thét với ai – chỉ biết la thét với những chuyến xe lửa chạy qua mỗi ngày hú còi và phun khói. Chỉ biết mang mình ra khoảng trống đóng lấy những vai trò lừa dối mình. Khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối chích vào thân thể anh… Anh đã đánh lừa và mang anh đến với em –  em đã chịu đựng sự có mặt của anh – nhưng đến bây giờ em không còn đủ sức chịu đựng nữa – em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh. Anh hốt hoảng ở giữa khoảng trống vây quanh anh đã lấp liếm che đậy. Nó hiện ra một vực thẳm sâu vắng. Anh la hét cho tiếng anh trả lại. Anh cũng như mọi người không được quyền về sự sinh ra mình. Nhưng anh không thể không được quyền với thực tại. Anh có quyền về anh nên anh đã cầu cứu mọi người giúp anh, nhận anh là một người như họ. Anh đã cắt bỏ cái bướu để tìm về cõi sống, vì đám đông bình thường. Nhưng không được.

… Thân thể anh còn đây, cái bướu đã mất. Anh khước từ sự hiện diện vô ích của nó nên anh trở thành một sự không thực … Anh là một sự không thực nằm đây… Nhưng, từ đó cho anh biết rằng anh là gì? Anh hơn đám đông vây quanh bởi anh ý thức được sự có anh, mọi người coi họ có mặt nhưng là một sự có mặt hư ảo, không thấy mình. Người ta khước từ anh – điều đó không cần thiết khi anh đối với anh đã là sự có mặt hằng cửu”.

Đó là sự khám phá thấy số phận ở đời của Hạnh. Chúng là một quá khứ, một “hải đảo cô đơn ngàn đời, bởi nó công nhận niềm đau buốt của khoảng trống”, nhưng là một cô đơn có ý thức và ý hướng phản kháng. “Từ khước đám đông, thức giác niềm đối kháng với bộ mặt vô hình nhìn xuống đời sống”.

Hạnh vĩnh biệt tình yêu, cuộc đời và lòng kiêu hãnh trước sự vĩnh biệt đó vì thái độ ý thức phản kháng của chàng.

Nguyễn Văn Trung

(trích Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết, Tự Do 1962)

 

 ▀▀▀▀▀▀▀▀▀▀

 Dương Nghiễm Mậu, Người Đặt Vấn Đề

Phi Ích Bành

  

Trong một thập niên qua, thân hữu tại Hoa Kỳ đã tái bản một số tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu – không nhiều, chỉ 4 hay 5 cuốn. Mới đây (trong năm 2007 thì phải), nhà xuất bản Phương Nam ở Saigon tái bản 4 cuốn của DNM. Trước đó, Hà Nội xuất bản “Tự Điển Văn Học”, dành vài trang về DNM – một số tác giả của Miền Nam trước 75 được nhắc tới, nhưng chỉ sơ sài ít dòng.  Nghe nói trí thức Bắc Hà nhanh chóng mua sạch 4 cuốn tái bản (nghĩa là viết từ trên dưới ba mươi năm trước. Bởi với họ, DNM vẫn là mới về nội dung cũng như hình thức. Ngoài ra, nghe nói có bài đả kích trên vài tuần báo, khiến cả 4 cuốn ấy bị rút lại một cách âm thầm, dường như theo “lệnh miệng”. Với DNM, cuộc sống vẫn là bình thường, với một con nguời đã 75 tuổi (năm 2011). Một ngày như mọi ngày: sáng sớm chạy bộ khoảng một giờ, trở về pha cà-phê, ngồi trên chiếc ghế xếp gần cửa ngó ra đường, thong thả uống cà-phê, hút thuốc và đọc báo. Kể từ khi không còn làm sơn mài (sau 2000) vì thị trường xuống, việc làm hàng ngày của DNM là nấu cơm trưa, chiều cho vợ, con đi làm. Chăm chỉ, vui vẻ. Ở vai trò “nội trợ”, DNM thực hành việc xử dụng ngân sách gia đình có chừng mực, hợp lý, nhưng không hà tiện, khắc khổ. (Tình thật là bạn đời của ông có tiền lương dạy Anh ngữ ổn định). Vài năm nay, một nhà nghiên cứu trẻ người Mỹ gốc Do Thái có vợ Bắc-kỳ, nhà Hà-nội, là khách mới thỉnh thoảng ghé chơi. Khách cũ không nhiều, gồm một bạn học cũ cùng trường Chu Văn An trước 1954. Ông này là chuyên gia lâm nghiệp, làm việc bảo vệ rừng, trồng rừng từ nhiều chục năm, một vài năm lại được các hội nghị quốc tế bảo vệ môi trường thảo mộc mời họp – hầu như mỗi năm hai người bạn già có dịp gặp nhau, vẫn “cậu cậu, tớ tớ” như xưa. Một ông bạn cũ ở miền Nam (đã tái định cư tại Hoa Kỳ, về hưu, sống tại Saigon nhiều hơn California) thì vẫn một mực cay đắng với thời cuộc, không đọc báo, không xem đài truyền hình nhà nước.

Hình như DNM không trả lời một cuộc phỏng vấn nào – ông không muốn giải thích điều gì. Tất cả nhân sinh quan, mọi giá trị ông theo đuổi và chia sẻ với người đọc là nhất quán trong các tác phẩm dài, ngắn của ông. Xin mời quý vị đọc 10 truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu mới xuất bản tại Hoa Kỳ vào cuối Tháng Ba 2011 với tựa đề “Trời Cao Đất Dày”, để  thấy lại sân khấu do tác giả dựng lên cho các nhân vật trong cuốn “Nhan Sắc” nửa sau thập niên 1960 của ông. Như khung cảnh lạc lối Đào Nguyên, như truyện võ hiệp, gần như sử ký Tư Mã Thiên. Bút pháp của DNM tạo ra không khí hư hư thực thực rất thích hợp với lối kể chuyện của ông – như Từ Hải không chết, tiếp tục cuộc sống giang hồ, như nhân vật mưu đồ làm cách mạng tự thấy hầu như bất lực, vào rừng sống với Đồi Hồng… Tôi tin rằng DNM không định cung cấp cho độc giả những trang truyện giải trí mà độc giả có thể không còn giữ lại gì sau khi đọc (là việc đã có nhiều người làm). DNM cũng không chủ tâm tìm kiếm giải thưởng văn chương (dù ông được tặng giải với tác phẩm “Cũng Đành”. Ông muốn nói thay nhiều người của thế hệ trưởng thành hay sắp bước vào đời sau ngày chia đôi đất nước – nửa miền Bắc bị kềm kẹp bởi nhóm người theo đuổi chủ nghĩa gọi là cách mạng vô sản. Nửa miền Nam thuộc quyền lãnh đạo của những viên chức được chế độ nửa thực dân nửa phong kiến đào tạo và một số trí thức “tẩu hoả nhập ma” không thoát ra khỏi sách vở của Tây, Tàu. Đó là chưa kể những phần tử cơ hội. Nói chung là rối beng. Xã hội như thế thì tuổi trẻ hoang mang, lúng túng, dễ lạc đường – nên, một số thanh niên học sinh miền Nam nhảy … núi, để sau này trở về trong bất mãn, vì biết là bị lừa, bị khai thác. Có kẻ đã bỏ mạng trong rừng sâu, hay thân tàn ma dại, trở thành gánh nặng của gia đình.

Xin hãy tạm bàn ra ngoài (không xa đề) về nửa thế kỷ trước ngày tất cả non sông Tiên Rồng thu về một mối, dưới quyền đảng chuyên chính. Thập niên 1930, chúng ta có lãnh tụ Nguyễn Thái Học tổ chức VN Quốc Dân Đảng để đánh đuổi thực dân Pháp – ông và 12 đồng chí ngạo nghễ hô những lời yêu nước bên máy chém. Thật tiếc, đảng hoạt động chưa lâu, chưa phát triển rộng, cách mạng vũ trang không được chuẩn bị đầy đủ để có sức mạnh của quần chúng. Kết cuộc là tuẫn đạo. Thập niên 1940, các chính đảng không CS bị tổ chức của ông Hồ vận dụng mọi quỷ kế để bao vây, cô lập, đánh phá, tiến tới cướp công cách mạng của quần chúng vào tháng 8-1945. Sau ngày chia đôi đất nước, miền Nam tập tành dân chủ kiểu phương tây, hầu như khoán trắng công cuộc chống Cộng cho chính quyền và quân đội – hai lực lượng đó chống Cộng bằng súng đạn, truyền đơn, không hữu hiệu, trong khi trí thức thực hành đấu tranh nghị trường tại Quốc Hội có đủ Thượng, Hạ Viện (như Hồ Hữu Tường, Trần văn Tuyên…). Nhất Linh làm văn hóa và hoạt động chính trị bên ngoài, tham gia đảo chính thất bại, tự sát, thay vì thua keo này bày keo khác. Các chính khách xa-lông muốn dân sự hóa chính quyền thì ngây thơ, bị các tướng tá đè bẹp, loại trừ.

Theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 ở tuổi 18, DNM đã chứng kiến những biến động ấy, và thao thức. DNM không lập thuyết qua các tác phẩm của ông – nhưng, ít nhất, ông chỉ ra một điều: không chỉ có hai đường để lựa chọn. Đó là thông điệp của DNM mà tôi đọc được… trên nền của nhiều truyện ngắn. Tái định cư tại nước Mỹ, chúng ta nhận biết quyền chọn lựa của con người và về cơ hội đồng đều. Tại miền Nam vĩ tuyến 17 sau năm 1954, rõ ràng người Việt Nam có ít nhiều những cơ hội ấy. Tại miền Bắc, hoàn toàn không – chính sách hộ khẩu giam hãm mọi công dân nam phụ lão ấu. Với thanh niên, Bắc Bộ Phủ kiểm soát chặt và khai thác bằng các mỹ từ nghĩa vụ quân sự hay thanh niên xung phong. Học không cần thiết với chế độ toàn trị, chế độ sống bằng chiến tranh, như Mác và Lê-nin dạy “đấu tranh thường trực”. Đọc DNM để thấy chiến tranh là ám ảnh thường trực – những cái chết rất vô lý. Người anh ra thành phố, đi lính – người em ở dưới quê bị ép theo “mặt trận”. Không ai tự quyết định được số phận của mình. “Trời Cao Đất Dày” (từ nay viết tắt TCĐD) tập trung 10 truyện ngắn như một nhắc nhở (không thừa) những ngang trái và bế tắc tại Việt Nam trước năm 1975. Tựa đề TCĐD gợi nhớ câu nói (có lẽ không phổ thông tại miền Trung và miền Nam như ở miền Bắc) khi người bình dân muốn thốt lời oán trách với thánh thần (là Trời Cao Đất Dày) về cuộc sống oan khiên. Như chuyện quan tài của người lính chết trận không tìm được thân nhân để giao…

Viết đến đây, tôi chợt cảm thấy lo rằng DNM kể chuyện hấp dẫn quá, một số người không nhận ra thông điệp chăng. Cũng may là DNM dùng thể loại truyện ngắn – như một cách lặp lại, qua nhiều hình thức, hoàn cảnh khác nhau. Biết đâu chừng, truyện dài, nhiều tình tiết ly kỳ hấp dẫn có thể làm độc giả lạc lối, cuối cùng chỉ cảm thấy được giải trí, như xem Tam Quốc Chí, Phong Thần.

Với DNM, ý muốn của ông là thông điệp “không chỉ có hai đường để chọn – trước 1975”. Ông thấy điều đó, và đặt vấn đề. Có lẽ bởi chính ông cũng không biết phải làm sao. Đi con đường nào trong các điều kiện lịch sử như thế? Ông viết trong truyện “Bông hồng của …” trong cuốn TCĐD “…anh ấy nói phải chờ đợi, phải tu luyện đã. Mọi người thì nóng ruột, anh ấy cho thời cơ chưa đến nên… Trong số những người bỏ đi có ông cụ tôi… Nhưng, cuối cùng những người bỏ anh ấy mà đi đều chết hết chẳng còn một ai trở về, tất cả đều thất bại – trang 18”. Nhưng, đã rõ là chế độ VNCH không tốt đẹp, và miền Bắc vừa xấu vừa ác. Ông đã thay mặt người khác để vạch mặt các tướng tá, qua cuộc trò chuyện giữa Từ Hải và Kiều. Ông viết trong truyện Từ Hải (Nhan Sắc) “Tiên nhân chúng nó, chúng nó điếm từ trong triều điếm ra. Vua đĩ, quan đĩ, tướng đĩ cho nên thời mới loạn, dân mới khổ. Em mới thế này, anh mới thế này chứ – trang 82”. Ông đã thấy những trí thức lúng túng, nhận ra tình thế đất nước, biết trách nhiệm, nhưng không làm gì đuợc, cũng không muốn (hay không thể) hợp tác với chế độ (miền Nam), đành lui về tháp ngà, sống trong mơ mộng và kiêu hãnh (như trong truyện “Bông hồng của …”). Qua truyện về Kinh Kha, ông viết “… Chúng ta không hành động như một kẻ nổi loạn hư vô, chúng ta muốn tiến tới đổi đời – trang 153 Nhan Sắc”. Đồng thời, ông đánh thức người khác, qua truyện Từ Hải (Nhan Sắc – trang 69) “ …Làm loạn là thế nào ? Ai không muốn sống yên ổn làm ăn? Nhưng, bây giờ người ta có muốn cho mình sống như thế không”. Điều này đang tiếp tục xẩy ra trên quê hương cũ của chúng ta bên kia Thái Bình Dương.

Đặt vấn đề là nhu cầu thường trực với xã hội không ngừng biến đổi, do các chuyển hóa về tư tưởng, kỹ thuật, mô hình sản xuất, và cả điều kiện của môi trường thiên nhiên (là yếu tố mới nổi từ thế kỷ 20 và ngày càng trở thành quan trọng). Tại các nền dân chủ như Hoa Kỳ, đảng cầm quyền và đảng bên ngoài đều phải biết đặt vấn đề. Từng năm. Từng nhiệm kỳ. Cập nhật. Để đáp ứng các đòi hỏi thiết thân của quần chúng (là đối tượng phục vụ của chính quyền) – cả hai cùng phải lập sẵn plan A, plan B. Nếu không phải là chuẩn bị trước luôn plan C hay xa hơn.

DNM đặt vấn đề, rất rõ ở cuối truyện “Kinh Kha…” trong cuốn Nhan Sắc – ông viết “Anh thấy chưa, bây giờ đâu là thời của Kinh Kha, còn Kinh Kha thì Kinh Kha cũng bó tay …” và ở cuối trang 162 “Tôi từ chối lựa chọn cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn ?”.

Vấn đề, không riêng với Việt Nam, bây giờ và mãi mãi là dân quyền, nhân quyền, mà các chính quyền thường mưu định hạn chế, vì quyền lợi của tập thể thống trị – ai cũng biết thế. Như vẫn đang xảy ra từ Bắc Hàn đến Syria, liên bang Nga. Người viết không rõ các nhà nghiên cứu có thể nhận biết những quyền thiết thân ấy phát sinh từ khi nào sau ngày con người biết tổ chức nhà nước. Với DNM, qua cuốn “Tự Truyện Nguyễn Du” (người viết không biết hoàn tất khi nào, mới trích đăng báo Xuân) sự thật màu xám của xã hội loài người được nhắc lại rất rõ, rằng “Khi bọn bất lương cầm quyền thì người lương thiện đi ở tù, có khi bị treo cổ, có khi bị chém đầu …” – và rằng “Những ông quan tốt nhất của giới sĩ phu thấy những sai trái của triều chính thường chỉ biết dâng sớ tâu vua. Nhưng, thường vua đâu có nghe, kẻ có liêm sỉ chỉ có con đường từ quan…  đó là hành động cao nhất mà họ dám làm. Tại sao họ không chiêu mộ nghĩa sĩ… Lịch sử Đại Việt không có truyền thống chống bạo quyền…” 

Hiện nay, hẳn là giới trí thức miền Bắc Việt Nam đang đặt vấn đề – họ đã thấy trong những năm sau 1975, những người theo đuổi cách mạng đã bị cướp công, bị phản bội. Họ đã thấy, các biến dạng ngoài khả năng tiên đoán, khi đảng CS phải thử nghiệm kinh tế thị trường vì nhu cầu sống còn của chế độ. Người dân Việt Nam đáng được hưởng đầy đủ nhân quyền và dân quyền. Họ đã thấy mọi người không được chọn lựa, khi mà đảng CS xác quyết “Yêu chủ nghĩa xã hội là yêu nước” ngay từ khi đứa trẻ tập nói. Các tác phẩm của DNM gồm các nhắc nhở nhân quyền, dân quyền, vẫn là mới, bởi cho đến nay, họ bị điều kiện hóa, bị bịt mắt như con ngựa kéo xe. Họ trông đợi cách mạng Hoa Lài. Mong cách mạng, để vỗ tay! – bởi đa số không biết phải làm gì, và không dám làm (như Dương Thu Hương viết đâu đó đại ý rằng “những người anh hùng trong chiến tranh nay đã là những công dân đớn hèn”). Tựa sách TCĐD, như tôi hiểu, lặp lại lời than oán của lê dân với Ông Xanh.

Phí Ích Bành

(cuối năm 2011)

* ghi chú : Tân Văn đăng đầu 2012

 

DNMau

Dương Nghiễm Mậu nhìn bởiĐinh Cường

 

 

PHẦN II

Trích văn
Dương Nghiễm Mậu

 

▀▀▀▀▀▀▀

 

 

DƯƠNG NGHIỄM MẬU

Kinh Kha, con chủy thủ và đất Tần bất trắc

(Văn số 58 ngày 15/5/1966)

 

– Anh có tin là mình thoát được không, cái khó nhất đã qua nhưng còn đoạn đường dài từ đây xuống dưới đó.

– Tin hay không tin cũng chẳng ích gì, vượt được chừng nào thì vượt chừng đó, cùng lắm bị bắt trở lại, và mình có bổn phận là tìm cách vượt qua, dễ chừng từ trước tới nay anh chưa bao giờ phải vượt khỏi, phải trốn đi…

– Chưa.

– Thật là một người may mắn, với tôi đây là lần thứ bảy hay thứ tám gì rồi, chúng nó nghĩ mang tôi tới một vùng như thế này thì tôi không làm cách nào mà vượt được, tôi nhớ lại những điều mấy thằng nó nói với nhau, chúng nó tưởng tôi không biết đây là đâu, chúng làm như bọn mình đang sống trong một vùng thuộc tỉnh Vân-nam, tôi đã áng chừng từ hôm mới tới, rừng như thế nào, núi như thế nào, tôi lại dò ra ngọn sông thì tôi yên tâm. Trông anh có vẻ mệt rồi…

– Tôi yếu ít lâu nay, vốn không quen kham khổ, nếu không ở giai đoạn đặc biệt thế này có khi tôi không biết núi rừng, kham khổ là gì, cũng may tôi không đến nỗi mất tinh thần như những người khác, một số bạn tôi đã ngã lòng, chúng tôi không đủ một niềm tin, không kiên trì.

– Đa số hàng ngũ những người quốc gia đều thiếu cái đó, mình nhiều cảm tính quá và thường hoài nghi anh thấy đó, nếu bọn mình nghe được nhau, tin được, phối hợp được thì bây giờ đâu đến nỗi này… mình đã mắc những lầm lỗi lớn, đó là một bài học, bọn mình đã bỏ mất nhiều cơ hội …

Giọng người đứng tuổi trầm xuống hơi buồn, người trẻ tuổi lặng thinh nhìn ra dòng sông trước mặt, ánh trăng xanh trải trên mặt sông rộng, những gợn sóng lóng lánh như bạc, bên kia dòng sông những lau sậy trải ngút ngàn như chạy tới tận chân dãy núi đen sẫm phía xa, không khí vây quanh tịch mịch, nền trời như không một gợn mây, gió nhẹ thoảng qua làm xao động những lùm cây, dòng sông này sẽ xuôi đến đâu.

– Mình phải đi thôi, có lẽ mình đã ra thoát vòng vây chính rồi, nhưng mình còn phải qua nhiều vòng vây nữa. Anh đang nghĩ gì vậy?

– Nhớ tới gia đình…

– Một mái nhà, một ông bố, một bà mẹ, một người vợ, một người con, những bữa cơm đầm ấm trong gia đình, nhiều lúc nghĩ đến tôi muốn rớm nước mắt, nhưng lựa chọn ở lại trong khung cảnh ấy chắc mình sẽ khổ tâm về những điều khác. Nghĩ đến cha mẹ già nhiều lúc thấy mình bất nhẫn…

Tiếng người trẻ tuổi ngâm khe khẽ:

Gió hiu hắt chừ sông Dịch lạnh

                         Tráng sĩ một đi chừ chẳng trở về…”

Tiếng gió lay động những lá cây, vẻ tịch mịch bao quanh tưởng như giữa chốn hoang đảo nào. Tiếng người lớn tuổi:

– Anh tưởng con sông này là sông Dịch sao?

– Tôi nhớ lại chuyện Kinh Kha sang Tần, Tư Mã Thiên đã viết cảnh qua sông của chàng Kinh thành một thiên anh hùng ca, chắc anh cũng đã đọc qua.

– Anh cũng muốn làm một Kinh Kha nữa sao, tiếc đây không phải là dòng sông Dịch, tiếc tôi không phải là Cao Tiệm Ly, là chủ quán thịt chó hay Thái-tử Đan, và tiếc bên kia sông cũng không có cả một Tần Thủy Hoàng cho anh tới mà hạ con chủy thủ… Để chọn làm một Kinh Kha thì sướng quá đi rồi, hoàn cảnh này đâu còn thích hợp cho Kinh Kha nữa, nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng giết Tần Thủy Hoàng là mục đích chính của chàng Kinh, ca tụng cái hành động đó người ta đã giết Kinh Kha để thỏa mãn sự bất lực của mình, để làm hài lòng tự ái của mình. Tôi hỏi anh, một người như Kinh Kha mà lại không nghĩ tới hậu quả khi cầm con dao nhọn sang Tần sao?

– Tại sao không, nhưng chắc chàng ta không nghĩ tới hậu quả mà nghĩ tới kết quả.

– Kết quả là nước Yên bị làm cỏ, những người như chàng Kinh mà hành động là phải nghĩ tới cùng một lúc những thất bại, và những thành công, anh nghĩ giết được Tần Thủy Hoàng là thành công rồi sao. Tôi nghĩ chắc chắn khi cầm mũi nhọn sang Tần chàng Kinh phải nghĩ tới sau khi đã giết được Tần Thủy Hoàng và nếu việc giết thất bại. Giết Tần Thủy Hoàng rồi làm gì với một nước Tàu rối loạn? Giết một kẻ tàn bạo không chết hắn sẽ làm gì với võ lực trong tay hắn?

– Tôi thấy các chính sử chỉ chép hành động của Kinh Kha: giết một kẻ bạo tàn, sự bạo tàn mà về sau này ai cũng thấy, như vậy hành động như Kinh Kha không đáng ca ngợi sao?

– Coi chừng anh nghĩ sai điều tôi nói, tôi không hề không tán đồng hành động của Kinh Kha, nhưng tôi không tán đồng lý do người ta đưa ra, lý do khiến Kinh Kha hành động… Trước đây tôi được một người kể lại cho nghe về một cuốn sách viết về chàng Kinh, một cuốn sách mà những sự việc trong đời chàng Kinh khác hẳn những điều mình đã đọc.

– Sao lại có nhiều Kinh Kha thế?

– Kinh Kha thì chỉ có một người, nhưng những sự thật về Kinh Kha khác nhau, sự thật tùy thuộc con mắt nhìn của kẻ khác. Đọc về Kinh Kha do Tư Mã Thiên viết hay thì hay thật, hào hùng thật nhưng tôi không khỏi thấy hành động của chàng như hành động của một kẻ mà thành ngữ của mình gọi là anh hùng rơm, nếu không thì tôi cũng nghĩ Kinh Kha là một kẻ tầm thường chỉ hành động để thỏa lòng tự ái, tự ái vì hành động của Điền Quang, của Phàn Ô Kỳ, của Thái-tử Đan, nếu hành động vì nghĩa lớn, chàng Kinh đã không hấp tấp sang Tần với một kẻ giết mướn là Tần Vũ-Dương mà chàng phải đợi người bạn có đường kiếm tuyệt luân, chàng cũng không thể có những hành động ăn chơi, mê người đẹp như là cố hưởng cho hết những lạc thú trên đời để rồi chết. Kinh Kha sang Tần không phải vì mắt xanh của Điền Quang, của Thái-tử Đan, của Phàn Ô Kỳ, lại càng không phải vì cái đầu của Phàn Ô Kỳ do chính tay Kỳ chặt lấy, chẳng phải vì đôi tay người yêu của Thái-tử Đan, một người như chàng Kinh từng qua chơi khắp các chư hầu kết bạn với hết cả những bậc hiền sĩ trong thiên hạ, Điền Quang thấy không phải là người thường, luận kiếm với Cát Nhiếp, Nhiếp dọa bằng mắt mà lặng lẽ bỏ đi, vừa thân với những danh sĩ, vừa có thể thân với một tên chủ quán thịt chó; chơi với rượu mà tính thâm trầm ham đọc sách, lại có thể nghêu ngao hát giữa chợ như chỗ không người thì đâu phải là một người thường. Như vậy khiến tôi tin những điều tôi đã được nghe về chàng Kinh.

Giọng nói trầm trầm của người lớn tuổi đầy vẻ say sưa, người trẻ im lặng lắng nghe, trăng giữa tháng vằng vặc trên nền trời đầy sao lấp lánh, con sông như một dòng nước bạc óng ánh, người trẻ nói:

– Anh đã đọc được những gì về Kinh Kha mà anh cho là khác hẳn với những sử sách đã viết về chàng?

– Tôi không được đọc, tôi chỉ được nghe lại do một người anh cả nói cho nghe, anh ấy nói đã được đọc cuốn sách khi lưu lạc bên Quảng-châu.

– Liệu đó là một cuốn sử hay là một tập truyền kỳ?

– Tôi không rõ, nói theo bây giờ, theo người thật, nó như một cuốn ký sự lịch sử, không có tên tác giả, người ta khám phá ra nó giữa những sách được cất giấu khi Tần Thủy-Hoàng ra lệnh đốt hết những sách lưu truyền bấy giờ, cuốn sách có ba chương với cái tên là: Ba lần gặp Kinh Kha, cuốn sách chừng như chưa viết xong và được bỏ lửng. Trăng còn sáng quá, tôi có thể kể lại cho anh nghe trong khi chờ đợi mình lên đường.

*

Được tin của Kinh Kha tôi vội vàng đeo hành lý lên đường, nhưng khi tới nơi Kha đã đi trước đó một ngày. Thôi thế là hỏng hết mọi chuyện, gặp Cao Tiệm-Ly trong quán rượu chúng tôi chỉ than thở với nhau, tôi nói:

– Đã nhắn tôi sao hắn không chờ tôi?

– Hắn chờ quá, lần lữa mấy ngày nhưng vẫn không thấy gì, hắn cũng như tôi nghĩ rằng một là anh không muốn nhận chuyến đi, hai là người ta không tìm thấy anh, sau nữa Thái-tử Đan có ý ngờ Kha không muốn lên đường vì sợ chết. Trong lúc quân Tần đã ngấp nghé ngoài biên thùy, làm sao để Kha có thể nói được trong một hoàn cảnh như thế, khi xuống thuyền với Tần Vũ-Dương, Kha có ý không vui.

– Tần Vũ-Dương là người thế nào?

– Một kẻ sinh ở đất mường mán, năm mười ba tuổi đã giết người, không ai dám nhìn mặt. Thái-tử Đan cho đó là một dũng sĩ có thể giúp Kha giết được Tần Thủy-Hoàng một cách dễ dàng, Kha đã quát lên với Tần Vũ-Dương: Sao Thái-tử lại sai đến mày, đi mà không về là tại thằng nhãi này, cầm một con chủy thủ vào đất Tần bất trắc phải là một dũng sĩ chứ đâu phải là một kẻ giết người như mày.

Nghe Cao Tiệm-Ly nói tôi chỉ biết thở dài, chúng tôi đều linh cảm thấy công việc của chàng Kinh đã hỏng và chúng tôi chờ đợi để nghe tin chàng chết, ngọn lửa hung bạo lại được tưới thêm dầu, chúng tôi không thể tưởng tượng hậu quả phải gánh chịu. Bây giờ Kinh Kha đang trên con đường tới Hàm-dương, tôi quanh quẩn chỗ này chỗ khác nghe người ta nói tới những ngày chàng Kinh còn ở lại đây, nào là cái chết của Thầy Điền-Quang, dũng khí của Phàn Ô Kỳ tự tay cắt lấy đầu mình cho chàng Kinh mang qua đất Tần mong được gần bạo chúa, người ta nói đến Thái-tử Đan chỉ nghĩ tới việc diệt Tần đã hy sinh ngay cả người yêu để làm vui lòng chàng Kinh. Ngồi uống rượu bên sông Dịch, nghe tiếng tiêu của Tiệm-Ly khiến tôi không khỏi bồi hồi xúc cảm, cái cảnh hơn ba ngàn tân khách, mấy vạn người dân mặc áo tang đã ra đây tiễn chàng đi, tôi tiếc đã không được hưởng khung cảnh ấy, tiếc đã không được cùng chàng lên chiếc thuyền nhỏ qua sông, bao nhiêu năm tập luyện để làm gì, lưỡi kiếm truyền lại từ nhiều đời để làm gì khi đã bỏ lỡ mất cơ hội của nó. Tôi nhớ lại lần gặp gỡ năm xưa, cũng trong một quán rượu như thế này, lần đó Kha vừa rời khỏi Hàm-đan trên đường sang Yên, tôi nghe tiếng chàng từ lâu nên gặp nhau rất mừng rỡ và chúng tôi thân với nhau ngay, tôi thấy rõ chàng không phải là một người thường, tôi hỏi tại sao lại rời Hàm-đan, Lỗ Câu-Tiễn không dung được anh sao? Kha nói hắn mới quát mắng tôi chỉ vì ganh nhau khi đánh song lục, với những người như thế mình nên đi khỏi là hơn, lúc trước tôi cũng đã phải đi vì Cát-Nhiếp dọa tôi khi luận kiếm thuật với hắn, mỗi lần bỏ đi như thế chắc họ tưởng tôi hèn lắm, nhưng trong những trường hợp đó tôi chọn làm kẻ hèn, tôi đi tìm một kẻ để tôi xách dép cho họ nhưng tôi chưa thấy một người làm tôi nể, tôi nghe nói đất Yên có Thầy Điền-Quang rất đáng kính, và Thái-tử Đan có mắt thấy được kẻ sĩ nên sang đó xem sao, trông Tần bạo ngược tôi không yên lòng được, anh có sang Yên cùng với tôi không? Tôi nói tôi không cùng đi được, tôi muốn về thăm mẹ già, nhưng tôi hẹn nếu cần đến tôi thì hãy tin cho tôi biết. Chúng tôi ở với nhau ít ngày luận bàn kiếm thuật rất tương đắc, Kha uống rượu rất nhiều, uống bao nhiêu cũng được và chừng như không bao giờ say, càng uống khí dũng của Kha càng như mạnh thêm, chàng vừa uống rượu vừa múa gươm, giọng ngâm thơ hào sảng, khí khái, tôi chưa được gặp một ai như chàng. Kha nói với tôi: luyện kiếm để làm gì, tôi nói tôi nghĩ tới Tần Thủy-Hoàng, Kha cười, chàng nói: anh có biết Cát-Nhiếp, Lỗ Câu-Tiễn luyện kiếm để làm gì không, tôi nói không, Kha cười lớn, họ luyện kiếm để dọa tôi, họ cầm lưỡi kiếm trong tay với sự đùa giỡn, nước loạn chính vì những kẻ không đáng cầm kiếm đã cầm kiếm trong tay và khoa lên với một đầu óc khoa trương rỗng tuếch, bao nhiêu lưỡi kiếm quý đã phải tủi hờn, tiếc thay.

Giọng Kha trầm trầm, tôi không phải là kẻ đánh gươm có tài, nhưng tôi muốn được dùng tới gươm một lần cho thật xứng đáng. Tôi nói tôi cũng ao ước như thế nhưng chưa được thỏa lòng, thực là một kẻ đánh kiếm không bao giờ nói đến đánh kiếm trừ trường hợp gặp tri âm, tôi đã nhầm khi đánh kiếm, luận kiếm với những kẻ như Lỗ Câu-Tiễn hay Cát-Nhiếp, quả là tôi chưa có mắt thấy được người, cũng từ đó tôi bắt đầu sợ khi thấy những kẻ đeo kiếm bên mình, tôi sợ cho những người khác và cho chính hắn mang họa vì lưỡi thép vô tri, cầm một mũi nhọn, cầm một ngọn bút trong tay đâu phải giỡn được.

Ngồi bên quán nơi Kha đã ngồi, uống rượu với những kẻ Kha đã uống, nhìn con sông Kha đã qua tôi bồi hồi lo âu, mũi nhọn trong tay chàng sang đất Tần liệu có mang được gì về, tiếng nói của chàng như còn văng vẳng bên tai tôi. Chúng tôi chỉ gặp nhau mấy ngày rồi chia tay, tôi lên đường trở về cố hương, Kha lên đường sang Yên với lời hẹn gặp lại, nhưng có lẽ không bao giờ chúng tôi còn gặp lại nhau nữa. Ngày ngày chúng tôi ngồi uống rượu bên sông chờ tin người đi, có lúc Tiệm-Ly hỏi tôi:

– Nếu hắn không về chúng ta phải làm gì?

– Đừng vội nghĩ đến điều đó. Tôi tin hắn trở về.

– Anh nghĩ vào đất Tần dễ vậy sao?

– Không, tôi không bao giờ nghĩ vậy, tôi không muốn nghĩ rằng hắn thất bại. Nay Tần đã diệt Hàn, chiếm Sở, lấn Triệu, quân Tần đã đến biên giới nước Yên rồi, nếu hắn thất bại thì không quá một ngày gót quân Tần đã tới đây, chúng ta nào còn được ngồi yên đây, Thái-tử Đan liệu có chạy thoát, cảnh huống nào người dân nước Yên phải chịu, và thân hắn liệu có còn hay đã tan thành muôn mảnh. Vào một đất Tần bất trắc hiểm nghèo tôi vẫn mong hắn có thể trở về được.

Chúng tôi chờ đợi từng ngày nhưng tin từ Hàm-dương vẫn biệt tăm, không ai biết những chuyện gì đã xảy ra ở đó, quân Yên dưới quyền Thái-tử Đan đã được điều động để phòng bất trắc có thể xẩy ra, tôi nghe tiếng tiêu của Tiệm-Ly không còn hay nữa, thịt rượu không còn ngon miệng nữa, luyện lưỡi gươm trong bao nhiêu năm đến lúc phải dùng lại không dùng được, đêm đặt mình không sao nhắm mắt. Chợt một đêm kia chúng tôi nghe tiếng gọi cửa, khi ra tới nơi thì thấy Kha, tôi rợn người hỏi:

– Anh thác rồi sao?

Kha cười khan:

– Không đâu, sao anh tới muộn thế, nhưng không sao.

Kha đưa tay cho tôi cầm và biết Kha còn sống, Kha nói:

– Tôi về đây để gặp Thái-tử Đan. Tôi bắt sống được Tần Thủy Hoàng rồi.

Chúng tôi đều tưởng mình sống trong một giấc mơ, nhưng đó là sự thực, Kha nói:

– Tôi muốn nghe câu trả lời của Thái-tử Đan: giết được Tần Thủy-Hoàng rồi thì Thái-tử làm gì với nước Tàu này?

– Anh hãy thuật mọi chuyện cho tôi nghe.

– Tôi vẫn có ý đợi anh cùng đi, nhưng đợi mãi không được tin gì của anh, quân Tần đã lấy Triệu, Thái-tử Đan không còn kiên nhẫn được nữa khiến tôi phải lên đường. Tới Hàm-dương tôi phải mang tất cả vàng bạc đút lót cho kẻ sủng thần của Tần là Mông-Gia để được vào bệ kiến Tần Thủy-Hoàng, với cái đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm địa đồ đất Đốc-căng chúng tôi vào bệ kiến vua Tần. Giữa chốn triều đình uy nghiêm, vượt qua bao nhiêu tầng canh gác Tần Vũ-Dương kinh sợ khiến suýt bị bại lộ, may sao con chủy thủ trong tấm bản đồ đã không lộ ra, một kẻ giết mướn làm sao đủ sức để giết được một kẻ như Tần Thủy-Hoàng, tôi đứng lên sát tận ngai vàng dâng tấm bản đồ, thừa cơ cầm chắc lấy mũi nhọn túm lấy ngực vua Tần, cả triều đình kinh hoàng nhưng không ai có khí giới trong tay, lệnh vua Tần cấm không cho bất cứ ai mang võ khí vào triều, quân phía ngoài phải có lệnh vua Tần mới được vào, tôi rút lấy kiếm của vua đưa cho Tần Vũ-Dương ra lệnh cho các quan không được nhúc nhích, tôi kề mũi nhọn vào cổ vua  Tần, ý tôi muốn bắt sống mang về Yên làm thịt cho hả lòng Thái-tử Đan, sau là moi gan hắn ra tế Phàn Ô Kỳ. Tôi hơi ngạc nhiên về thái độ bình tĩnh của Thủy Hoàng, hắn nói không ngờ trong thiên hạ còn có những dũng sĩ như anh, tôi nói đừng có nịnh ta, ta chẳng phải là dũng sĩ gì, ta là người đánh gươm rất dở, dù vậy những người trong thiên hạ như ta không thiếu, họ không chấp nhận được sự tàn bạo của nhà ngươi và chỉ vì vậy họ thừa can đảm liều mạng tới đây. Nhà ngươi không sợ chết sao? Tôi bảo nếu tôi chết sẽ có kẻ khác noi theo, cho tới khi nào giết được nhà ngươi. Vua Tần gằn giọng: thôi ta chịu chết, nhưng ta hỏi: giết được ta rồi nhà ngươi làm gì với nước Tàu này.

– Thế bây giờ hắn ra sao, anh chưa giết nó?

– Chưa, nhưng hắn ở trong tay tôi lúc nào mình muốn giết thì giết, có điều tôi muốn biết Thái-tử Đan sẽ làm gì với một nước Trung-hoa sau khi tôi đã giết hắn. Câu hỏi đặt ra không những cho Thái-tử Đan mà cho cả tôi lẫn anh, cho những ai không vì địa vị, không vì quyền bính mà chỉ hành động cho chính nghĩa, hành động vì đời sống hạnh phúc của dân chúng. Không chấp nhận sự tàn bạo của Tần Thủy-Hoàng, nhưng tôi cũng không chấp nhận một xã hội rối loạn phân tán, chia rẽ, một nước Trung-hoa hùng vĩ bị chia ra làm nhiều mảnh nhỏ cho mỗi kẻ hùng cứ một phương, lâu lâu kết bè kết đảng đánh lẫn nhau gây cảnh chiến tranh không bao giờ dứt, không thể chấp nhận để một nước Trung-hoa có văn hóa bị chia cắt ra từng vùng văn minh, lại để cho mình bị yếu hèn với sự đe dọa của mọi phương bắc. Bây giờ chính là lúc phải nghĩ tới việc thống nhất một nước Trung-hoa để đối địch với dân Mông-cổ, mở lại ảnh hưởng ở miền Nam, như thế phải chấp nhận phá bỏ chế độ liệt quốc, đối với tôi việc giết Tần Thủy-Hoàng không phải là điều quan trọng mà chính là phải làm gì sau khi đã giết hắn? Tôi đã bắt mang theo Tần Thủy-Hoàng và giao cho Tần Vũ-Dương canh chừng trên đoạn đường từ Hàm-dương về đây, vua Tần đã giải thích cho tôi nghe những việc ông làm, hắn muốn làm những việc mà tôi đã nói với anh ở trên, thống nhất một nước Trung-hoa trong mọi lãnh vực …

Chỉ gặp chúng tôi trong một thời gian rất ngắn, chàng Kinh vội từ biệt để đi gặp Thái-tử Đan, sau một ngày trời chàng Kinh trở lại vẻ thất vọng, chàng nói: các anh phải sang Triệu đi, không thể ở đây được, tôi phải trở lại Tần. Tôi nói anh trở sang Tần làm gì, Thái-tử Đan đã trả lời anh ra sao, tôi phải sang Tần, tôi chưa thể trả lời anh được, còn Thái-tử Đan, thật đáng thất vọng, Thái-tử nói trả đất lại cho chư hầu, mỗi kẻ hùng cứ một phương, và nước Tần phải bị tiêu diệt. Không, tôi không chấp nhận một hành động như vậy, tôi phải trở lại Tần và hẹn lại các anh sau. Và Kinh Kha đã đi.

 

*

Người lớn tuổi ngừng kể, gió núi thổi mạnh hơn, trên nền trời những vạt mây theo gió trôi qua mặt trăng có lúc bầu trời tối hẳn đi, khuôn mặt người bạn lạnh như một pho tượng dưới ánh trăng, dòng sông nước bạc vẫn lờ lững trôi. Tiếng thú rừng lạc lõng vẳng xa. Người lớn tuổi đứng lên:

– Mình phải đi thôi, mình phải ra khỏi vùng này trước khi trời sáng.

Người trẻ tuổi đứng lên theo:

– Rồi sau đó ra sao, chẳng lẽ câu chuyện lại ngừng lại ở đó, cái kẻ xưng tôi kia chắc chắn là người bạn mà Kinh Kha đã đợi để cùng sang Tần, trong Sử-ký Tư Mã Thiên có nói đến nhưng không cho biết đó là ai, trước tôi nghĩ là Cát-Nhiếp.

– Không phải Cát-Nhiếp, là một kẻ vô danh.

– Như vậy thì Thủy-Hoàng đâu phải là một kẻ tồi gì, nhưng tại sao sau đó hắn lại có nhiều hành động bạo tàn như thế. Thủy-Hoàng chết rồi, cho đến nay trải qua bao nhiêu thời đại mà tội ác của hắn vẫn được coi là kinh hoàng nhất trong lịch sử Trung-hoa, những tội ác không ai có thể bào chữa được, bao nhiêu kẻ đã chết ở Vạn-lý trường-thành, bao nhiêu kẻ sĩ bị chôn sống, sách vở của thánh hiền đều bị đốt, các chư hầu đều bị thanh toán, nếu quả Kinh Kha đã tha chết cho Tần Thủy-Hoàng thì Kinh Kha đáng là kẻ phải chịu trọng tội và ngày nay người ta sẽ không còn ca tụng Kinh Kha như một dũng sĩ nữa.

– Câu chuyện đâu đã dứt, để rồi tôi kể tiếp cho anh nghe, tại sao phải xây Vạn-lý trường-thành, tại sao phải chấm dứt sự chia cắt, tại sao phải đốt sách chôn học trò, chính là phải đặt mình trong hoàn cảnh của nước Trung-hoa thời đó, lại đặt mình trong cương vị của Tần Thủy-Hoàng may ra mới thấy được điều đó, phê phán lịch sử một thời phải đặt mình trong hoàn cảnh của lịch sử đó. Tôi hỏi anh, nếu bây giờ anh là người nắm vận mạng của nước ta anh phải làm gì?

– Tôi chưa bao giờ nghĩ tới điều đó.

– Anh cứ thử đặt mình vào trong một hoàn cảnh như thế.

– Không, tôi không thể đặt được, lớn lên với những ý nghĩ cao đẹp, nào giành lại độc lập, thống nhất, nào kiến tạo tự do hạnh phúc, ai cũng nói thế mà nay anh em giết lẫn nhau, tự do hạnh phúc chưa thấy đã thấy trại giam, đói khổ, độc lập chưa thấy đã thấy gót giày ngoại xâm, tôi chẳng cần giấu anh, ngày nay nhiều lúc tôi buồn chán ngã lòng, sức mình chẳng làm được gì, anh thấy đó, may mà anh với tôi không đến nỗi chết ở đây, nhưng rồi những ngày tới này ra sao?

Giọng người trẻ tuổi buồn buồn xúc động. Người lớn tuổi giọng vững vàng:

– Anh ít tuổi hơn tôi mà còn thấy vậy, nếu anh là tôi anh sẽ thấy còn đáng buồn hơn nhiều, nhưng đã nhận cho mình một trách nhiệm thì không có quyền được ngã lòng. Nhìn ra những khó khăn, những sự thật chắc chắn Kinh Kha cũng ngã lòng và chàng chắc không muốn mình là một kẻ sĩ nữa, chàng muốn là một kẻ thoát ra khỏi đời sống nhưng làm sao để sống một cách yên lòng với hạnh phúc nhỏ bé của mình trong giữa một cõi đời đầy những đau khổ, làm sao để ăn miếng cơm mà thấy ngon giữa những kẻ đói khát, làm sao để thấy mình ấm áp giữa mùa đông đầy những người không có tấm áo che thân, làm sao để yên lòng phiêu diêu giữa một xã hội đầy những nhà giam, những đàn áp, bóc lột, bị tước đoạt tự do. Làm sao để yên ngủ với những mộng đẹp triền miên khi đất nước khói lửa, khi ngoại xâm giày xéo, khi đất nước bị những kẻ vô đạo, bất nhân cai trị … Cũng như bây giờ tôi hay anh có đang nhiên mà ngồi nguyên được không? Chúng ta chống Tây để rồi nhận Tàu sao, chúng ta chống chế độ thực dân hà khắc để nhận chế độ độc tài đảng trị sao, chúng ta bằng lòng nhìn sự thay thế tinh thần quốc gia bằng một tinh thần quốc tế sao?… Bao nhiêu câu hỏi đặt ra cho mình, thất bại nhưng không được bỏ cuộc, tôi vẫn nhủ thầm với tôi như thế, mình còn nhiều cơ hội, dù thế nào cũng không thể ngồi yên được.

Hai bóng người yên lặng len lỏi trong lối đi hẹp, một con đường mòn luồn dưới những hàng cây rậm rạp, ánh trăng thấp thoáng qua những bóng lá.

– Còn câu chuyện chàng Kinh?

– Đoạn tôi vừa kể lại với anh là hai phần đầu của cuốn sách, tôi kể lại theo một người kể cho tôi nghe, chừng như tôi đã toát lược thêm đi một phần, tôi không phải là một người có tài kể chuyện, tiếc rằng anh không được nghe người anh cả của tôi kể, câu chuyện anh ấy kể trong một đêm cũng có trăng sáng như đêm nay trong chiến khu ở Vĩnh-yên, thời gian chúng tôi phải sống những ngày đêm dài nhất trong cuộc chống trả lại Việt-Minh, rồi anh thấy đó, chúng tôi thất bại, mỗi kẻ lưu lạc một phương, người anh cả chúng tôi sau đó đã bị giết một cách bí mật, có người không tin anh đã chết, nhưng tôi có nhiều bằng chứng để tin anh không còn lại với chúng tôi nữa. Tôi nhớ rõ khuôn mặt anh, tôi còn nhớ tiếng anh nói, giọng tha thiết, ấm, mạnh khỏe, tôi tiếc không nhớ hết và nói được cái giọng của anh ấy cho anh nghe, không bao giờ tôi còn được thấy lại anh, không bao giờ được nghe giọng nói đầm ấm thiết tha và đầy tin tưởng ấy nữa.

Hồi bấy giờ anh cũng ngừng câu chuyện ở lại đó, anh hỏi chúng tôi: nếu đã nắm được quyền lãnh đạo trong tay rồi chúng ta phải làm gì, anh nói chúng ta hành động không phải chỉ để hành động, chúng ta hành động để giữ lấy vai trò lãnh đạo, với quyền lãnh đạo chúng ta mới thực hiện được cuộc cách mạng chúng ta mong muốn, tạo dựng một xã hội chúng ta hằng mơ tưởng, chúng ta không hành động như một kẻ nổi loạn hư vô, chúng ta muốn tiến tới một đổi đời… Những điều anh ấy nói trong đêm trăng ngày nào vẫn còn văng vẳng bên tai tôi, không bao giờ tôi quên những điều đó, chính nó như ngọn đèn cháy mãi soi sáng cho tôi… Và sau đó anh kể tiếp câu chuyện chàng Kinh.

 

 

*

Chẳng bao lâu Tần đã thu tóm thiên hạ về một mối, thống nhất luật lệ, cân đo, chữ viết, cải tổ toàn thể cơ cấu xã hội, thanh toán những kẻ chống lại chế độ, bắt dân chúng xây Vạn-lý trường-thành ngăn rợ phương bắc, cải cách điền địa… tạo thành một nước Trung-hoa hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử. Nhưng những đau khổ mỗi ngày một chồng chất lên dân chúng. Chúng tôi đã rời khỏi ngay nước Yên khi chàng Kinh ra đi. Câu chuyện ngày nào còn như một giấc chiêm bao đối với chúng tôi, chúng tôi vẫn hỏi nhau có thực Kinh Kha đã bắt được vua Tần, có phải người hôm gặp chúng tôi thật là Kinh Kha hay chỉ là một hình bóng trong giấc mộng chúng tôi, chúng tôi hỏi nhau như thế nhiều lần nhưng không sao trả lời được. Chỉ biết sau đó ít ngày tin dữ từ Hàm-dương đưa về: Kinh Kha đã nát thân dưới lưỡi kiếm bạo chúa, đâu đâu cũng nghe nói tới chuyện chàng Kinh khi tiến lên dâng địa đồ đất Đốc-cang đã thừa lúc bất ngờ cầm con chủy thủ định giết vua Tần nhưng việc không thành, nhiều chi tiết trái ngược nhau được nói đến, có người nói tại Tần Vũ-Dương mất can đảm nên để lộ cơ mưu, có người nói vì chàng Kinh không biết đánh gươm, nhưng ai cũng cho đó là số trời không cưỡng lại được, dân chúng còn phải lầm than nên mưu toan của chàng Kinh bất thành. Có điều chắc chắn là sau đó không bao lâu vua Tần phái Vương-Tiễn mang quân sang Yên, thế quân như nước lũ, gót quân Tần đến đâu cỏ không mọc lên được, chưa đất nào bị giày xéo như đất Yên, chừng như vua Tần muốn trả cái thù của Kinh Kha, không đầy một năm thành trì của Yên đã lọt vào quân Tần, vua Yên nghe lời vua Đại-Gia rằng Tần chỉ căm giận Thái-tử Đan, nếu giết Đan dâng cho Tần thì sẽ tránh được chết, nhưng dù giết Đan vua Yên vẫn bị giết theo.

Tiệm-Ly như phát điên: phải trả thù cho hắn, trả thù cho những kẻ đã bị tàn sát, phải giết tên bạo chúa. Tôi nói thì giết tên bạo chúa nhưng sau đó… Tiệm-Ly kêu: hãy giết hắn đã rồi sau sẽ hay, nghĩ mãi rồi làm sao mà hành động, trông những việc hắn làm đó mà ngồi yên được sao. Chúng tôi sống chui nhủi, bôi mặt đổi tên để tránh sự lùng bắt của quân Tần vì từ sau khi bị mưu sát vua Tần đã cho lệnh lùng bắt những bạn hữu của chàng Kinh mà giết đi, Tiệm-Ly nương náu nơi nhà Tống-tử, nhờ tài thổi ống tiêu được tiến vào cung vua Tần, nhưng có kẻ nhận ra mặt nói cho Thủy-Hoàng biết, vua Tần tiếc tài cho khỏi chết, khoét mắt chàng bảo thổi ống tiêu, dần dần Tiệm-Ly được ngồi gần Thủy-Hoàng, chàng liền đổ chì vào ống tiêu, nhân lúc ngồi gần liền giơ ống tiêu đánh vua Tần nhưng không trúng, từ đó Thủy-Hoàng không bao giờ gần người ở các nước chư hầu nữa. Hai người bạn thân đều đã chết, còn lại người chủ quán thịt chó, chúng tôi lang bạt khắp nơi mong có ngày nhà Tần bị diệt.

Còn đâu tiếng tiêu của Cao Tiệm-Ly, còn đâu tiếng nói, khí phách một người vào đất Tần bất trắc với một mũi nhọn. Tôi cô đơn trong niềm bất lực đau đớn. Tôi không còn chàng Kinh nữa. Tôi tưởng tôi đã có trách nhiệm trong sự thất bại của chàng, nếu tôi đi được chắc tôi đã không để cho hắn sống.

Một ngày kia khi đang ở nước Hàn, lang thang ngoài chợ bỗng nghe tiếng gọi, tôi ngạc nhiên không nhận ra người trước mặt.

– Kha đây.

Tôi kinh hoàng nói:

– Tôi tỉnh hay mê vậy?

– Tỉnh, tôi thật đây.

Vừa nói Kha vừa nắm lấy tay tôi: Tôi đang đi kiếm các anh, khi tới Triệu thì tôi nghe Tiệm-Ly đã chết, tôi nghe ở Hàn có hàng thịt chó rất ngon, đoán chắc các anh ở đó, quả không sai.

– Hóa anh chưa chết, tôi không hiểu được. Sau khi anh đi chúng tôi hỏi nhau hôm gặp anh thực hay mơ, và cho đến bây giờ vẫn vậy, anh đã tha chết để cho hắn hành động như vậy sao?

Chàng Kinh lặng đi, chúng tôi trở về quán, nhìn thấy một chiếc ống sáo của Tiệm-Ly còn để lại chàng Kinh cầm lấy mà khóc:

– Tôi đâu nào sợ cái chết, giết hắn đâu phải là khó với tôi, nhưng chính là tôi đã nghe người, quả tôi không có mắt thấy được người.

Bây giờ chàng Kinh tóc đã có những sợi trắng, má đã nhăn, nhưng khí dũng vẫn còn cương cường. Trong cảm xúc nghẹn ngào Kha đã nói lại với chúng tôi:

– Chắc chắn sau này sử sách sẽ viết rằng: năm ấy, ngày ấy có một tay dũng sĩ tên là Kinh Kha đã mang một con chủy thủ vào đất Tần bất trắc mưu mô giết vua Tần nhưng việc không thành. Nào phải thế, như tôi đã nói hôm gặp lại các anh trên bờ sông Dịch đó. Giữa chốn triều đình nhà Tần, tôi đã tay trái túm lấy ngực hắn, tay phải áp con chủy thủ vào cổ hắn, tôi muốn mang hắn về Yên cho Thái-tử Đan hài lòng, sau là moi gan hắn mà tế anh linh của Thầy Điền-Quang, Phàn tướng quân, tôi cũng muốn như Tào Mạt xưa kia bắt hiếp Tề Hoàn-Công ký giấy trả đất cho chư hầu. Tôi nghe hắn hỏi tôi: nhà ngươi sẽ làm gì với một nước Trung-hoa này, ta không muốn chết một cách ân hận. Lật bỏ một chế độ là người ta muốn có một chế độ tốt đẹp hơn. Xô đổ một ngai vàng là để lập một ngai vàng mới, nhưng ngày nay ai là kẻ đáng mặt lên ngôi? Tôi so sánh giữa hai chế độ: những ngày đầu tiên trong chế độ nhà Tần và tình cảnh Trung-hoa trong chia cắt, phân tán, mỗi kẻ hùng cứ một phương tác oai tác quái, nỗi khốn khổ của dân chúng kéo dài quá lâu. Tôi không muốn thấy mãi một tình trạng tranh chấp liên miên, không muốn thấy một thời liệt quốc mới. Tôi muốn có một nước Trung-hoa thống nhất, một nền cai trị mạnh, hữu hiệu, sáng suốt. Thủy-Hoàng nói với tôi cũng muốn vậy đó là lý do khiến ông tiến tới thống nhất Trung-hoa, phá bỏ các chư hầu. Chúng tôi thảo luận với nhau và tôi đồng ý tha chết cho Tần Thủy-Hoàng để cùng nhau bàn kế hoạch, chúng tôi làm việc hoàn toàn bí mật: phải thống nhất một nước Trung-hoa, phải thay đổi hẳn căn bản xã hội, phải làm lại hết cả…

– Anh đã đồng ý để chôn học trò, đốt sách?

– Từ sau thời Thầy Trọng-Ni tư tưởng của Thầy đã bị không biết bao nhiêu kẻ làm sai lạc, sách vở nhảm nhí không biết bao nhiêu, để những sách ấy tôi hỏi anh di hại biết đến bao giờ. Phải chỉnh lại văn hóa, cuộc sống chỉ yên vui được khi xã hội chỉ sống với một tư tưởng, một cuốn sách cho một chân lý, một lẽ phải. Còn chôn sống học trò thì không đúng, giết hết những người có học thì lấy ai để điều khiển guồng máy cai trị. Nhưng không thể dung túng những tên khuyển nho những kẻ có học mà sống xa nghĩa sách thánh hiền, học ba chữ thánh hiền chưa vỡ mà tưởng mình đội đá vá trời được, muốn nước hùng mạnh xã hội trật tự cuộc sống hạnh phúc thì phải chôn đi những kẻ không chấp nhận sự tiến bộ, chôn đi những kẻ mãi mãi muốn duy trì địa vị quyền lợi của mình.

– Anh chấp nhận để xây Vạn-lý trường-thành bằng xương máu của người dân?

– Chúng tôi nhân danh sự bền vững muôn đời, sự sống còn của nước Trung-hoa mà xây trường thành. Muốn có đời sống buộc mọi người cùng nhau đóng góp hy sinh… Nhưng thôi anh đừng hỏi tôi nữa, tôi là một kẻ có tội, tôi cũng đã bị phản bội… Mộng tưởng của tôi chỉ là ảo tưởng, Tần Thủy-Hoàng đã đổi thay, Hoàng-đế nhà Tần ngày nay không phải là kẻ mà xưa kia tôi đã tha chết cho hắn.

– Vậy ai đã chết thay cho anh?

– Như tôi đã nói đó, tôi thất vọng với Thái-tử Đan nên đã thấy Tần Thủy-Hoàng có lý, chúng tôi cộng tác với nhau, Thủy-Hoàng nguyện thi hành những kế hoạch tôi đã đề ra, để cho vua Tần có thêm uy thế chúng tôi vẽ ra cái chuyện Kinh Kha nát thây dưới lưỡi kiếm vua Tần. Nhưng ai ngờ khi đã thu thiên hạ về một mối, dẹp tan các chư hầu, ổn định được tình thế thì vua Tần thay lòng đổi dạ. Khi đã thống nhất được giang sơn, diệt hết các địch thủ hắn không còn nghĩ tới lý tưởng tới đất nước nữa, hắn nghĩ tới hắn, hắn nghĩ tới trường sinh bất tử, tôi biết tôi đã bị phản bội, không làm cách gì khác hơn là bỏ đi.

Chàng Kinh lấy ra con chủy thủ mỉm cười:

– Anh nhớ cái này không?

– Nhớ.

– Nó nguyên là của Từ Phu-nhân nước Triệu, lúc trước Thái-tử Đan mua với giá một trăm lạng vàng, đã được tẩm thuốc độc, tôi còn giữ nó đây và đi tìm các anh. Bây giờ mình phải bắt đầu lại, bắt đầu lại trong khó khăn, thiếu vắng bạn hữu và một chế độ đã được củng cố… Xưa kia cầm con chủy thủ vào một đất Tần bất trắc tôi chỉ nghĩ tới lúc giết được bạo chúa, nhưng nay cũng với con chủy thủ này vào một đất Tần bất trắc gấp trăm lần tôi nghĩ tới một xã hội sau khi đã giết được bạo chúa, điều đó khiến tôi yên tâm hơn, nhất nữa nay tôi không phải vào đất Tần với một tên giết mướn mà vào đất Tần với anh…

*

Hai người dừng lại, người đứng tuổi ngồi xuống một cành cây, trăng đã ngả xuống, ánh sáng đục hơn, trước mặt họ con sông vẫn lờ lững chảy, người trẻ tuổi nhận ra họ đã đến một bến sông, hai bên bờ sông có mấy quán lá xơ xác, không một bóng người, dưới bến có một chiếc thuyền cột vào một gốc cây. Người lớn tuổi nói:

– Người kể câu chuyện cho tôi nghe đã dừng lại ở đó. Tôi hỏi rồi sau đó ra sao? Người anh cả trả lời: không biết, tôi chỉ thấy cuốn sách hết ở đấy.  Còn sử chép: Thủy-Hoàng chẳng hề bị giết mà sau chết vì dư máu, như thế có nghĩa rằng chàng Kinh Kha kia đã thất bại, nhưng đó đâu phải là kết luận của cuốn sách.

Người trẻ tuổi tư lự:

– Tôi cho rằng đây là huyền thoại do một người nào đó tạo ra để gửi gắm tâm sự của mình. Lịch sử còn chép rành rành ra đó.

– Anh tin sử ký đều là sự thực?

– Chẳng lẽ nó đều là những điều dối trá sao?

– Tôi không nói vậy. Đó là sự thực theo một con mắt nào đó. Anh cũng đã từng tham dự vào một số những biến động lịch sử trong những ngày gần đây, anh đã biết những vụ Ôn Như-hầu, Cổ-am, Vĩnh-yên… vô phúc lịch sử lại được viết bởi những người vừa bỏ tù chúng ta thì anh sẽ thấy, có khi chúng ta còn được gọi là những kẻ phản quốc nữa. Những người sau này đọc còn biết đâu là sự thật. Nếu những người đã chết đều đội mồ mà sống lại được thì chắc lịch sử còn được làm sáng tỏ nhiều uẩn khúc. Có thể câu chuyện chàng Kinh tôi vừa kể với anh chỉ là một huyền thoại, nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn tin rằng một kẻ như Kinh Kha đâu chỉ hành động để hành động hay hành động để lấy chết.

Hai người im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng, họ đưa mắt nhìn lơ đãng xuống bến sông mơ hồ trước mặt, mấy quán lá quạnh hiu trong màn sương đục, bên kia sông lờ mờ hình bóng những lũy tre mỏng đi như nét bút vờn nhẹ trong bức tranh thủy mạc đã lâu đời. Người lớn tuổi nói:

            – Chúng ta phải chia tay nhau thôi.

            – Sao vậy?

            Nơi chúng ta đang đứng đây người ta gọi là vùng tự do hay vùng giải phóng; còn bên kia sông được gọi là vùng địch hay vùng tề. Muốn cộng tác với Pháp thì qua sông, muốn sống trong giam hãm, đày đọa hay chết thì ở lại đây. Anh thấy chưa, bây giờ đâu phải là thời của Kinh Kha, còn Kinh Kha thì Kinh Kha cũng bó tay. Bây giờ có nhiều đất Tần bất trắc, nhiều Tần Thủy-Hoàng, nhiều sông Dịch phải vượt qua… Chiến sĩ một đi không trở lại, tôi không chấp nhận quan niệm ấy, lên đường là phải nghĩ đến ngày trở về, nhưng đó lại là chuyện khác, bây giờ anh qua sông hay ở lại?

            – Còn anh, anh lựa chọn đường nào?

            – Tôi từ chối lựa chọn cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận những con đường có sẵn?…

 

DƯƠNG NGHIỄM MẬU

(1962)

 

 

Niềm đau nhức của khoảng trống
Truyện DƯƠNG NGHIỄM MẬU

 

Tôi bỏ mình nằm lên giường không muốn cựa quậy, quần áo dạ hội lần đầu tiên tôi mặc lên mình, không được tới đám đông, còn trên thân tôi. Tiếng nói Thúy cất lên như một mũi kim nhọn chích vào tim tôi ê ẩm đau buốt và choáng váng: “Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lại lớn quá thế…” Bóng tối vây phủ chung quanh bưng bít. Không khí oi bức ngạt thở của một buổi tối trở trời như sắp vào một cơn giông bão khiến cho từng tế bào của thân thể rạo rực chung với mọi vật vây quanh. Tôi nằm ngửa nhìn lên trần nhà loáng thoáng những vết sáng song song từ một ngọn đèn ngoài cửa chiếu qua cửa chớp in hình không lay động. Cái bướu, phải rồi chính cái bướu. Tôi lấy tay gối ở đầu ra sờ lên chiếc bướu nằm ngay trên cổ tôi. Một cục thịt to hơn nắm tay trồi lên ở cạnh hàm phía trái. Tay tôi ướt nhẹp mồ hôi để lên đó, tôi muốn sờ như tìm lại từng chút, từng chút cái sự thật nằm đây mà tôi đã quên lãng. Dù không có ánh sáng, không có tấm gương trước mặt, nhưng tôi thấy rõ hơn bao giờ hết, nó là một cục thịt phồng ra, bao bọc chung làn da thân thể tôi. Có một khoảng sần sùi màu chàm hơi tía, trên đó có mấy sợi lông đen mọc ra như một khóm lông heo. Cái này có người đã bảo với tôi là cái kiếp trước – những kiếp của tôi là một cái gì đó rất độc ác. Tôi đã đầu thai vào nhiều cửa, nhưng chẳng ai nuôi được tôi, tôi bỏ họ lại. Tôi đã ra vào bao nhiêu lần – rồi đến một lần nào đó có kẻ đã biết – và đánh dấu vào thân thể tôi một chút chàm, một chòm lông heo để cho tôi biết thân và đừng đầu thai vào quấy đảo họ. Nhưng kẻ độc ác nọ đánh dấu ở ngay cổ tôi trên cái bướu này. Sao họ không đổ chàm, trét lông vào lưng, vào bụng hay vào những chỗ tôi có thể che giấu? Cái kiếp trước của tôi ra sao? Thực như thế ư? Nhưng còn cái bướu – cái phần ở trong lần lông heo, trong lần da này là gì? Nó là thịt ư? Nhưng sao nó lại lớn ra mãi thế này. Tôi đã bỏ quên nó, nhưng nó đã lớn theo tuổi tôi. Tôi biết như thế, tôi hoảng hốt: Rồi nó sẽ lớn bằng cái gì?

Bây giờ nó đã bằng nắm tay – bàn tay tôi vừa đủ úp lên nó, mai kia nó lớn lên mãi, lớn mãi bằng mặt tôi, hơn mặt tôi. Khi đó tôi sẽ có một cái đầu thứ hai, cái cổ, cái vai, cái mình tôi đang có đây phải gánh chịu cưu mang nó. Tôi nghĩ đến khi tôi chết trông cái thân thể kỳ lạ này chắc những con người quan tâm nghiên cứu về cơ thể học sẽ xin cắt cái đầu tôi để nghiên cứu, người ta sẽ ngâm vào trong một cái lọ thủy tinh mà triển lãm – gọi đó là một cái quái thai cho những người sau này ngắm nghía, xem xét, cười cợt – “Thôi tôi van, tôi van đừng làm tôi như thế, không bao giờ như thế phải không, nhất định anh tin vậy Thúy ạ”. Tôi hoảng hốt muốn kêu thành tiếng, muốn phá vỡ cái im vắng tù ngục vây quanh, cái thảng thốt đau nhói của mũi kim cứ ấn sâu dần dần vào tim thỉnh thoảng lay động khẽ cho tôi biết cảm giác đó. Tôi thấy như chiếc bướu từ lúc này bắt đầu lớn nhanh hơn nữa – và tay tôi không còn đủ sức che hết, tôi vội bỏ tay rồi xoay mình nằm sấp xuống giường.

Tiếng chuông đồng hồ đổ chín giờ tối. Buổi dạ hội đã bắt đầu được nửa giờ. Tôi nghĩ đến quang cảnh khu biệt thự, những vòm cây mang phiến lá xanh ngả xuống một mái nhà thấp, có ống khói lớn. Khoảng vườn cỏ xanh, lối đi rải cuội trắng. Rồi những hoa lá trang điểm cùng ánh đèn xanh đỏ như trái chín mọng ngọt lịm, những điệu nhạc bắt đầu dấy lên những âm thanh âu yếm, ngọt ngào như những sợi tơ tẩm vàng óng trải ra vây bắt lấy những đôi trai gái y phục lộng lẫy. Cái âm thanh du dương như một dòng sông nào xuôi chảy vang vọng ấp ủ vỗ về cho những bàn tay siết lại với nhau, cho những thân hình quấn quít lấy nhau, những cặp môi, đôi mắt và những tâm hồn du lên cái khoảng xanh êm dịu của bóng đêm… Những ly rượu khai vị nồng cháy, tiếng cười giòn tan… Tôi đã không tới được đấy cùng Thúy đêm nay như từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày trước đó tôi đã mơ tưởng nuôi nấng – “Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lớn quá thế…” tiếng của Thúy lại cất lên.

  • “Bà Oanh mời chúng ta tới dự buổi dạ hội vào tối thứ bảy tới đây. Bà ta khánh thành biệt thự vừa được kiến trúc lại. Bà ta bảo buổi dạ hội sẽ thêm trang trọng nếu có anh và em” – “Thế anh có bằng lòng dẫn em tới không?” – “Sao lại không? Anh chưa bao giờ đến với đám đông có thêm một người thứ hai – Anh chỉ mang một mình anh tới đó như một sự lạc lõng bỏ quên không ai quan tâm. Sự thực lẻ loi này như một thách đố lớn và không ai muốn đoái nhìn. Và tất nhiên anh dẫn em. Muốn hay không là ở em chứ đâu phải ở anh”.
  • “Em nhận lời – em sẽ trang điểm như thế nào theo ý anh” – “Em thì không cần phải trang điểm cũng đủ rồi” – “Em sẽ mặc chiếc áo màu hồng tía có dát kim tuyến đó, tóc vấn cao”… “Anh thì anh khó nói lắm. Em biết thừa đi chứ. Anh yêu cái màu hồng tía ấy ghê lắm…” – “Chỉ có mình anh là khen em thôi. Bây giờ anh hẹn đi” – “Anh sẽ tới đón em trước đó nửa giờ, anh sẽ coi em trang điểm và, nửa giờ để chúng ta tới”. Sau buổi hẹn, tôi thắc thỏm nhìn vào tấm thiếp mời. Tôi may bộ quần áo dạ hội hợp thời trang, tôi căn dặn người thợ may chăm sóc cho nó xứng đáng để rồi tôi đi dự với nàng, chúng tôi có mặt sẽ giúp cho buổi dạ hội trang trọng thêm – Bộ quần áo còn giữ nếp trên thân thể tôi đang bị làm nhàu nát. Tôi đã giữ đúng giờ hẹn tới nhà Thúy và sẽ thấy nàng trang điểm. Vừa từ cổng bước vào, người u già nhìn tôi ngạc nhiên:
  • Kìa cậu Hạnh, tôi chưa bao giờ thấy cậu lịch sự làm dáng như tối nay.

Tôi mỉm cười, hỏi về Thúy, u già kể lể:

  • Cô ấy ở trên phòng, mấy ngày nay cô ấy không bước ra khỏi phòng, như lo nghĩ, chẳng vui vẻ, và ăn uống điểm trang gì cả…
  • Sao vậy – Tôi nghĩ chắc nàng cũng thấp thỏm chờ đợi như tôi. Chúng tôi chưa bao giờ đi đâu với nhau. Buổi dạ hội này như một sự giới thiệu cho mọi người biết chúng tôi đã đính hôn. Điều mà không ai ngờ tới. Tôi đi vội vào nhà.

Mẹ nàng ngồi ở phòng khách đứng lên, tôi cúi đầu chào.

  • Sao mấy bữa nay anh không tới. Em nó làm sao ấy…
  • Dạ. xin phép bác cho cháu lên thăm em…
  • Chắc nó mong anh đấy. Không khi nào tôi thấy nó lạ như ít bữa nay.

Tôi bỏ phòng khách chạy vội lên với nàng. Gian phòng riêng thân mật ấm áp vẫn như mọi bữa. Ánh sáng vừa nhạt cho tôi thấy Thúy đẹp lạ lùng ngồi tì tay nơi ghế. Chắc nàng chờ tôi rồi mới bắt đầu trang điểm theo ý tôi. Nhưng thái độ, cử chỉ vui mừng của tôi không làm nàng vui, nàng khẽ chào tôi, và ngồi im nơi ghế. Tại sao? Nàng nhìn tôi từ đầu đến chân và nhìn vào mặt tôi lâu hơn nữa rồi hai tay ôm lấy mặt mà khóc.

  • Sao em, thế em quên hôm nay anh hẹn em đi dạ hội sao? Gần đến giờ rồi.
  • Anh đừng nhắc đến dạ hội nữa. Anh ngồi xuống đi. Từ sau hôm hẹn với anh em khổ quá, không giờ phút nào em không nghĩ đến anh, nghĩ đến mặt anh…

Tôi như một cái máy ngồi xuống ghế nghe nàng nói, nhưng nàng không nói tiếp được.

  • Chắc em ngại đám đông vì em không quen, thì thôi chứ sao em khóc làm gì…
  • Em nghĩ còn sau này, sau này nữa chứ… Tôi hỏi bao nhiêu nguyên do, nhưng nàng đều lắc đầu bảo không, mãi đến lúc tôi sắp ra về nàng mới nói:
  • Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lại lớn quá thế…

Tôi đứng soi mặt tình cờ vào tấm gương trang điểm của nàng, lúc đó tôi mới thấy, tôi mới biết, tôi mới hiểu cái bướu đang ngự trị bên cổ, cạnh mặt tôi đây. Tôi để tay lên đó để sờ thấy nó hiện hữu giữa đời sống. Điều mà khi tôi yêu nàng – khi mà tôi yêu tôi – tôi bỏ quên nó, tôi không quan tâm đến.

Nàng ngồi ôm mặt khóc. Tôi lấy tay giữ lấy cái bướu bỏ chạy ra khỏi phòng, xuống nhà tôi quên cả chào hỏi, dừng lại. Tôi chạy mau, tay giữ bướu tự mở cửa ra đường. Tôi hốt hoảng lo lắng khi có người, tôi sợ họ nhìn thấy. Tôi nghĩ rằng người ta đang hò hét quanh tôi đòi bỏ tay ra cho họ nhìn, bao nhiêu bước chân đuổi bắt rộn lên, rồi điệp điệp trùng trùng những khuôn mặt xa lạ, ghê gớm, quỷ quái hiện đến như chỉ thấy cái bướu tôi mang trên thân thể. Tôi dùng tất cả sức lực mình, cố chạy cho nhanh, lẩn trốn vào bóng tối. Tôi muốn vươn tay phá lủng tất cả ánh sáng đang chiếu rọi chung quanh. Chừng như nó sáng thêm, sáng một cách rực rỡ, đùa cợt làm cho tôi không biết đâu ẩn thân. Trở lại phòng tôi khóa cửa chắc chắn rồi lăn mình lên giường – Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lớn quá thế… Sao nó lại có? Sao nó lại lớn? Rồi nó lớn đến chừng nào? Trong làn da mỏng này nó là cái gì? Cái kiếp trước của mình ư?

Tại sao từ bao nhiêu năm nay tôi quên cái bướu lớn theo bên mặt tôi – nhất là từ một năm trở lại đây, từ ngày tôi gặp lại nàng – lúc đó nàng có thấy cái bướu chứ? Và để mãi cho đến bây giờ mới nhìn thấy. Buổi tối nay nàng nhìn tôi rất lâu – nàng nhìn cái bướu lâu hơn, kỹ càng hơn, rồi ôm mặt khóc, không dám nhìn vào đó. Nó bỗng nhiên đứng lên to lớn giữa đời sống, để cho nàng, cho tôi, cùng nhận ra – rồi đám đông cùng đến một lúc đối diện và ngăn cách tôi – “Anh thấy rồi em ạ, chắc em vẫn còn đang khóc và còn khóc. Mười mấy năm trời rồi, lúc nhà anh, nhà em còn ở bên nhau. Cái huyện lỵ bé nhỏ chỉ có mỗi một dãy phố chợ, nhà em ở đầu dãy, nhà anh ở đó cùng em. Em đừng khóc nữa, anh sẽ kể lại em nghe thời thơ ấu, của dĩ vãng, năm bấy giờ anh còn sống bên gia đình trong một ngôi nhà nhỏ mái ngói nâu. Hai nhà cách nhau một hàng dâm bụt xanh có hoa màu đỏ. Những năm đầu tiên chúng ta cắp sách đến trường huyện, mỗi ngày chúng ta đi về với nhau.

Ngày bấy giờ em như một trái đào nhỏ, anh và em thời thơ ấu. Chúng ta học thi xem đứa nào thuộc bài, nhiều điểm – mỗi lần trước khi tới lớp chúng ta cùng ngửa tay ra xem tay đứa nào sạch…Những ngày nghỉ, em nhớ không, chúng ta cùng nhau làm cỗ hoa, lá dâm bụt, bằng một củ khoai, cùng nấu nướng đơm cỗ và mời mọc. Chúng ta đã làm đám ma một con ruồi, em đã khóc và anh đã khóc… Nhiều lắm, bao nhiêu thứ, bao nhiêu kỷ niệm dù không gợi ra em cũng nhớ, anh tin rằng em nhớ. Ngày ấy anh mang tên như một cái mặt sị, bụ bẫm của anh – Bệu – nghe tức cười thật, còn em, em là bé Thúy của ông giáo Trúc… Nhưng ngày ấy, em nhớ chứ, trên cổ anh chưa manh nha một triệu chứng gì rằng anh có một cái bướu đang hiện diện trong đời sống đây. Anh nhớ rằng sau đó gia đình em nghèo dần rồi rời phố huyện đi. Em cho anh một con búp bê. Em đi với một cỗ xe ngựa màu nâu. Ai cũng buồn. Anh đã khóc. Mối xúc động ấy có phải vì em không? Những ngày sau đấy anh chẳng hiểu rằng em đi đâu, có điều chắc chắn rằng em đi xa lắm, không bao giờ thấy, như một cái gì vô cùng hoang đường mà mỗi người chúng ta thường lưu giữ. Anh lớn lên, anh không còn vui đùa với em, anh bỏ anh lêu lổng cùng khắp phố huyện, đánh bi đánh đáo, tắm sông, rồi mỗi buổi chiều ra đứng bên đường xe lửa la thét với còi tàu, nhiều lần nhảy lên những toa xe cuối chở than, anh nghĩ nếu anh ngồi xuống đó con tàu sẽ mang anh đi xa – rất xa và có thể tới nơi em ở. Nhưng không bao giờ. Anh la thét ném đá cho những con tàu bỏ anh lại với đời sống huyện lỵ… Ngày tháng trôi mau, mười mấy năm trời sau đấy cái bướu này đã mọc và lớn lên từ lúc nào. Anh không nhớ sao được. Anh nhớ thuở xưa nơi cổ này chỉ có chút màu chàm và lông heo, nó chỉ như một người có nốt ruồi thịt và mấy sợi râu. Nhưng cái bướu đã lớn làm cho khoảng da căng thêm, hình như lông mọc nhiều hơn. Thời thơ ấu chưa có, khi anh yêu em cái bướu mới lớn… Rồi sau này!… Rồi sau này – phải rồi cái bướu, chính cái bướu. Bao nhiêu con mắt có con mắt của em không? Như những mắt súng đang nhìn vào mặt anh, hình như đòi được xét đến. Không thể nào đem cái mặt này đi bên cái mặt kiều diễm của em.

Anh không muốn và cả em nữa – vậy thì đúng rồi, em từ chối đến buổi dạ hội tối nay là phải, và điều quan trọng hơn hết em đã nói cho anh biết. Anh có một cái bướu. “Thôi em đừng khóc, để anh ru em trở về khúc ca của dĩ vãng và anh hiện ra với thời dĩ vãng, mang em về đời sống và ngày mai… này thôi em… anh biết, anh biết lắm…”. Tôi nói lẩm bẩm trong miệng như van lơn, hơi thở nóng hầm hập phả xuống lần gối; đầu tôi nhức nhối, chân tay ê ẩm không muốn cựa quậy. Bộ quần áo mới cứng và chật làm cho thân tôi nóng bức, bực dọc.

Không khí vây quanh vẫn im lìm. Tôi trở dậy bật đèn thay quần áo. Tôi yên tâm giờ phút này không còn ai quấy rầy tôi nữa.

Tôi thấy tôi rối trí quá thường. Bao nhiêu câu hỏi đặt ra với cái bướu. Tôi nhớ rõ hồi xưa nó chỉ một chút. Hay nó cũng như một đời người, những năm thơ ấu đã qua đi cho đến tuổi dậy thì, sau cơn sốt vỡ da nó mới lớn dậy và trưởng thành. Năm nay tôi 22 tuổi, tôi vừa ở tuổi dậy thì, người ta phải qua năm 25, 26 mới hết lớn, vậy chắc tôi còn lớn – và cái bướu còn lớn theo. Tôi nghĩ xem nó có phải là một bệnh di truyền không: Năm tôi còn nhỏ đã mồ côi – năm 10 tuổi. Tôi nhớ về cha mẹ tôi mơ hồ vì tôi không được sống với cha mẹ. Tôi là đứa con thứ hai và cũng là con út. Tôi có người chị lấy chồng sớm, hơn tôi một tuổi – sau khi sanh đứa cháu đầu lòng thì qua đời vì bệnh tràng nhạc. Hay tôi mắc cái bệnh đó? Nhưng sao lâu thế này, lớn thế này tôi không thấy đau đớn gì? Và tôi vẫn chưa chết? Tôi ở với bà nội, sau khi sinh tôi, cha mẹ tôi bất hòa, mỗi người ở một nơi. Tôi chưa sống lâu với cha mẹ tôi. Tôi ở với mẹ tôi, mẹ tôi nói xấu, nguyền rủa cha tôi. Tôi sang ở với cha tôi, cha tôi nói xấu và nguyền rủa mẹ tôi. Tôi là một đứa con, tôi là một cái bị thịt – một cái đích để hai người chửi và nguyền rủa cho tôi chịu đựng, tủi hờn… Không ai thương xót vỗ về an ủi tôi, tôi như người khác máu không liên lạc gì với ai – trừ bà nội tôi.

Tôi mang nỗi tủi hờn về cho bà tôi an ủi nguôi ngoai, chính thế nên ở với cha hay với mẹ, tôi chẳng dám nhìn vào mặt ai, nên sau khi hai người qua đời tôi không nhớ rõ nét mặt, dáng dấp… và tôi chẳng nhớ giỗ chạp bao giờ, may tôi còn nhớ tên ở trong tờ khai sinh để đề vào những giấy tờ…

Không biết cha hay mẹ tôi có bướu ở cổ như tôi không? Tôi chợt nhớ tấm ảnh chụp gia đình tôi năm tôi còn nhỏ, tôi còn mang theo. Tôi lục tìm ra soi dưới ánh sáng đèn. Tấm ảnh đã cũ, nó nhỏ bằng bàn tay thôi. Bà nội tôi ngồi trên chiếc ghế bành ở giữa, hai bàn tay xòe ra ở đầu gối, hai bàn chân cũng xòe ra. Bên cạnh có cơi trầu, ống phóng. Cha tôi mặc áo gấm có hoa, đầu rẽ đường ngôi thẳng chải dầu bóng, mẹ tôi chít khăn có để tóc đuôi gà mặc áo tứ thân cầm quạt, chị tôi mặc áo dài tóc để cun cút – và tôi thấp bé, đầu trọc, đeo khánh, quần xẻ đũng… Mỗi người trong tấm ảnh chỉ to bằng đầu đũa, mặt tôi nhỏ hơn hạt ngô – vì vậy tôi chẳng nhìn thấy dấu vết gì về chứng tích của một cái bướu ở cha hay mẹ tôi. Tôi chưa thấy ai như vậy. Sao tôi lại có.

Khoa học ngày nay tiến bộ, ai cũng biết, vậy đối với cái bướu này chắc chẳng nghĩa lý gì, nó là một cục thịt cứ việc cắt đi là hết. Người ta còn đổi đàn ông ra đàn bà và ngược lại – vậy đối với tôi: Tôi tự nhiên thấy yên tâm. Tôi cất tấm ảnh vào chỗ cũ rồi mở cửa ra ban-công đứng nhìn xuống đường. Có một cơn mưa nhỏ đổ xuống lúc trước vừa dứt hạt, mặt đường nhựa bóng nhẫy ánh đèn, mấy vòm cây xanh đen đứng đằng xa. Trong khoảng mây tối trên đầu hình ảnh khuôn mặt Thúy hiện ra với một vẻ sầu thảm, đôi tay úp lên mặt và những búp tóc xõa vây quanh – Không sao đâu em, anh thấy rồi và anh có thể làm mất nó, em sẽ ngạc nhiên thấy nó không còn, khi đó chúng ta sẽ dự một buổi dạ hội khác – Nó là một vật thừa trên thân thể anh… Tôi nhớ lại một thằng bạn bảo tôi: Cái mặt mày kỳ cục và quái gở như thời đại này. Tôi cho đó là một câu đùa cợt. Nếu nó hợp với thời đại, đúng với thời đại thì sao nó không được người ta công nhận – Nhất là người yêu tôi. Nó là một sự phi lý đến cùng cực mà mọi người chối bỏ. Nếu tôi chỉ có một mình, tôi sẽ nuôi nấng nó như tôi – Nhưng tôi còn những ràng buộc vây quanh nên nó là kẻ lạ, một sự quái gở – Một hiện tượng quái gở mà mọi người chỉ mặt gọi tên nó. Nó ở một mình trên thân thể tôi, hay ở một thiểu số nữa. Cái thiểu số này, đám đông từ chối, bởi vì họ sợ họ là một sự thiếu thốn, một sự quái gở lớn lao hơn.

Tôi bỏ tay vuốt thanh sắt ban-công mát lạnh, những hạt nước còn đọng lại, tôi đưa bàn tay lạnh đó ấp lên cái bướu. Cảm giác lạnh làm tôi rùng mình và nổi gai ốc khắp người – “…Sao mày lớn quá thế, như vậy tức là mày không muốn yên thân phải không? Quân phiến loạn. Nhưng vô ích con ạ! Mày có biết thân phận mày không chứ?”

Qua một đêm trằn trọc làm buổi sáng hôm sau tôi dậy sớm, tôi nghĩ đến ông bác sĩ quen – ông ta là người đã khám sức khỏe cho tôi nhiều lần. Chính ông cũng đã bảo cho tôi biết hồi xưa tôi đau ruột thừa, điều tôi không nghĩ ra. Tôi tin ông có thể biết căn nguyên cái bướu này. Tôi sửa soạn mặc quần áo, trước khi ra đường tôi đứng soi mặt vào gương. Tôi hốt hoảng nhìn cẩn thận lại mặt tôi – Cái bướu qua thêm một đêm chừng như đã lớn hơn nhiều. Phải cắt nó đi. Tôi nghĩ vậy. Tôi đi ra ngoài đường và chờ ở một trạm xe buýt – giờ đi làm nên đông đảo. Tôi thấy mọi người hình như chăm chú nhìn tôi. Một người già xoay lại gọng kính. Hai người con gái xì xào nói nhỏ rồi cùng nhìn mỉm cười. Người thanh niên đứng trước mặt quay đầu lại. Khắp tất cả, ngay một đứa trẻ cũng để tay xoa lên cổ nó, như ở vị trí cái bướu của tôi, để xét xem nó có một cái bướu không. Hai tai tôi nóng ran, chắc đang đỏ tía lên nữa. Tôi muốn lấy tay che cổ, nhưng hai bàn tay đều ngượng ngùng, thừa thãi, không biết cất giấu đi đâu. Tôi nhìn xuống đất rồi lủi ra đầu đường. Tôi vội gọi một chiếc xe nhảy lên. Tôi không còn muốn nhìn vào mặt ai nữa.

Tôi là người thứ hai trong phòng khách đợi. Phòng khám bệnh chưa tới giờ mở cửa. Hai dãy ghế dài bọc vải xanh quay mặt vào nhau. Người khách thứ nhất là một người đàn bà đứng tuổi mặc quần áo đen và buộc một tấm khăn trắng mỏng lên đầu kín cả mang tai. Bà ngồi ở góc kín nơi tay phải, lúc tôi bước vào bà hơi ngẩng nhìn lên chậm chạp. Đôi mắt dại vàng nằm sâu ở quầng mắt thâm đen. Màu da vàng xám có bôi nghệ.

Bà ta ngồi thu một chân lên ghế ôm vào ngực và thỉnh thoảng ho khan.

Tôi ngồi ở ngay đầu ghế bên này. Nhìn vào tấm cửa mở hé vào phòng khám bệnh. Gian nhà vẫn không thay đổi gì – làn gạch vàng dưới chân – làn vôi trắng khỏa khắp các mảnh tường và trần – mùi thuốc phảng phất. Người y tá trở ra vặn chiếc quạt trần, người đàn bà nhìn lên và ra dấu tắt đi. Tôi lặng thinh, người đàn bà tự nhiên lên tiếng:

– Tôi gặp hơi quạt là như muốn sốt rét. Khổ quá ông ạ, xin lỗi nếu ông không vừa lòng.

  • Dạ thưa bà không sao, tôi cũng sợ quạt, chắc bà bệnh đã lâu?
  • Vâng tôi yếu lâu lắm, người bảo đau gan, người bảo đau phổi… uống thuốc bắc mãi không khỏi, nên đi khám xem bác sĩ bảo bệnh gì. Còn ông, chắc ông đau cổ.

Tôi giật mình, sao bà ta lại nghĩ thế. Tôi vội bảo:

  • Không, tôi không đau cổ. Tôi đau tim bà ạ.
  • Xin lỗi ông, tôi tưởng cái nhọt thì đau lắm. Tôi chưa hề gặp ai thế.
  • Dạ vâng. Tôi có thế từ hồi mới sinh, nó là một cái tật, như một ngón tay, ngón chân thừa vậy thôi.
  • Thưa ông thế nó không đau ạ?
  • Không, thưa bà nó như thường vậy thôi.

Bắt đầu có thêm hai bệnh nhân đến. Một cụ già và một thanh niên trẻ hơn tôi. Hai người ngồi ở ghế đối diện. Không ai nói nữa. Câu chuyện giữa tôi và người đàn bà không tiếp tục và tôi cũng không muốn nói đến cái bướu. Tôi đau tim, tôi hơi tức cười khi trả lời câu đó. Nhưng biết đâu, tôi lo lắng và nghe ngóng, tôi thấy như cái bướu bắt đầu phập phồng và có tiếng đập ở đấy.

Nếu sự thực tim ở đó thì tôi sẽ làm sao? Bắt buộc gì tim phải cứ ở ngực, khi tôi sinh ra biết đâu không phải một sự sắp xếp sai lầm. Cũng như cái bướu, sao lại cái bướu có ở cổ tôi mà người khác không có, nhất nữa tôi không thấy dấu hiệu gì bảo rằng đây là một căn bệnh. Tôi cố gắng gạt ý nghĩ ấy đi, nhưng tôi chẳng yên tâm chút nào.

Cánh cửa phòng khám bệnh đã mở hết hai cánh, tôi thấy ánh đèn đã bật sáng, người y tá ra phát số cho từng người. Tôi vào thứ nhì sau người đàn bà. Bác sĩ nhận ngay ra tôi, ông chìa tay bắt mỉm cười, rồi cất giọng ôn tồn:

  • Sao, ông lại đau ruột thừa nữa à?

Tôi luống cuống không biết bắt đầu nói gì, tôi vã cả mồ hôi và nóng ran. Tôi cố gắng đưa tay lên chỉ vào cái bướu:

  • Tôi muốn nhờ bác sĩ xem cho cái này, cái bướu.
  • Nó bắt đầu đau à?
  • Không, nhưng sao nó lớn quá, khó coi…
  • À, à… Tôi thấy nó vẫn thế mà.
  • Tôi sợ nó…
  • Được để tôi xem…

Bác sĩ mời tôi ngồi, ông nhấc lại gọng kính rồi đưa tay khe khẽ nắn cái bướu, mới đầu nhè nhẹ rồi mạnh. Tôi hồi hộp từng phút theo cái cảm giác buồn buồn tê tê – ông hỏi:

  • Ông có thấy đau không?
  • Không.
  • Ông thấy gì khác không?
  • Tôi thấy nó lớn mãi và lông mọc nhiều.
  • Tôi nghĩ nó là thịt thôi, nhưng cũng lo nó là … nhưng không chắc. Tôi ở đây không đủ dụng cụ xem xét. Vậy ông muốn sao?
  • Muốn cắt nó đi…
  • Tôi giới thiệu ông lên bệnh viện trung ương, nơi có người chuyên môn để họ khám xem…
  • Thưa bác sĩ, bác sĩ cho nó là gì ạ?
  • Tôi phỏng chừng thôi, phải xem xét kỹ mới rõ…
  • Liệu có hại tính mệnh không?
  • Ông yên tâm, đừng lo gì…

Vừa nói, vị bác sĩ vừa tìm một mảnh giấy viết lời giới thiệu đưa cho tôi. Tôi cám ơn rồi đến bệnh viện ngay. Tôi đưa tờ giấy cho người chỉ dẫn, người đó chỉ cho tôi vào một phòng nhỏ nơi cuối cùng của dãy nhà thấp. Ở đó một bác sĩ ngoại quốc tiếp tôi. Ông coi tờ giấy giới thiệu rồi mời tôi nằm lên chiếc bàn trải vải trắng. Phía đầu là một bộ máy như một cái đèn gồm nhiều dây. Ông ta hỏi tôi giống như vị bác sĩ trước đã hỏi. Tôi trả lời như vậy. Tôi ân cần nhắc: – Tôi muốn rõ ở trong đó là cái gì.

Ông bảo tôi nằm ngửa nhìn lên một cái đèn vừa bật sáng rồi ông cầm lấy một cái dây nơi đầu có một cái chụp bằng sắt để lên trên cái bướu nghe ngóng, ông thay đổi bốn lần như thế, mỗi lần ông đều ghi vào mảnh giấy. Sau rồi ông bảo tôi:

  • Tôi khuyên ông hãy yên tâm. Chúng tôi cũng không thể giúp được ngay. Bây giờ ông xuống chiếu điện chờ mười lăm ngày sau để chúng tôi xem xét rồi trả lời ông.

Tôi nghe theo lời không muốn hỏi thêm. Tôi chiếu điện chụp ảnh rồi về nhà.

Những câu hỏi lại quay cuồng trong đầu óc. Tôi ngại phải nhìn thấy cái bướu mỗi khi soi mặt vào gương. Tôi dùng một chiếc khăn quấn lên cổ che khuất cái bướu. Tôi nhớ và nghĩ về Thúy hoài hoài – nhưng là một hình ảnh buồn rầu lo lắng. Trên khuôn mặt hiện ra không tươi cười niềm an ủi vỗ về tôi như những ngày tháng trước. Nhiều giấc mơ tìm đến, nàng khóc và tôi khóc theo, những giọt nước mắt còn để lại sau những lần tỉnh giấc. Tôi chờ đợi mười lăm ngày như lâu hơn cả 22 năm tôi đã lớn lên trong tuổi trẻ. Tôi nhớ Thúy khôn cùng, nhưng với cái bướu trên mặt, tôi không còn dám ra khỏi nhà. Thế nào tôi cũng cắt được, phải cắt đi, dù sao thì cũng phải cắt đi. Tôi nhắc nhở luôn luôn như thế. Tôi tự vẽ ra cái hình ảnh tôi sau khi tôi cắt bỏ nó – cái tương lai sắp tới, ngày tháng sắp tới. Ngày chờ đợi thứ mười bốn lại bắt đầu không còn là một ý nghĩ yên ổn và tin tưởng ở một dứt khoát, ở sự từ bỏ cái tôi đang có, cái bất thường hiện ra lo âu ngột ngạt. Bây giờ còn là tôi đây với cái mặt mà bên cổ còn mang một cái bướu, một chút chàm tía, ít lông đen. Khi cắt đi rồi nó còn là tôi không? Cắt nó đi thân thể tôi sẽ thiếu vắng cái sự thực này…

Nó có mệnh hệ gì cho sinh mạng tôi, cho số kiếp tôi? Tôi đến bệnh viện ngày thứ mười lăm và tin mình sắp đổi khác. Sự đổi khác này hình như không còn sự tham dự của một người con gái, của đám đông – mà là chính tôi … Nhưng tôi cố an ủi: “Ít ra mình cũng biết chính thực nó là cái gì?”. Tôi ngồi chờ ở hàng ghế ngoài hiên, khoảng sân trống rộng bỏ ngỏ trước tầm mắt – Bầu trời xám và cơn mưa kéo đến. Tôi lại thấy hình ảnh Thúy hiện ra thiểu não, hai bàn tay bưng lấy mặt, tiếng khóc cất lên cùng tiếng nói: “Anh ạ, em không tới với anh được đâu. Sao cái bướu của anh lớn quá thế…”. Những vòng tròn xanh đỏ, những ngôi sao tím vàng bay nhảy, vây phủ, xóa mờ Thúy đi… Tôi hơi choáng váng. Tôi để tay lên cái bướu, những sợi lông mềm hơi buồn dưới gan bàn tay… nhưng không được, dù sao cũng phải cắt, tôi phải chọn đời sống cho chính tôi, nhất định. Vị bác sĩ đến đằng sau và cất tiếng chào. Ông nhận ra tôi. Ông ôn tồn mời tôi vào phòng và xem xét cái bướu một lần nữa. Ông còn nghe ngóng khắp cả thân thể – như cái nguyên ủy của cái bướu liên lạc với nhiều cơ quan khác. Xong rồi ông tìm những lời ghi chú hình ảnh chụp cái bướu qua điện tử. Tôi nóng ruột hỏi:

  • Thưa bác sĩ, bây giờ tôi đã có thể ngỏ ý xin mổ nó được chưa? Tôi muốn nó mất đi.
  • Nó không báo hiệu một bệnh gì rõ ràng. Tôi cũng đã gởi tài liệu cho viện ung thư xem xét…
  • Thưa ông như vậy có thể mổ được không ạ?
  • Tôi khuyên ông không nên. Tôi sợ là giải phẫu nó xong thì chưa rõ sinh mạng ông thế nào, nó có đây nhưng ông cũng không việc gì mà…

Tôi buồn rầu trở ra, vị Bác sĩ ân cần bắt tay tôi. Tôi bỏ mình đi lang thang ở những con đường nhiều người qua lại và không quan tâm đến họ. Tôi bước vào một tiệm rượu, ánh đèn đỏ mờ thoa phủ lên những khuôn mặt bóng nhẫy. Tôi gọi những ly rượu mạnh tiếp nhau – người ta không giúp anh đâu, đấy em thấy rõ chứ – sao cái bướu của anh lớn mãi thế? – Thôi em đừng nhắc anh nữa. Nó đấy, anh thấy rõ rồi. Người ta muốn anh là một quái thai, một kẻ lạ mặt với đời sống.

Cái sự thực này làm anh không đến được với em và em run sợ nó. Không tại em, không tại anh, tại cái gì? Anh là kẻ độc ác, nham hiểm đã ra cửa này vào cửa kia cho người ta thù ghét và đánh dấu không cho lẫn mặt. Người ta đã điểm danh anh rõ ràng là hiện thân một sự nối tiếp đày ải mà bây giờ anh phải gánh chịu? Hay đây là một sự quả báo do cha mẹ ông bà anh để lại cho anh? Số kiếp anh, cái sự thực này anh không được lựa chọn, rồi lại không được thay đổi ư? Thôi em đừng khóc nữa, đời sống anh dù thêm tiếng khóc của em cũng không cần thiết gì. Nhưng anh đã nghĩ, anh không đến được với anh. Anh không muốn sống trọn cái đời lạ mặt này nữa. Như vậy anh phải chết – Anh chọn cái chết để đề kháng sự định đoạt – không được, em bỏ tay anh ra, mặc anh, mặc anh. Anh phải quyết định về thân phận anh. Sao? Chính anh chọn cái chết cũng là sự ghi nhận của số kiếp ư? – Vậy thì anh – thì con người còn có nghĩa gì về nó nữa? Anh đang say đây, em đến với anh đi. Anh không chọn được ư? Không tuyệt nhiên! Bà ơi, cháu đây bà có dạy bảo gì cháu không?… Tôi bỏ quán rượu mang thân ra những khoảng không trăng, sao, mây, nước, cây, cỏ bay nhảy… Tôi phải chết. Một ngọn đèn đỏ chói lóa lên trước mắt, mặt trời ư? Từng giọt máu giỏ xuống tới tấp… Tôi đứng ở một khoảng vắng có đường xe lửa chạy qua. Khu ngoại ô hai bên đường cỏ dại mọc đầy. Tôi chết ở đây được. Tôi không muốn được cứu sống nữa. Khoảng trống mát làm tôi tỉnh táo trở lại. Tôi đi dọc theo đường rầy đến một chỗ vắng nhất. Hai bên là những lùm cây thấp, bên kia là khoảng đất không, có căng dây thép gai của một trại binh. Trên rất cao một cột sắt khuất vào bóng tối có một ngọn đèn đỏ chói. Tôi ngồi xuống một thanh tà vẹt ở giữa đường tàu – chuyến xe lửa sẽ đi qua cán tôi vụn ra như một đống thịt chuột bị bằm nát làm xíu mại ở mấy tiệm Tàu. Người ta sẽ không nhận ra tôi – một vật quái gở mang bướu bên mặt. Nhưng nếu con tàu không làm nát cái bướu ở mặt. Cái chứng tích này sẽ cho người ta biết tôi. Họ sẽ nghĩ thế nào? Họ sẽ đắc chí sự thắng thế trước một thân phận hèn mọn ư? Không được. Phải cho con tàu làm nát cái bướu.

Tôi nằm vắt ngang người, tôi kè cổ vào giữa thanh sắt, và hai chân vào mé bên kia. Hai bánh tàu sẽ đi qua cổ, và cằm, làm nát bướu, nát mặt, và cắt đôi chân ra. Tôi tự chia mình ra làm ba phần như bài học cách trí ở lớp đồng ấu đã dạy: Thân thể người ta chia làm ba phần: đầu, mình, chân tay…

Tôi nằm ngửa nhìn lên bầu trời tối, tâm hồn thanh thản chờ đợi. Rồi một con tàu sẽ đi qua, rồi nhiều con tàu sẽ đi qua. Ít nhất ra tôi đã tự chọn cái chết. Tôi không có trách nhiệm gì với ai cả. Tôi chỉ thương đám đông thiếu đi một sự quái gở để thấy mình toàn vẹn hơn. Thanh sắt lạnh tê ở cổ, tôi vén hai ống quần lên cho chắc chắn không vướng vất gì. Tôi cất tiếng thổi sáo miệng một bản hành khúc ngắn: bài ca chia tay. Như vậy là vừa đủ để anh xa em, chẳng ai giúp anh… Thế chính anh, chính anh không thể giúp anh cắt bỏ nó đi ư?… Tiếng một con tàu hét còi từ xa, rất xa, rồi gần, đường sắt chuyển mơ hồ, run run rồi động dần… động dần – Tôi nhủ thầm: “Sắp đến rồi, sắp đến rồi, một chút nữa” – Trong lòng tôi thấy mất bình thản. Đường sắt rung chuyển mạnh, tiếng máy rầm rầm, hồi còi xoáy buốt tê điếng đầu óc, đèn pha rọi xuống quáng mắt… Cái khối đen mang hai con mắt tiến đến lù lù… Định mệnh đây rồi… – Thế chính anh, anh không thể cắt nó đi được ư?…

Tôi nghe thấy như tiếng quát bên tai, khiến tôi nhỏm nhanh dậy và vứt mình vào đám cỏ gai vừa đủ cho con tàu trườn qua nơi tôi nằm bỏ trống. Tôi chưa chịu bất lực với tôi. Tôi nằm ê ẩm trong đống cỏ và gai, mùi đất mùi hoa cỏ nhẹ nhàng ẩm ướt vây phủ. Tôi nằm đó rất lâu rồi mới cựa được mình trở dậy.

Tôi lần tới chỗ tôi vừa nằm, đường sắt bị chà xát vẫn còn nóng, một chiếc giày của tôi rơi lại bị cán nát và mang đi một đoạn, mùi khói than còn phảng phất ngột ngạt. Tôi rùng mình giây phút vừa qua. Tôi để tay lên cổ – vẫn còn nguyên chưa xây xát chút nào. Điều làm tôi yên tâm trở về nhà. –  “Thế chính anh, anh không thể cắt nó đi được ư?” – Một lời nhắc nhở, người ta không chịu cắt vì những nghi ngờ gì đấy. Nghi ngờ cái gì? Mọi người không có cái bướu vẫn sống đó. Cắt nó đi cũng chẳng can dự gì. Chỉ cần cắt nó rồi kiếm một chút thuốc sát trùng bôi qua, rịt lại chờ lên da là xong. Tôi đi mua một con dao cạo râu hiệu “Hai thìa khóa” – thứ dao bén nhất, tốt nhất người thợ cạo đã chỉ cho tôi. Tôi mua một ít bông, chai cồn, lọ thuốc đỏ, một cuộn băng, những thứ phổ thông trong phép vệ sinh tôi có biết, chỉ cần một chút can đảm là được. Tôi sắp sửa tất cả một cách sẵn sàng. Đưa con dao cắt đi, bôi chút thuốc, để bông vào và lấy băng buộc lại. Thật vô cùng giản dị. Tôi tự mang tôi đến đời sống.

Tôi quàng một chiếc khăn lớn lên người phòng máu chảy xuống, tôi thoa cồn vào dao cẩn thận. Tôi ngồi trước gương nhìn cái bướu một lần cuối. Tôi nghĩ đến Thúy, đến vị bác sĩ – “Em không tới với anh được đâu! Sao cái bướu của anh lại lớn quá thế!” – “Nó sẽ không lớn được, nó sẽ mất đi, anh sắp giết nó đây, em có vui không? Thôi đừng khóc nữa em…” Tôi để tay lên vuốt ve cái bướu – mảng da màu chàm tía, chút lông heo, cái gì ở trong làn da này nữa? Tất cả cái chứng tích đó tôi sắp bôi xóa đi. Tôi sẽ như mọi người vậy.

Tôi để lưỡi dao lên phía trên, một cảm giác lành lạnh, rồi bắt đầu nóng ran. Tôi tì mạnh lưỡi dao, hơi mát, rồi điếng buốt, một khoảng chân không bỏ tôi rơi hẫng và bay bổng. Đầu óc quay cuồng. Tôi nhìn vội vào gương – Còn chưa dứt hẳn – Cố làm một chút nữa. Nhưng tay tôi run rẩy rã rời, tôi không cố được nữa, mắt tôi hoa lên những màu xanh đỏ chấp chới đảo lộn quay cuồng. Tôi như một vật nhẹ bay bổng, tôi đứng dậy chới với ở một sự hư không bao la. Tôi mang cái thân thể ấy lên. Qua cửa, xuống thang, qua cửa ra đường, phố xá xoay ngược xoay xuôi… sao cái gì thế? Cái gì thế… tắc-xi! Tắc-xi!… sao cái bướu của anh lại lớn quá thế… buổi phát thanh trưa của chúng tôi bắt đầu… kìa ai giết hắn thế kia, giúp hắn với, ai cắt cổ hắn vậy… chào ông vâng chào bà… Phở…ơ…ơ… con khỉ đi tự tử đấy à, đứng lại đứng lại xin lỗi ông… thưa bác sĩ nó là cái gì, nó là cái gì… sao ông không cắt nó đi giúp tôi. Ê đứng lại đứng lại… đèn đỏ, đèn xanh, đèn vàng toe ae… ae…que sera sera, que sera sera… ai giết hắn thế kia… không phải đâu… hắn điên hẳn… này em ơi! Em có biết chăng anh ơi… em rất mực ư chung tình… bambino cha cha cha… chờ tôi với… kìa sao hắn ngã xuống – Tôi ở một cảm giác chìm sâu mãi, lắng sâu mãi xuống. Những khoảng trống lùi xa – và những cơn sóng biển bắt đầu vỗ vào cảm giác nhẹ nhàng, trôi loãng. Những làn sóng táp mãi lên, bọt trắng tóe cao. Hình như người ta nâng tôi lên, rồi thân thể tôi lại bắt đầu run rẩy, bay chạy… Rồi một khối đen ôm chầm lấy tôi.

Sáng ngày thứ hai ở bệnh viện người y tá dẫn đến với tôi hai người cảnh binh. Họ đến để điều tra và lập biên bản về tôi. Sao lại là tôi, người ta đã nhặt được tôi ở ngoài đường khi bất tỉnh. Tôi bị băng cứng cả cổ, và bị buộc xuống giường cho khỏi cựa quậy, cái bướu đã được cắt rồi.

  • Xin lỗi ông, chúng tôi có nhiệm vụ điều tra xem ai đã định giết ông.
  • Ai giết tôi?
  • Vâng, vì pháp luật có bổn phận truy tố kẻ sát nhân dù cho chính nạn nhân không muốn.
  • Tôi tự ý.
  • Ông tự tử?
  • Không, không, tôi muốn sống chứ.
  • Dạ thế sao ông lại cắt cổ. Hay ông định bào chữa cho thủ phạm?
  • Không, chính tôi…
  • Sao lại chính ông?
  • Xin lỗi ông, tôi không muốn nói chuyện với ông.
  • Thế là sao?
  • Là sao? Chuyện của tôi…

Người y tá lên tiếng:

  • Bệnh nhân chưa tỉnh hẳn, xin ông để ít bữa nữa, ông ta rối loạn cần được tĩnh …
  • Cám ơn cô.

Hai người cảnh binh khó chịu trở ra. Vị bác sĩ vào thăm tôi sau đó. Tôi hơi ngạc nhiên gặp lại ông bác sĩ ngoại quốc bữa tôi tới khám bệnh.

Ông nói:

  • Tôi đã khuyên ông không nên, người chuyên môn nói với ông. Ông tự ý làm – Tôi đã xem xét kỹ lưỡng và cái bướu gửi sang viện ung thư đã được xác nhận nó là một trường hợp ung thư. Nếu để vậy thì bệnh phát ra nơi thừa đó. Cắt đi nó sẽ lan vào trong. Nó ở ngay cổ gần thực quản và khí quản nên không sao chữa được. Số mệnh ông không còn bao lâu… Tôi rất buồn phải nói thực với ông như thế…
  • Xin cám ơn bác sĩ. Tôi khứng chịu việc tôi làm cho chính tôi.

Thúy yêu của anh.

            Không hiểu anh đã xa em bao lâu. Thời gian đối với anh không có một chút gì nữa. Anh thấy anh xa cách em vô cùng tận. Em ở một cõi sống đang diễn ra ngoài kia, chung đụng hòa lẫn vào một đám đông ồn ào, với những quy luật đặt định gò bó, tù hãm. Còn anh đang đứng ở biên giới cõi chết. Tuy anh đứng ở đó nhưng anh không thể đến với em – anh chỉ còn dấn thân anh vào cõi chết chờ đợi.

            Bây giờ em đang làm gì trong căn nhà yên ấm ấy? Em đang nghĩ gì? Em có nghĩ về anh không? Anh cho là có. Em đang nghĩ, đang khổ sở không phải vì anh mà vì cái bướu trên thân thể anh. Lúc anh viết những dòng này cho em, cái bướu không còn nữa. Cả cái nắm thịt bọc trong làn da có màu chàm tía cùng một ít lông đã được ngâm vào một lọ thủy tinh nơi viện ung thư, sau khi nó đã được xem xét, nghiên cứu kỹ càng. Ở trên cổ anh đây, nơi ngự trị của cái bướu – một hiện tượng quái gở kỳ lạ, anh đã cắt đi, và vị bác sĩ cắt đi một phần, nó chỉ còn lại một dấu vết – nơi khởi điểm của một chứng nan y không sao cứu chữa được: ung thư. Nó không còn là thắc mắc, nó chính ở trong cái bướu. Anh đã cắt đi, anh đã chiếm mảnh đất nó sinh sống, trưởng thành, nên nó bắt đầu di cư sang một phần thân thể khác. Nó ăn vào trong, vào trong mãi cho đến lúc anh từ giã cõi sống có em này. Bây giờ em đang làm gì, anh viết những dòng này cho em, bởi vì chỉ có em là người thân duy nhất cho anh được tâm sự, trong khi chờ đợi một sự thay đổi. Em đừng nóng giận, đừng tuyệt vọng. Anh vẫn là của em muôn đời. Nhưng em không là của anh. Buổi dạ hội vừa qua chúng ta không tham dự. Nó giúp anh nhận thức về anh, về thân phận anh. Nó không phải một sự tình cờ bỗng nhiên hiện diện. Nó là một sự thực theo đuổi lâu dài và lớn lên cho đến một lúc chúng ta nhìn nhận. Em đã không thể mang anh đến buổi dạ hội – không mang anh đến được với đám đông. Trong cái xã hội vây quanh đây, anh – một sự quái gở – một kẻ lạ mặt xa cách.

            Bao nhiêu năm cô đơn của tuổi trẻ anh đã mang theo – tuổi trẻ của một đứa bé mồ côi lang thang không biết la thét với ai, chỉ biết la thét với những chuyến xe lửa chạy qua mỗi ngày hú còi và phun khói. Chỉ biết mang mình ra khoảng trống đóng lấy những vai trò lừa dối mình. Khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối, chích vào thân thể anh từng giây, từng phút ngột ngạt, tức tưởi lay động, choáng váng tim óc.

            Anh đã đánh lừa và mang anh đến với em. Em đã chịu đựng sự có mặt của anh – nhưng đến bây giờ em không còn đủ sức chịu đựng nữa – em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh. Anh hốt hoảng ở giữa khoảng trống vây quanh anh đã lấp liếm che đậy. Nó hiện ra một vực thẳm sâu vắng. Anh la thét cho tiếng anh trả lại. Anh cũng như mọi người không được quyền về sự sinh ra mình. Nhưng anh không thể không được quyền với thực tại. Anh có quyền về anh nên anh đã cầu cứu mọi người giúp anh, nhận anh là một người như họ.

            Anh đã cắt bỏ cái bướu để tìm về cõi sống, về đám đông bình thường. Nhưng không được. Hành động quyết định mang anh đứng vào ranh giới của sự chết im lặng câm điếc chờ mỗi chúng ta. Anh không muốn đến đó. Hôm nằm trên đường xe lửa khi cái chết tiến đến dần dần, anh đã cảm thấy, anh đã từ chối. Thế mà có người đã bảo rằng anh tự tử, như anh đã kể cho em nghe bao nhiêu lần về quá khứ – đứa trẻ muốn nuôi nấng đến đây là một kẻ trưởng thành. Nó không bao giờ nhắc nhở quá khứ, nó đòi đối diện với thực tại và tiến đến tương lai.

            Trên mặt anh đây, khoảng trắng trống không của trần bệnh viện anh nhìn hoài không tránh được, người ta bắt anh nằm ngửa thế này. Anh chẳng thể xoay nghiêng để nhìn những người đang nằm bên đây, hay để ngó lấy mảng trời, khoảng sân cỏ có vòm cây. Anh chỉ có thể nhắm mắt lại tưởng tượng khung cảnh bên ngoài, sinh hoạt phố phường, nghĩ về em, cũng như nghĩ về cha, mẹ và bà anh. Những người đã chết, những người còn sống và đám đông lạ mặt xưa kia của anh bây giờ như nhau. Anh không thấy rõ em, cũng như là anh. Anh hình dung tưởng tượng bao nhiêu nó càng tan biến, mờ ảo, hư không đi bấy nhiêu. Làm sao để anh nhớ mắt em anh đã nhìn, đôi môi em anh chưa bao giờ được đặt môi anh lên đấy, cả đến bàn tay em anh cũng chưa được nắm lấy một lần. Cái sự thực hiển hiện của em nơi cõi sống là một cái bóng mơ hồ ảo ảnh nơi anh tìm đến.

            Thân thể anh còn đây, cái bướu đã mất. Anh khước từ sự hiện diện vô ích của nó nên anh đã trở thành một sự không thực. Anh chẳng còn gì ngoài cái thân thể đang dần dần nhiễm độc, ung thối ra, cho những sinh vật khác sinh sống. Anh là một sự không thực nằm đây – Sự quái gở bắt đầu bay hơi ẩm mốc. Nhưng từ đó cho anh biết rằng anh là gì. Anh hơn đám đông vây quanh, bởi anh ý thức được sự có anh, mọi người coi họ có mặt – nhưng là một sự có mặt hư ảo, không thấy mình. Người ta từ khước anh – điều đó không cần thiết khi anh đối với anh đã là sự có mặt hằng cửu.

            Anh biết anh là anh. Anh có toàn quyền về thân anh. Có một sức mạnh vô hình nào chi phối đời sống chúng ta? Hạn định, bày đặt từng cử chỉ, công việc chúng ta làm, nhất là cái chết. Bộ mặt nào chờ đón chúng ta ở cuối con đường này. Muốn kháng cự một sự định đặt, chúng ta có quyền chọn lựa cái chết – hành động cuối cùng. Anh không cần đến nó. Anh muốn theo dõi nó. Từ anh đã là sự đề kháng khi anh ý thức được khoảng trống bao la vây quanh anh. Thôi em đừng khóc nữa, một dạ hội không đến với chúng ta và mãi mãi. Nhưng em có thể làm lại nhiều đêm dạ hội khác không cần anh có mặt.

            Anh là một quá khứ, một chứng tích của đời sống. Một hải đảo cô đơn ngàn đời – bởi nó công nhận niềm đau buốt của khoảng trống, từ khước đám đông, thức giác niềm đối kháng với một bộ mặt vô hình nhìn xuống đời sống.

            Thôi em đừng hát, đừng vỗ về anh. Em là một kẻ khác đã xa lạ anh rồi. Anh đứng đây một mình với lòng kiêu hãnh của anh… Anh muốn mô tả cái bây giờ – cái sắp tới… nhưng làm sao anh có thể nói cho em hiểu được. Điều ân hận duy nhất của anh chính là điều đó… Vĩnh biệt em.

 

▄▄▄▄▄▄▄▄▄▄

 

 

 

 

TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT

Truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu

 

Về tới đầu ngõ, người anh cả nghe thấy tiếng sáo, anh nhận ra tiếng sáo của người em út, tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay âm thanh đã trau chuốt và ở đó nghe một nỗi bồi hồi tâm sự. Người anh cả đứng im lắng nghe. Bỗng tiếng sáo như reo vui làm người anh nhảy chân sáo bước vào nhà. Cánh cổng mở rộng, vào tới sân người anh cả thấy em mình ngồi dựa cột hiên, đôi mắt như nhắm lại và tiếng sáo vẫn rộn rã. Người anh bước chậm và nhẹ tới hiên nhà rồi ngồi xuống bên. Thật lâu tiếng sáo mới ngừng lại:

-Anh đã về.

Người anh phác một nụ cười:

-Khúc nhạc của em sao hân hoan, anh nghe và thấy lòng vui.

Người em để ống sáo xuống hiên gạch, hai tay khoanh lấy đầu gối.

-Anh về bao giờ lại đi?

Người anh đứng lên, nhìn ra khoảnh vườn nhỏ, mấy cụm hoa cải vàng, mấy trái mướp thả xuống từ cái giàn thấp, giọng nhỏ êm:

-Anh về ở nhà.

Người hàng xóm ló đầu lên khỏi rào dâm bụt:

-Anh út, sao không thổi tiếp, tôi đang nghe… À kìa, anh cả về đó sao?

-Dạ chào bác.

-Từ hôm qua tới giờ tôi không sao ngủ được, hóa ra có anh cả về, để chút nữa tôi sang chơi, đi đường xa thì có biết bao nhiêu chuyện…

Người láng giềng thụt xuống. Người anh nói:

-Cha đâu?

-Cha nằm trong nhà.

Người anh đứng dậy, bước lên hiên, mở cửa vào nhà. Bầu khí tĩnh lặng. Người anh từ trong nhà bước ra:

-Cha đang ngủ, anh không lên tiếng.

Người em đứng dậy gài ống sáo lên hiên nhà, bước xuống sân đi vào nhà ngang. Người anh thơ thẩn trong khoảng sân gạch. Vẫn cánh cửa xưa. Có chăng mái ngói nâu tươi nay đã rêu phong, trên sân giữa những khe gạch đã có chỗ cỏ mọc. Cây mít lớn hơn và tàn cây rộng hơn. Người anh nhớ tới người em gái kế. Người anh đi vào nhà ngang nơi người em đang xúc thóc từ trong cỗ quan tài ra thúng.

-Chị bé đâu em?

Người em đứng thẳng người:

-Chị bé chết ít lâu sau ngày anh đi. Súng nổ từ phía ngoài cánh đồng.

Người anh đứng im.

Người em tiếp tục xúc thóc ra chiếc thúng rồi bưng đổ vào chum để nơi góc nhà. Mồ hôi đọng trên trán, chảy trên thái dương. Người anh đứng lại bên. Người em bốc một nắm thóc đổ vào lòng bàn tay người anh:

-Anh coi, những hạt thóc có tốt không. Năm nay được mùa nhưng thu hoạch không được bao nhiêu. Đồng ruộng bỏ hoang ai nhìn thấy cũng như dao cắt ruột. Cả làng không còn một con trâu. Hôm nấu xôi mới, cha nhắc tới anh và bảo: nếu thằng cả nó ở nhà…

Người anh quay mặt đi, ngắt lời:

-Thôi để mùa sau.

-Mùa sau?

Người em nhắc lại giọng lạnh và buồn.

Những hạt thóc cuối cùng được vét ra khỏi cỗ áo quan. Người anh đổ nắm thóc từ tay này sang tay kia:

-Cha vẫn thường gọi đây là những hạt ngọc. Nhiều khi ngọc cũng không giá trị bằng.

Người em nhìn người anh, nụ cười ngậm ngùi. Người anh nhìn em: nó vẫn như xưa chẳng thay đổi gì, lầm lầm lì lì…Người em quét sạch cỗ áo quan, lấy tay kỳ cọ trên lớp sơn bóng rồi gõ vào thành gỗ:

-Gỗ gì không biết, tiếng nó cũng lạ, anh nhớ không?

-Gỗ vàng tâm. Cha đã kỳ công đi tìm nó để sắm áo cho ông nội. Anh nhớ… ông nội còn sống thì nay đã hơn trăm tuổi.

-Anh nghĩ ông nội còn sống?

-Cha đã tìm bao nhiêu nơi, nào có thấy tông tích gì. Tù tội… Có khi xương còn nằm trong nhà tù nào đấy…

-Anh khéo tưởng tượng.

-Biết đâu đấy.

Người em lấy ra chiếc ruột tượng, màu xanh hoa lý đã nhạt, người em nói:

-Anh nhớ không?

-Chiếc ruột tượng của mẹ.

-Đúng rồi.

Người em gấp một đầu ruột tượng lại rồi mở đầu kia đổ thóc vào một đoạn ngắn rồi gấp đầu thứ hai lại gọn gàng và đặt xuống sau cỗ áo quan:

-Chiếc gối này êm lắm.

Người em sờ tay lên khắp cỗ áo quan, giọng đều đều:

-Sau khi đắp nấm mồ chung cho bốn người, trong đó có chị bé, cha vỗ tay vào cỗ áo quan nói: có sẵn áo quan đây mà nó đâu được nằm, cái số nó thế chịu thôi…Có thời nào mà chết chùm, tan xương nát thịt chẳng còn nhận ra được. Rồi cha nhìn em bảo: không lẽ tao đóng cỗ quan tài này cho mày?

Người anh lặng im lắng nghe. Bao nhiêu cảnh huống của ngày tháng cũ, khoảng trống những ngày anh vắng mặt:

-Anh nhớ ngày cỗ áo quan được đóng. Còn em?

-Những hình ảnh mơ hồ, lúc ấy anh đã lớn, em còn nhỏ. Từ đó nó ở bên em và những câu chuyện về ông nội do cha kể lại.

Người anh lại gần để tay lên thành cỗ áo quan:

-Hồi đó người ta định xử bắn ông nội. Cha chạy ngược chạy xuôi lo tìm gỗ về cho thợ đóng gấp. Nhưng ông nội không bị xử bắn, người ta kết án chung thân khổ sai, biệt xứ. Ông nội bị đưa đi chẳng bao giờ cha còn thấy mặt. Cha kêu đám thợ mang đi sơn cỗ áo quan rồi được mang vào nhà ngang, nó ở từ đó tới nay. Những ngày đầu cỗ áo quan làm cho nhiều người sợ, nhưng dần thành quen thuộc, có khi nó dùng đựng thóc, lúc đựng ngô, lúc nhỏ có lần anh và em nằm trong đó trốn cho chị bé đi tìm…

Người em đứng ở đầu cỗ áo quan, đưa hai tay xuống dưới thử nhấc lên:

-Nặng quá. May mà có anh trở về… Lúc trước có lúc em nghĩ nếu mình chết chắc cha sẽ bỏ mình vào đây, nghĩ thế thấy khiếp quá, bây giờ thì anh đã về và em chưa chết.

-Có khi nào em hay cha cho rằng anh đã chết không?

-Mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết …Nhưng anh cũng đã trở về, dù sao em cũng mừng bởi vì chỉ một mình em thì làm sao mà tha cỗ áo quan lên nhà trên. Anh giúp em một tay.

Người anh nhíu mày:

-Mang lên làm gì?

-Cho cha nằm.

Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp:

-Cha chết rồi sao?

-Cha đi tối hôm qua…

Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đập vang động rồi tiếng khóc oằn lên. Người em trở ra hiên nhà lấy cây sáo trúc xuống và bắt đầu thổi một khúc nhạc, âm thanh nhảy nhót vui tươi. Người anh từ trong nhà bước ra, nước mắt ràn rụa. Người em ngừng thổi sáo. Người anh nói giọng khô:

-Cha chết mà em không buồn sao?

-Cha già thì chết, tại sao lại buồn? Anh khóc, cha có sống lại không? Anh có hết đau khổ không? Cha nói với em: cả đời không làm điều gì quấy, không có gì phải hối hận, cha nhẹ lòng khi nhắm mắt có con ở bên. Con hãy thổi sáo cho cha nghe…Và em đã thổi sáo từ đêm qua tới giờ. Sống, chết là lẽ bình thường. Ngày tháng và đường xa đã dạy cho anh những gì?

Người em đưa sáo lên thổi, những âm thanh dìu dặt bay lượn như đang quyện vào trong gió chiếm lĩnh cả khoảng không gian bao la giữa trời và đất. Buổi chiều đang xuống nhẹ nhàng. Đàn chim sâu về kêu ríu rít trên những ngọn cau, trong tàn thấp của cây hoa ngâu. Tiếng chuông thu không vẳng đưa từ xa lại trong buổi chiều tĩnh mịch. Người em hỏi:

-Bao giờ anh lại đi?

-Đi đâu?

-Đi khỏi nhà.

-Em không muốn có anh ở nhà sao?

-Em nghĩ: anh không phải là người để sống ở trong nhà, lại nữa bây giờ cha đã mất…Từ lúc em lớn lên đến nay em thấy có mấy khi anh sống ở nhà… Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh đâu có sống với những điều đó? Em không nghĩ là có lúc anh trở về…chuyện còn dài. Bây giờ em muốn tẩm liệm cho cha và nhập quan.

Người em đi xuống nhà ngang, người anh bước theo không nói một tiếng. Hai anh em rất khó khăn mới khiêng được cỗ áo quan lên nhà trên. Trước hết người em đốt hai ngọn nến trên bàn thờ rồi đến chỗ cha nằm cầm lên tấm nhiễu điều mở rộng trải vào trong lòng cỗ áo quan. Nhẹ nhàng, cẩn trọng người em bế người cha đặt vào trong cỗ áo quan, đầu gối lên cái ruột tượng nhồi thóc, tấm nhiễu được phủ kín lại. Hai anh em nhấc tấm ván thiên lên. Người anh ngừng lại:

-Anh muốn nhìn mặt cha lần nữa.

Người em để tấm ván thiên xuống. Người anh mở tấm nhiễu nhìn lên mặt người cha mắt đã nhắm lại êm ả, những sợi râu bạc trắng như cước, những nếp nhăn trên trán như những nét khắc trên mặt tượng. Người em nói:

-Cha nói: anh không giống cha, anh giống mẹ. Em nghĩ chắc anh giống ông nội.

Người anh không nói kéo tấm nhiễu lên mặt người cha. Người em nói:

-Em không nghĩ cha chết, cha đang ngủ.

Tấm ván thiên được đậy lại, những con cá gỗ được đặt vào đúng chỗ, người em dùng cái vồ đập vào những con cá gỗ cho tấm ván thiên khít lại. Tiếng vỗ nghe vang dội. Người anh ra ngồi trên bộ ngựa ở gian bên. Người em thắp ba nén hương cắm vào chiếc lư sành. Khói hương nghi ngút. Người em nói:

-Sáng mai đưa cha ra đồng.

-Em không báo cho họ hàng làng xóm?

-Hãy để cho mọi người thêm một đêm yên tĩnh. Bây giờ để em đi nấu cơm ăn.

Người anh ngồi lại ở nhà trên, mùi hương trầm thơm ngát. Ánh sáng vàng tỏa không đều trong ba gian nhà với những thân cột lớn. Người anh đi xuống nhà dưới, người em lấy gạo vào giá mang ra cạnh bể nước ngồi vo rồi đổ vào nồi. Khi người anh bước vào nhà bếp lửa đang cháy hồng, nồi cơm đang sôi. Người em gạt những hạt bỏng gạo trong bếp ra nhặt bỏ vào trong miệng. Cơm chín, người em lau chiếc mâm gỗ rồi xới ba bát cơm đầy, so ba đôi đũa, múc một chén tương rồi bưng lên nhà trên để nơi chiếc sập giữa nhà trước cỗ quan tài. Đứng trước mâm cơm người em nói:

-Cha kể: xưa có một người con nghèo hèn phải đi làm mướn nuôi thân, ngày giỗ cha không quên chỉ còn biết kiếm một cái bát, múc lấy một bát cám lợn rồi đội lên đầu mà khấn với cha… Cha chỉ mong sau này khi cha đã chết, mỗi lần giỗ nhớ nấu cơm cho ngon, một chén tương, một bìa đậu phụ, thêm ít rau luộc là được, suốt đời cha ăn những thứ đó…

Hai anh em bưng cơm lên, trên mâm còn một bát cơm với đôi đũa để bên. Người anh đưa chén cơm lên miệng, mùi cơm thơm mộc mạc. Người anh chảy nước mắt. Người em nói:

-Sao anh khóc?

-Anh nghĩ tới những ngày xa nhà, lúc về thì cha đã mất… Người anh để bát cơm xuống mâm. Người em buông đũa và úp cái bát không xuống mâm. Một lúc người em nói với giọng kể đều đều:

-Có một câu chuyện cha kể đi kể lại nhiều lần trong những bữa cơm tối, nó như một câu chuyện khôi hài, để em kể lại cho anh nghe: Một người cha nói với con: để có ăn hãy ra đồng làm ruộng. Người con nói: chắc gì được ăn mà làm. Người con không ra đồng. Người cha kiên nhẫn cày ruộng, gieo mạ, cấy lúa, bón phân, làm cỏ, tát nước cho đến khi lúa chín. Người cha bảo con: lúa chín rồi hãy ra gặt về mà ăn. Người con bảo: gặt về có chắc được ăn không. Và người con không chịu ra đồng gặt lúa. Người cha kiên nhẫn gặt lúa, gánh lúa về, đập lúa, phơi lúa, giã gạo rồi nấu cơm. Khi ngồi xuống ăn cơm, người cha hỏi con: đã chắc ăn chưa? Người con nói: chưa vào miệng thì chưa chắc. Người cha tức giận đứng lên. Thấy người cha nổi giận, người con đứng lên bỏ chạy. Người cha cầm lấy đôi đũa cả đuổi theo. Khi trở về nồi cơm đã bị chó ăn hết. Người con đứng ở ngoài cửa nói: đó đã chắc đâu… Mỗi khi kể tới đó cha cười lớn và nói: cái ông cha này sao nóng giận vô lối. Con hư thì phải dạy còn mình thì thấy cái phải làm thì làm thôi. Mình nhà nông, có làm thì có ăn… Cha mẹ sinh con ai dễ sinh lòng…

Một khoảng im lặng. Người anh nhìn bát cơm đầy để trên mâm, cạnh đôi đũa:

-Em có nghĩ là cha đã không bằng lòng anh?

-Cha nói: anh sống thay cho cha.

Người anh im lặng lúc lâu, người anh nhìn vào mặt người em hỏi:

-Còn em?

Người em út bưng bát cơm còn nguyên trên mâm ăn tiếp, lúc đặt bát xuống người em nói:

-Anh về ở nhà luôn?

-Anh không đi đâu nữa.

Người em đứng lên giọng đầy xúc động:

-Anh về rồi thì em đi. Lúc trước còn cha, em dù muốn cũng không thể đi được. Ai trông nom cha lúc về già? Anh đi hẳn anh nghĩ rằng ở nhà đã có em, cuối cùng dù thế nào cũng có chỗ để trở về. Bây giờ anh đã trở về và em có thể lên đường…

Sau bữa cơm tối, người em ra ngồi ngoài đầu hiên nhà lấy ống sáo thổi tiếp, người anh ngồi dựa lưng vào hiên lắng nghe. Đêm qua nhanh. Lúc bình minh vừa hé người em ra khỏi nhà. Lúc mặt trời lên ở ngọn cau thì em trở về cùng những người họ hàng và dân làng. Mọi người bắt tay khiêng cỗ quan tài trên vai đi ra cánh đồng. Không có tiếng khóc. Mọi người nói với nhau về người cha lúc còn sống, những câu chuyện không đầu không đuôi, xen kẽ là những tiếng cười vì câu chuyện cũ. Người em đi lên phía trước vừa đi vừa thổi sáo. Người anh đi phía sau cỗ quan tài. Huyệt đào trên thửa ruộng khô màu đất tươi. Cỗ quan tài được đặt xuống và đất được đổ lên. Người anh lấy bó hương rồi cắm lên ngôi mộ mới. Người em ngồi trên một bờ ruộng nhìn về phía chân trời. Mọi người đã ra về. Người anh lại gần người em:

-Bao giờ em đi?

Người em đứng lên:

-Sao anh không giữ em ở lại?

-Em đã lớn, như ngày xưa lúc anh đi, cha đã không nói gì. Đi hay ở là ở nơi em.

Người em ra đứng bên mộ cha để sáo lên môi. Người anh nghe thấy một khúc nhạc bi thiết. Khi nắng đã lên cao, người em cắm ống sáo lên mộ cha rồi cùng trở về với người anh. Người anh nói khi bước chân vào sân nhà:

-Không biết lúc em về thì anh còn sống không?

Người em đứng gần hiên nhà:

-Anh nghĩ em có thể bỏ nơi này mà đi được sao? Ai cũng bỏ đi cả thì ngôi nhà này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh lấy đâu nơi để trở về?

Sài Gòn 12/1974
Dương Nghiễm Mậu

 

 ▄▄▄▄▄▄▄▄▄▄

BÚT KÝ DƯƠNG NGHIỄM MẬU 

ngày tháng rời

  • nhật ký của Dương Nghiễm Mậu

 

30-5-63

Xe ngang qua Xá-Lợi thấy có nhiều xe đò đậu phía sau trường Gia-Long cùng với một số cảnh sát có xe jeep. Tôi linh cảm có chuyện gì đây. Lên tới chợ Bến Thành thì đã rõ: các nhà sư biểu tình trước trụ sở Quốc Hội. Đi men lên chỗ Thông Tin Mỹ thì bị chặn lại, tôi trông thấy một số biểu ngữ, nhiều chữ nhỏ đứng xa đọc không được ngoài chữ NHỊN ĐÓI lớn. Ghé nhà in, gặp ai cũng bàn tán. Sự thực ở Huế ra sao? Tôi nói với anh T.: Sự việc này chưa thể lường được, nhất nữa nó đã trở thành công khai.

 

2-6

Được T. báo: anh T. chết ở Pleiku. Tôi ghé lại Xóm Chùa. Tiếng mõ tụng kinh. Bà mẹ khóc. Người vợ có mang ngất đi mê sảng. T. nói hồn anh ấy nhập vào. Xác vẫn chưa đưa về. Hai đứa đứng dưới chân cầu thang nói chuyện. Anh T. chết về mìn. T. kết luận: vô lý, sao lại chết. Mọi người chết ở mặt trận để làm gì? Chết cho ai. T. nói về thằng N.Q. bây giờ cạo trọc đầu đi làm cho H. hắn bảo: làm vậy vì muốn cho anh em có xe hơi đi. T. nói chở nó đằng sau xe khi ngang qua đường xe lửa khi muốn hắn rớt xuống cho chuyến tàu chạy ngang, thật là thời quỷ vương.

 

4-6

Chiều cùng anh T. lên đưa đám. Hạnh Thông Tây. Những chiếc huyệt đào sẵn, tôi đã lảng xa lúc hạ huyệt.

 

Tin tức về những cuộc tuyệt thực ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Quảng Trị… Biểu tình ở Huế làm 54 sinh viên bị thương báo chí loan tin dè dặt.

 

8-6

Gặp S.N. Tôi gặp Th. đi café nói về một Thượng Đế Ba Ngôi. Đọc cho Th. nghe một đoạn vừa viết. Th. kêu: bi quan, cô đơn, quá nhiều mâu thuẫn và nghi ngờ cả chính mình. Mình đã nói: không có gì khủng khiếp cho bằng khi biết không có một tương lai được phác lược.

 

11-6

Đang ngồi ở nhà in H. chạy về mồ hôi mồ kê nhễ nhại nói không ra hơi: tự thiêu ở ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, tôi bỏ ra phố, chỗ nào cũng nói, cũng bàn và tên một người rất lạ được nhắc đến: Thích Quảng-Đức, và hình ảnh bi hùng được vẽ ra… không thể nghĩ hay tưởng tượng được… Tu sĩ chết vì tôn giáo bị kỳ thị. Tại sao đã bao nhiêu năm nay bị đàn áp, bị tước đoạt tự do, bị treo bút mà chúng ta chịu im, ôi hèn!

 

12-6

Cảnh sát và lính đầy phố. Không khí hoang mang chán nản. Lo âu.

Chiều ra phố, café… những lo âu kéo lên những chán nản nằm đó. Không thể viết, đọc, hay nằm im. Quy có lại sao anh buồn? anh buồn thì làm sao em hiểu, làm sao nói ra? làm sao? làm sao?

 

5-7

Cuốn sách xong hôm nay. Đi coi Ngã rẽ tâm tình ở rạp Hưng Đạo. Lúc về gặp lính soi đèn pin vào mặt hỏi giấy.

 

8-7

Chiều đọc báo được tin Nhất-Linh chết. Tự tử bằng thuốc véronal. Báo chí chỉ viết vắn tắt, nhiều chỗ bị đục trắng. Tối T. mang tới cho mấy lời di chúc của Nhất-Linh đánh máy nhoè nhoẹt. T. hỏi: Phải làm gì? Tôi nói: muộn mất rồi, đến khi hỏi nhau như thế thì đã muộn, chúng ta đã làm gì trong mấy năm qua, chúng ta đã sửa soạn gì đâu mà nói đến làm. Người ta đã chửi tôi khi nghĩ rằng phải có một ý thức hệ, khi tôi viết về xã hội, về một ý thức tranh đấu… Bây giờ làm gì? tôi không biết nữa. Làm gì khi chúng ta tay không với khối óc tan loãng, không mục đích, không tin tưởng.

Sự thật bày ra làm chúng ta thức tỉnh, nhưng đã tỉnh thật chưa?

Người ta bảo Phật giáo bi quan, yếm thế. Nhìn ngó và nghĩ xem có thực vậy không? Chúng ta mất gốc thật sự. Chúng ta theo Tây phương. Chúng ta biết gì, hiểu gì về Phật, Lão, Khổng? Dân tộc tính là gì? Truyền thống là gì? Thiên chúa giáo mang đến đây những gì? Tôi nói: Thiên chúa giáo gặp hai trong những trường hợp bất hạnh ở Việt-Nam: Pháp đã lợi dụng, người Việt nhiều nơi cho rằng người theo đạo Thiên chúa là theo Tây và bây giờ lại đang gặp một hoàn cảnh ngộ nhận như thế nữa. Thế lực chính trị và tôn giáo? Chế độ Franco ở Tây Ban Nha nhân danh gì? Nhân cái chết của N.L. tôi có viết một bài có mấy đoạn:

 

“Bây giờ Nhất-Linh đã chết thật rồi, nghe tin ông chết tôi nôn nao khó nói, nắp quan tài đã đậy lại, bây giờ đã là lúc đủ điều kiện để phê phán nhận định về tư tưởng và hành động của Nhất-Linh chưa?

 

Tại sao Nhất-Linh đã không còn là thần tượng của tôi và của những người trẻ tuổi khác khi ông bước trở ra sân khấu cuộc sống, sự từ chối của tôi, của người hai mươi tuổi không hề toa rập với sự từ chối của những người thuộc thế hệ Nhất-Linh và những thế hệ tiếp như thế hệ 40, 30, bởi vì trước đó khi Nhất-Linh còn là thần tượng tôi đã từ chối họ rồi, bởi vì trong dĩ vãng cũng như hiện tại họ đã chẳng có gì để tôi nhìn vào đó. Tôi gọi đó là một thế hệ đã bị bôi nhem, họ đã chẳng là thần tượng mà còn là kẻ có tội với thế hệ tôi và tôi chờ đợi Nhất-Linh, nhưng khi Nhất-Linh trở lại thì chúng tôi cũng thấy Nhất-Linh đã không còn là của thời đại chúng tôi nữa, ông là của dĩ vãng, ký ức, ông là người của một thời đã qua, ông không sống trong, không nói được, không làm ra những gì chúng tôi đang sống, cần nói, phải làm… Trong một bài báo viết từ năm 1861 về vấn đề văn nghệ Dostoïevski đã đưa ra một ví dụ lý thú. Ông nhắc lại một trận động đất ở thành Lisbonne vào cuối thế kỷ thứ 18. Trận động đất hết sức dữ dội: nhà cửa, lâu đài tan nát, phân nửa dân chúng tử nạn hoặc bị thương, con khóc cha, vợ khóc chồng, cảnh tượng hết sức thê thảm.

Sáng hôm sau tờ báo Mercure de Lisbonne phát hành như thường lệ. Những nạn nhân sống sót, tuy không còn thời giờ và trí óc nào để đọc báo, cũng tò mò muốn biết các nhà văn nghệ đã viết những gì về thiên tai vừa qua. Ngay nơi trang đầu, vào chỗ danh dự, có bài thơ của thi sĩ trứ danh thời đó. Và bài thơ tạm dịch như thế nầy:

Thì thầm, hơi thở âm thầm,
Tiếng hát run run chim sơn ca.
Lóng lánh bạc
Giấc mơ giòng suối.
Ánh sáng đêm trường, bóng tối đêm trường,
Bóng tối vô tận:
Biến chuyển nhiệm mầu
Của gương mặt Thượng-Đế
Hôn, mơn trớn lệ,
Ôi! Bình mình! Bình minh!

Dostoïevski không rõ số phận của thi sĩ như thế nào, khi dân chúng Lisbonne đã đọc bài thơ ấy. Nhưng ông phỏng đoán rằng họ đã đem chàng ra phân thây hay treo cổ giữa chợ cho hả giận. Mà họ giận chàng không phải vì bài thơ từ đầu tới cuối không có đến một động tự, hay là vì nó phạm đến thuần phong mỹ tục. Họ giận là vì bài thơ trong hoàn cảnh đó, có ý nghĩa bỡn cợt quái gở, bỡn cợt sự đau khổ của ta”(1). Vậy từ 1954 đến nay, những nhà văn của chúng ta đã làm gì? viết gì? có phải chúng ta đã đùa cợt, đã mơ mộng, đã xa lánh cuộc sống, đã bỏ chạy, đã quên mất thiên chức của người cầm bút? Chúng ta đã ca hát giữa một xã hội bưng bít, giữa sự chết chóc bi thảm, giữa những áp bức đè nặng, chúng ta bỏ quên sự thật như thế mà những nhà văn của chúng ta chưa bị treo cổ lên thì kể dân chúng Việt-Nam cũng hiếu hoà lắm. Hay họ đã khinh chúng ta quá lắm, họ không còn muốn biết đến nữa. Bởi vì rõ ra đó, những thảm khốc đầy rẫy mà chúng ta im lặng, có kẻ hoan hô, ghi ơn. Kẻ sĩ đã chết hết thật rồi sao? Rõ ràng rằng xã hội đang đàn áp cả những người tu hành, nhân danh tự do, dân chủ, độc lập, dân tộc, yêu nước để buôn xương máu của chính anh em, bà con, dân chúng Việt mà sao chúng ta lại im.

Ngọn lửa Nhất-Linh sáng lên. Điều mà tôi không hề chờ đợi. Ngọn lửa một chiến sĩ, cộng vào ngọn lửa của một tu sĩ đã làm sáng lên trong tôi rằng: Giữa đêm tối bưng bít của lịch sử đã có ánh sáng mở đường, và thần tượng Nhất-Linh trở lại ngự trị trong tôi.

Tôi chia văn học Việt-Nam theo hai giòng chính: Giòng tâm linh Lý Trần. Giòng tình cảm từ Nguyễn Du tới nay.

Có một sự kiện trên thế giới: sau thử thách Mác-xít, nhiều người đã từ chối cực tả để trở về cực hữu.

Ở Việt-Nam cũng có những trường hợp như thế nhưng lại quay về hai nhánh ngách khác nhau, sau khi tôn thờ khoa học Tây Phương, sau thử thách cách mạng và Mác-xít thế hệ đó: một là lui vào vỏ cá nhân vị kỷ tìm lấy tự do trong cô đơn và phủ nhận tất cả; hai là trở về nguồn chấp nhận và muốn phục hưng một thời xưa cũ: áo dài, khăn đóng, đi cày, thắp đèn dầu, tiêu cực khước từ xã hội đương thời. Đó là một sự thật cay đắng. Đó là hậu quả những hành động tùy thuộc tình cảm: Thấy nước nô lệ thì tìm cách giải phóng, thấy cộng-sản ác độc thì chống đối. Không bao giờ hành động trên một căn bản tư tưởng cho nên giải phóng được đất nước chúng ta không giữ được độc lập và trong khi chiến đấu chống cộng-sản, nhìn thấy những nhầm lẫn phi nhân tàn bạo của chủ nghĩa Mác-xít mà chúng ta vẫn chưa có một hệ thống tư tưởng để phủ nhận nó và xây dựng một xã hội mới.

Phảng phất đâu đây tư tưởng tổng hợp manh nha một viễn tượng. Đó là một con đường, đó là con đường độc đạo khó khăn. Ở đó văn hóa nắm vai chủ yếu. Tôi nghĩ một nền văn hóa tiến bộ của thế giới và Việt-Nam phải là một nền văn hóa hướng về viễn tượng đó.

Sự cô đơn của thế hệ chúng tôi mỗi lúc một lớn. Thế hệ tôi đứng ở một ghềnh đá cheo leo, chiếc cầu tre mong manh của hai ba thế hệ trước đã bị chặt đứt, chúng tôi mất chỗ lùi chân lấy đà để vượt qua những khó khăn sừng sững. Sự vinh dự rất lớn mà sự nhục nhã cũng rất lớn. Chúng tôi vừa phải tiến bước vừa phải kiếm tìm khó khăn những giá trị tinh thần cũ làm vốn liếng mà không có người giúp đỡ, đó là trách nhiệm những thế hệ cha chú mình. Cuộc phiêu du của một giai đoạn lịch sử sắp chấm dứt? Nhất-Linh đã nói với chúng ta rất nhiều, và nhiều điều chưa nói…

Nói đến tiền chiến là nói đến lạc hậu, thoái trào, nói đến văn nghệ tiền chiến với bây giờ cũng thế. Nhưng có người đã nói: các anh chê họ thì các anh đã làm gì cho thời hậu chiến của mình chưa? anh kể tôi nghe. Các anh bảo họ là ảnh hưởng Tây Phương, bây giờ các anh ảnh hưởng gì, các anh đã phản ảnh được thực trạng xã hội ngày nay bằng họ ở thời họ không? Trước câu hỏi ấy, chúng ta không trả lời được. Đó là một câu hỏi rất đúng. Đó là điều đặt ra cho người cầm bút ở đây. Chúng ta có một căn bản tư tưởng nào? Tại sao chúng ta chưa nói được những điều của thời đại chúng ta?

Là một nhà văn trẻ tôi vẫn đinh ninh rằng: chúng ta có một nền tư tưởng Việt Nam, giá trị tinh thần ấy do sự kết hợp của nhiều nguồn tư tưởng mang đến trong giòng lịch sử. Hơn một thế kỷ nay nền tư tưởng đó đang được bồi đắp bởi nền tư tưởng Tây Phương. Không thể nói rằng chúng ta không có tư tưởng, không thể nói rằng chúng ta chỉ chịu ảnh hưởng cái này hay cái khác. Đã là tác phẩm của một nhà văn Việt Nam thì ở đó có hơi thở của một tinh thần Việt Nam. Tôi quả quyết điều đó. Văn chương của chúng ta hiện tại chưa hay không phản ảnh được thời đại chúng ta lỗi đó không riêng cho nhà văn, tôi không có ý muốn bào chữa giảm khinh cho trách nhiệm của họ. Tại sao? Tôi mong mọi người dành một chút suy nghĩ về những khía cạnh của nguyên do đó. Trước khi kết tội nhà văn.

 

13-7

Sáng đi cùng anh T. lên Grall đưa đám N.L. Khi trên xe trở về một người đàn bà nói: Thấy buồn về cái chết của anh Tam chẳng đi tới đâu. Người ta hèn quá. Mọi người đã im lặng. Im lặng vì thấy rằng bà ta có lý: đại diện của cái hội văn hóa mà N.L. sáng lập, làm chủ tịch rồi làm cố vấn chỉ ấp úng mấy câu ai điếu vào phút chót, sau nhà chính trị chiến hữu của N.L., sau nhà văn trẻ N.T. đã nói nghẹn ngào như muốn khóc lên tất cả nỗi nhục của người cầm bút bị tước đoạt tự do.

 

16-7

Lên nhà in, nói chuyện với S.G. về không khí khó thở như một bình hơi đã đầy, nói đến sức mạnh của Một vầng mặt trời cần thiết cho đời sống mọi người, mây mù vẫn phủ, trên nền khói nhân tạo những mặt trời giả được phóng ra nhoè nhoẹt, nhem nhuốc… mình trôi lờ đờ. Chiều gặp một người bạn: sao đã nói tự do thì phải để cho tôi tự do chứ, phải để cho tôi ghi lại những cái gì đang có đây chứ nếu không 10 hay 20 năm nữa người ta sẽ cho chúng tôi là hạng người nào? nếu không thì hãy câm hết đi. Ngoài đường, ngoài chợ kia những gì đang được nói đến sao bắt người cầm bút không được viết.

Đọc thư của N.N. một lá thư dài, bây giờ cảm thấy phải làm một cái gì đó. Mình xúc động về lời trong thư. Mình vẫn nghĩ rằng mỗi người hiện nay đang có những khó khăn về sứ mệnh mà nó phải thực hiện, nó không thể đừng được trong cuộc thử thách, nếu nó không ý thức được điều đó nó sẽ bị phá hủy. Đọc phần cuối của cuốn Tiểu thuyết hiện đại, T.T. viết về NỔI LOẠN, và cho rằng: những Sartre, Camus… nổi loạn ở Tây Phương là hợp lý, còn ở V.N. thì có gì mà cũng nổi loạn. Quả thực như vậy sao? Quả thực trong hiện đại lịch sử của xứ mình không có đối tượng gì để cho nhà văn mình phải nổi loạn nữa sao? Người ta chết ngoài mặt trận để làm gì? Tại sao phải tự thiêu? Tại sao N.L. phải tự tử?

 

17-7

Sáng nay lúc 9 giờ khi đi xe từ Chợ Lớn về đến Ngã Sáu thì bị kẹt. Dọc đường Lê Văn Duyệt từng đoàn các vị sư tất tả chạy lên phía chợ Bến Thành. Cảnh sát ngăn không nổi. Mình nhảy xuống xe chạy theo. Tới cửa chợ toán sư bị ngăn lại ngồi tụ vào một chỗ và cảnh sát giữ tay nhau vây chặt lại làm thành một vòng tròn. Cảnh sát xô kéo bắt từng người vứt lên xe, có người chui đầu vào bánh xe ngăn không cho chạy, có người bị đánh chảy máu đầu. Rất lâu sau cảnh sát bắt hết đoàn sư lên xe rú còi chạy về đường Trần Hưng Đạo. Số phận họ?

 

19-7

Nói chuyện rất lâu với anh T. về hiện tình lịch sử, hiện tình xã hội và đều đồng ý rằng đây là hiện tình nhiều bi đát. Không thể nào có cách mạng được. Vấn đề Phật giáo đặt ra một hiện tình, đánh thức lương tâm, soi sáng sự bi đát. Quần chúng ít ý thức ngay giới trí thức, thanh niên cũng lụn bại, họ du nhập nhầm lẫn những tư tưởng Tây phương. Thiếu hẳn một ý thức với chính ngay cuộc sống thực tế. Thanh niên đã hèn đi nhiều vì trong chín năm qua đã bị hoàn cảnh thái bình và sung túc giả tạo đầu độc, làm nhu nhược, làm hèn, không có lý tưởng, buông trôi… nhắc đến trường hợp Đại Hàn dân quốc… Mình nghĩ thời đại này là thời đại NGỜ VỰC. Xét lại chính rằng: cũng hèn. Đã làm được gì? viết được gì? có ý thức nhưng lúng túng không biết làm thế nào. Tương lai sẽ đen tối hàng 10 hay 20 năm nữa khởi từ lúc ngọn lửa được đốt lên…

 

7-8

Tính sổ, mình không ngạc nhiên vì sao báo không có người đọc. Vì người viết bị tước đoạt tự do, người đọc không đọc vì không có gì can dự đến họ. Mình bàn dẹp bỏ tờ báo, người viết không viết được ra những điều hắn muốn viết, mà viết những điều đâu đâu thì thành ra lố bịch và trong hiện tình này thì là một trò hề. Sao không được nói ra: mất tự do? sao không gác bút?

Trên ván bài không còn một cây tẩy nữa? Những thay đổi đến từ bên ngoài, không từ bên trong. Mọi người ở tình trạng thụ động không có hành động, chủ động: Hèn!

Gặp Y. Tại sao chưa XUỐNG PHỐ? Sao lại đòi Phật tử xuống phố. Đáng ra bây giờ mình phải xuống phố chứ? Phải chăng đã khôn quá, ngoan quá, cẩn thận quá, không còn cái liều? Tôi muốn kiếm tìm một ngọn cờ… Thất nghiệp, đói nghèo… T. cho một bài thơ đánh máy. Mình ở thế hệ bị hy sinh, biến động này có hai điều trông thấy rõ ràng: Phật giáo sẽ phát triển, chúng ta thấy sự mất gốc của chúng ta. Gây một ý thức cho thanh niên.

Người Tây phương không thể hiểu được về một người ngồi như tượng và lửa đỏ bốc cháy…

 

17-8

Tân Xuân Thu, không có lãnh tụ… Tại sao? Dân bất lực cư, sĩ vô định chí? Bây giờ là Tân Xuân Thu? Bao nhiêu ngọn lửa sẽ được đốt lên nữa?…

 

21-8

Sáng thức dậy nghe ra-dô tuyên bố tình trạng giới nghiêm. Việc phải đến đã đến. Mình hoang mang, mọi người hoang mang về số phận các nhà sư và số phận chính họ…

 

23-8

Sinh viên bãi khóa. Dân chúng lo âu, bỏ làm ăn. Biến cố này sẽ mang nhiều ảnh hưởng về tinh thần. Thiên chúa giáo ở Đông phương sẽ gặp sự thờ ơ của dân chúng và người Đông Phương sẽ tự ý phục hưng các giá trị tinh thần của họ theo với những kiến thức mới. Xã hội sẽ thêm phân tán, ảnh hưởng tinh thần Tây phương sẽ bị giảm sút.

Tất cả các trường học đã đóng cửa. Nói về thái độ của một người trí thức trong chính quyền vừa từ chức. Mình cho là một hành động xu thời… 8, 9 năm nay làm gì? Bây giờ bỏ trách nhiệm cho ai để làm anh hùng?…

 

25-8

Súng đã nổ ở cửa Chợ Bến Thành, có sinh viên đã chết. Ngọn lửa đã lan rộng từ giới Phật tử sang giới sinh viên, học sinh… mối lo âu khắc khoải trên khắp các bộ mặt. Bao nhiêu người đã bị bắt. Giam vào đâu cho hết.

 

4-10

Sau những T., Q., N…. ai sẽ bị bắt nữa… muốn quên, muốn quên.

 

Anh Giao,

Anh hỏi tôi trong thời gian xảy ra vụ Phật giáo tôi có viết được gì không? Không, tôi chẳng viết được gì suốt trong thời gian ấy, và tôi cũng không làm được gì cả. Giai đoạn ấy mang đến cho tôi một số vấn đề phải suy nghĩ, nhất là những vấn đề buộc người viết văn phải biết đến, ở hoàn cảnh một đất nước Việt Nam như hiện nay. Có nhiều vấn đề vẫn còn nguyên vẹn. Một chế độ đã bị thay thế nhưng xã hội chúng ta có thay đổi gì không, cuộc sống có tươi sáng hơn không? Chúng ta phải làm gì? Chép lại nơi đây những mảnh vụn của một thời gian để anh tuỳ nghi sử dụng, tôi chỉ có ý muốn gợi một số thắc mắc, băn khoăn, lo âu của  mình với những người trẻ đồng lứa. Bởi vì tôi và họ còn phải sống…

 

Dương Nghiễm Mậu

(Văn số 10)

_____

 

 ▄▄▄▄▄▄▄▄▄▄

  

Sông Vệ

Tạp văn của DƯƠNG NGHIỄM MẬU

 

Rất nhiều người trong chúng ta ước ao được xuất ngoại, đi khắp thế giới rồi có chết cũng mãn nguyện. Tôi cũng ước ao như thế. Nhưng có bao nhiêu người trong số một vạn người thực hiện được ước ao đó? Thời nhỏ, sống “chăn trâu” cắt cỏ ở quê mẹ, cách xa Hà nội hai mươi cây số, tôi được biết dân làng tôi bao nhiêu người ước ao được thấy Hà nội một lần trước khi chết, số người thỏa ước chẳng bao nhiêu, những người dân quê cả đời chỉ may nổi được một lần chiếc áo dài the để cưới vợ và lúc chết được người thân mặc cho vào người để nhập quan.

Lớn lên, xa quê mẹ, tôi ước ao mình có cơ hội để đi hết nước từ Bắc tới Nam. Nhờ tản cư chạy giặc tôi được đi qua một số vùng trên tỉnh Sơn, ven Rừng Ngang những vùng mà sau này tôi tìm thấy trong thơ Quang Dũng, như Bương-Cấn, Bất Bạt… Nhờ cuộc di cư về Nam tôi được sống ở Huế, Nha Trang, Saigon, nhờ đó tôi được biết Quảng Trị, Đà Nẵng… Đi nhiều, biết nhiều, thấy nhiều tôi thành bất mãn với những người viết sách về sử địa của mình: nước non chúng ta có nhiều hùng vĩ, đẹp đẽ, cũng như bao nhiêu khổ sở, nghèo khó… đã chẳng được viết ra, mô tả một cách trung thực để cho các em nhỏ trong các lớp học thấy mà yêu thêm, mến thêm đất nước thân yêu mà tổ tiên mình đã nhiều công khó gây dựng và bảo vệ cho đến ngày nay.

Sinh trưởng lớn lên ở đất Bắc nghèo khó, tấc đất như tấc vàng, hạt gạo quý như hạt ngọc. Tôi đã biết thế nào là đổi bát mồ hôi lấy bát cơm, biết thế nào là cảnh đói mà trong vườn nhà tôi, năm 1945 cả một vườn chuối đã tan hoang; một thân chuối, một củ chuối cũng không còn, cả những cây đu đủ, những cây khoai ngứa ở ven ao cũng đã thành món ăn khan hiếm. Nhưng sau này, có dịp ngang qua miền Trung, tôi biết thêm rằng: những khổ cực của miền Trung còn hơn nhiều miền Bắc. Những đất Nam, Ngãi, Bình, Phú khô khan cũng đau khổ, nghèo khó như ở quê mẹ tôi. Những giòng dưới đây tôi trích trong một trang ghi chép nhân một chuyến thăm ngắn ngủi tại Quảng Ngãi vào đầu tháng năm vừa rồi.

Phi cơ cất cánh khỏi mặt nhựa còn đọng nhiều vũng nước của trận mưa đêm qua. Mùa mưa đã trở về hơn một tuần lễ nay, những ngày nắng khô thiêu đốt đã dịu đi nhiều. Có những buổi chiều ở Sàigòn đã có nền trời xám và những đàn én bay thấp dưới lòng phố. Trên những hàng ghế ẩm ướt, chừng như đêm trước phi cơ đã có một chuyến bay. Máy bay càng lên cao càng lạnh, qua cửa kính tôi nhìn thấy trên cánh máy bay nhiều giọt nước đọng chảy về phía sau kéo thành nhiều vệt nước song song, dưới những vạt mây trắng mỏng tôi nhận ra những thửa đất màu nâu kẻ vuông và những nền cây xanh. Máy bay lên cao nữa, tôi nhìn ra chỉ còn thấy mây trắng bao la, trời xấu, nhiều mây, máy bay bị lắc, những người trong chuyến bay đều im lặng, có người nhắm mắt dỗ giấc ngủ, có người cúi mặt vào tờ báo hoặc cuốn truyện. Trời lạnh, tôi đốt điếu thuốc và nhớ Đà Lạt. Tôi nhìn lướt trên trang nhất tờ nhật báo, bảng tổng kết chiến sự sau ba tháng ròng oanh tạc Bắc Việt, quân đội Mỹ đã vào Việt Nam con số lên tới 60 ngàn người…

Tới một lúc phi cơ thoát khỏi ra vùng mây trắng đục, máy bay xuống thấp vượt trên những ngọn núi xanh màu lá cỏ rồi tôi nhận thấy một triền bãi bể cát trắng nằm ngăn cách mặt nước biển xanh biếc và một vùng đất liền trong nội địa màu nâu đen nhoa nhếch, loang lở không đồng nhất, những miếng màu xám, màu nâu, màu trắng bẩn xen kẽ nhau từ trên cao nhìn xuống tôi không nhận được ra đó là gì, chừng như là cỏ hay cây khô. Tôi cũng nhận ra những thung lũng, đất màu trắng bạc, nước suối chảy làm thành từng cấp như một tòa thành trôn ốc. Thời gian vượt qua bờ biển trắng kéo dài lâu lắm, nó ngừng lại khi người bạn đồng hành nói với tôi: tới Quảng Ngãi rồi đó, con sông dưới kia là sông Bé. Tôi nhìn ra một vùng đất trắng khô rộng, nếu chuyến xa hơn nữa, tới chừng nào dải bờ biển trắng khô kia mới chấm dứt? Máy bay lượn một vòng rồi đáp xuống. Khởi hành với không khí ẩm ướt, tôi bước xuống sân bay với ánh nắng chói lòa oi ả và bụi đất đỏ bay mù mịt từ phía sân bay đang kiến thiết đưa đến.  Bộ mặt nghèo và không khí chiến tranh xuất hiện ngay nơi phi trường qua tầm mắt. Sân bay chỉ là một vùng đất trống, trải đá xanh và đá đỏ, với hai căn nhà tôn hẹp thấp và khoảng sân đất nhỏ toàn ổ gà hằn vết bánh xe, con đường ra cửa được lát bằng những tấm sắt có lỗ thủng tròn. Trên những hàng rào giây thép gai những cỏ khô, rác rưởi trong con nước mùa lụt còn để lại tơi tả, khô héo. Xe mang chúng tôi vào thành phố, bụi đất đỏ bay mù và nắng chói. Quảng Ngãi đây rồi. Thành phố những con lộ khô héo, những dãy phố thấp cũ còn ngấm nước, và những thân cây bị phạt ngọn. Và những khuôn mặt đen đủi khô khan.

Tôi biết đến tên Quảng Ngãi từ lúc còn đi học, tên gọi được nhắc đến từ trong bài học địa lý Việt Nam. Hồi năm 1954 vào sống ở Huế, biết hình dạng đôi giép Bình Trị Thiên, tôi được biết thêm về Quảng Ngãi nhờ những con gà rất lớn có chân màu chì, người ta nói với tôi: gà mang ở trong Quảng ra. Trong Quảng, nói theo thơ Hàn Mặc Tử: Học trò trong Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi chẳng rời. Tôi cũng còn biết thêm: Phạm Văn Đồng sinh ở Quảng Ngãi, và một câu tục ngữ: Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co. Những mơ hồ ấy về Quảng Ngãi vẫn thôi thúc tôi cái ý muốn được đến sống ở miền vẫn được kể như nghèo khó nhất của miền Trung, để xem dân tộc ta còn có những con người can đảm đã phấn đấu như thế nào, để trước nhất đối địch tranh giành với thiên nhiên, đồng hóa đi một dân tộc có văn hóa là dân tộc Chàm, và phát triển trưởng thành tạo nên đất nước này trước khi mở rộng được đất nước vào miền Nam phì nhiêu trù phú.

Dừng lại chốc lát nơi thị trấn, chúng tôi lên xe tới một làng thuộc quận Tư Nghĩa. Chỉ trong mấy phút ở giữa trung tâm chúng tôi đã tới ngang đồng quê, con quốc lộ nhỏ chạy qua làng mạc, cánh đồng, hai bên đường có đường mương rất sâu với giòng nước cạn, trên đó cánh đồng đất khô trắng hoặc trơ gốc rạ, hoặc đã được cày lên phơi mình đất khô những tảng lớn như đất sét. Ngay trên cánh đồng, một vài ngọn đồi thấp, trên đó là những tảng đá già lớn trơ vơ không cây cối, có những tảng đá nằm ngay trên ruộng đất. Con quốc lộ bị làm hư hại nhiều khúc, có những chỗ mùa lụt đã làm sạt đi, mặt nhựa nhiều chỗ không còn nữa, những ổ gà được đắp bằng đất ruộng, trời nắng khô, đất bị nghiền tung bụi. Trên một quãng đường ngắn có ba chiếc cầu, hai chiếc bị sụp đổ, một chiếc mới được xây cất. Những chiếc cầu này đều đã bị hư trong thời gian bị lụt. Tôi nhớ con số về những người chết trong cơn bão lụt vừa rồi lên tới bảy ngàn năm trăm người. Số người chết, những hư hại còn bỏ lại sau hàng nửa năm, vết tích một con nước vẫn còn đó đủ cho tôi nghĩ đến sự tàn phá khốc hại mà người dân miền Trung đã phải chịu đựng.

Trên quốc lộ đó, một người đã nói đến những chuyện thương tâm đã xẩy ra: người ta vớt được một đứa nhỏ trong một chiếc thùng sắt tây trôi trên mặt nước với đầy đủ giấy khai sinh, thẻ kiểm tra của bố mẹ. Ta hãy nghĩ đến nỗi đau khổ trong tâm trạng gần như tuyệt vọng của cha mẹ đứa nhỏ khi phải trôi đứa con ra giữa giòng nước, với một hy vọng mong manh khi sắp nhắm mắt, dứt đời mình giữa giòng nước hung bạo.

Cảnh bi thảm những người bám trên mái nhà lạnh cóng không đủ sức để giữ chặt lấy giây của phi cơ trực thăng thả xuống cứu họ. Hay khi đang được cứu lơ lửng trong không thì bị Việt-cộng từ dưới bắn lên. Phấn đấu, giành giật với thiên nhiên, với trời chưa đủ, người dân miền Trung còn phải phấn đấu với chính mình, một mình đau thương bi đát trước hoàn cảnh mà mỗi giờ phút họ phải đương đầu từ hơn hai mươi năm trời nay. Vẻ phấn đấu ấy khắc ghi sâu đậm trên những khuôn mặt khô đen, những vết nhăn già trước tuổi, con mắt vững mạnh, đôi tay chắc và đôi chân đen đủi da sát xương mà tôi đối diện. Hãy tưởng tượng đến cảnh đạp nước từ dưới mương thấp mang lấy từng bát nước nhỏ lên cánh đồng khô cao, hãy tưởng tượng những chiếc xe bò nặng nề, những chiếc xe đang được biến thành xe vận tải do người đẩy để chuyên chở hàng hóa, hãy mường tượng những mái nhà lá nhỏ bé mong manh trong những lũy tre già… Bộ mặt của miền Trung khốn khổ, gai góc nhưng anh dũng kiên trì.

Xa trung tâm thị xã khoảng gần hai chục cây số, chúng tôi dừng chân lại nơi giữa quốc lộ mà hai bên đường có hai dãy nhà gắn liền sát với mặt đường, hình ảnh của một phố huyện thời chiến tranh, ở đó những căn nhà thấy có mái hiên trống dài ra ven mặt đường là những cửa hàng nhỏ, có thể ở đó những phiên chợ được họp mỗi ngày. Những đứa trẻ đen đủi, cởi trần quanh quẩn bên những chiếc cột là thân cây nhỏ được tước bỏ vỏ. Trong khoảng vài chục căn nhà xơ xác, với sinh hoạt buồn tẻ quạnh hiu ấy tôi đã đếm được tám cửa hàng, hay nhà đóng và bán quan tài. Những chiếc quan tài đóng vụng về và nhỏ, chừng như hà tiện gỗ, hoặc để mộc phơi thớ gỗ trắng xấu, hoặc sơn nhoa nhếch màu đỏ màu vàng. Tôi chưa bao giờ gặp lại ở đâu một nơi có nhiều hàng bán quan tài như thế.

Tôi đã dừng chân ở đó, gặp những anh em quân đội có người mới mười sáu tuổi cầm súng gác dưới hầm, cùng tiếng súng nổ lẩn khuất phía xa những rặng tre xanh. Tôi hỏi đây là đâu, một người nói: đây là sông Vệ.

Những trang ghi chép của tôi về chuyến đi Quảng Ngãi không có đoạn cuối. Một trang ghi chép sau đó ít ngày ở Saigon là một bức thư tôi viết cho một người em ở dưới Kiến Hòa, trong lá thư tôi hỏi Thúy: Chiến tranh buồn quá phải không em?

Tháng 5- 1965

DƯƠNG NGHIỄM MẬU

(Nguồn: Tạp chí Văn Học)

▄▄▄▄▄▄▄▄▄▄

 

 

DƯƠNG NGHIỄM MẬU –
Bút ký____________

NHỮNG VÙNG ĐẤT VÀ NGÀY THÁNG RỜI

Cây số 17 tối 29-4-68: Bốn giờ chiều đường dây từ Huế gọi ra: trở về gấp. Anh Hạnh kêu chiếc xe đổ thêm xăng, coi lại máy rồi tiễn tôi ra khỏi La Vang. Người tài xế nói với tôi: anh giữ chắc súng nghe, tôi phóng đó, hồi này cũng khá rồi. Quốc lộ mở rộng, những ngọn đồi cỏ thấp phía tây, xa những ngọn núi giấu đỉnh trong mây. Mé biển những lượn đất cát trắng khô khan, thỉnh thoảng mấy ngọn dương xơ xác… Cây số 27, Lê Hằng Minh của Trâu Điên đã chết, cột cây số bị bắn nát. Tới Huế trời đã hơi tối. Người bạn trong bộ tư lệnh nói: xe chở anh ra cây số 17, họ đợi anh ngoài đó, có lẽ sớm mai, phải ra đó ngay… Không kịp làm gì ngoài việc đổi xe trở lại cây số 17, người tài xế già lo ngại khi cho xe quay lại thị trấn, tôi trấn an: chết có số.

Khung cảnh trơ trụi, một bồn nước cao giữa những ngọn cây khô, hàng kẽm gai dày cỏ bị đốt cháy nhem nhuốc. Người tôi trở thành một chiếc xe vận tải: máy móc, mũ sắt, áo giáp, chiếc áo khoác trở thành chiếc va-ly với đầy đủ những vật dụng, từ viên thuốc đau bụng tới que tăm, bàn chải và thuốc đánh răng. Gặp Khải, gặp Đính… Bính nói: ngủ hầm hay ngủ trên, pháo kích ghê lắm. Bính chỉ ra những bức tường đổ, những hầm hố chung quanh. Tôi nói: ngủ ở trên, pháo kích chạy. Yên chí có chỗ nằm, liên lạc để sớm mai nhảy xong mình đi ra ngoài, vòng qua những hậu cứ, ra quán bên quốc lộ kêu một chai bia. Mấy người lính mua theo những thứ cần thiết. Không thể thiếu đế, trong đó mưa và lạnh lắm. Buổi chiều bỗng nhiên có lúc sáng rực với nắng quái, con đường bụi và mấy chiếc xe chạy hết tốc lực thi đua với thời gian… Chợt nhớ nhà… Anh Đính nằm trên chiếc võng treo vào hai thân cây ổi nhỏ, chiếc máy truyền tin ở bên, anh hút từng hơi thuốc ngắn kể lại cho tôi nghe ngày dẫn tiểu đoàn vào Ngọ Môn… anh nói: mai vào trong chắc đụng lớn. Anh cười.

Khoảng nửa đêm trời đổ mưa, tôi thức dậy nghe tiếng động của im lặng. Người lính đều đã ngủ và những chiếc ba-lô đã gọn gàng. Trong rừng núi thâm u của Trường Sơn kia những ai đang thức?…

Tà Bạc 30-5-1968. Năm giờ sáng tiếng còi réo tập họp. Tôi nhớ tới những sớm tinh mơ trong quân trường ngày nào. Dế kêu, cả lũ thức dậy nhanh nhẹn thu xếp, tập họp… Đã hai năm. Những người lính trở dậy, đeo ba-lô lên vai thầm thì trở ra bãi đáp, chỉ có những tiếng ho, những tiếng nói nhỏ, tiếng bùn lép nhép dưới đế giầy, những đốm lửa trên đầu điếu thuốc lập lòe trong đêm tối. Từng người nối đuôi nhau, những chiếc mũ sắt, áo mưa phủ kín, đoàn người như một dòng những khối bóng tối di động. Quân đưa cho tôi chiếc lon nhỏ với chút cà phê bột nóng bỏng: như vậy là hiếm lắm đó, vào trong đó còn nhỏ rãi ra nữa… Con đường nhỏ đầy những vũng nước của trận mưa đêm qua. Băng qua những thửa ruộng còn chân rạ chúng tôi tới bãi đáp là một triền đồi thấp có cỏ. Quân nói: mình nhảy Tà Bạc, Lương, Bình ở trong đó từ chiều hôm qua, chuyến này đi e lâu mới về. Từng đơn vị nhỏ tập họp nơi hai bên sườn đồi cách xa nhau. Người đứng ngồi lóng ngóng, những bóng người di động không rõ nét, những người đứng xa nhau hai thước không rõ mặt. Từng nhóm người tụ lại, từng cơn gió lạnh buốt ẩm nước. 9 giờ một đoàn trực thăng xuất hiện và thấp dần đổ xuống ở giữa ngọn đồi. Đếm được 30 cái. Từng tiểu đội nhanh nhẹn lên trực thăng. Thời gian chờ đợi kéo dài. Mây vẫn chưa tan trên những đỉnh núi phải vượt qua trước khi vào thung lũng. Những chiếc trực thăng nằm im với những cánh quạt rũ như những con chuồn chuồn gặp nước. Khi đọt nắng đầu tiên chiếu xuống những lá cỏ long lanh nước thì những chiếc cánh quạt bắt đầu quay nhanh. Trong giây phút cả đoàn trực thăng nhấc mình lên khỏi mặt đất, tôi bám chặt tay vào chiếc dây nơi ghế ngồi. Chúng tôi lên cao, lên cao mãi. Những ngọn đồi thấp, những ngọn núi không cây, màu cỏ thay đổi từng vùng. Gió lạnh thốc trong lòng máy bay. Trực thăng lên cao mãi, có những khoảng mây đục thấp, đoàn trực thăng nối đuôi nhau theo những khoảng trời xanh, len giữa những đám mây, len giữa những ngọn núi đồi trùng điệp… Cho tới khi máy bay bắt đầu xuống thấp, tôi nhận thấy phía trước mặt một thung lũng, hai chiếc trực thăng võ trang đang nhả đạn, đường bay nhanh và những chao lượn ngoạn mục. Thung lũng có một chiều ngang khá rộng, kéo dài về phía nam, mấy ngọn đồi thấp trơ vơ mấy ngọn cây khô. Mầu đất phơi đỏ ở dưới, từng hố bom nối tiếp với nhau chạy dài ngút mắt, đất nứt làm cho những hố bom sâu có hình thù của những chiếc lá sen già đã tàn, những chiếc lá sen khổng lồ, đó là dấu tích của những trận mưa bom hồi đầu mùa xuân trước khi những trận mưa lớn đổ xuống… Từng chiếc đáp xuống nhanh nhẹn, từng người lính nhảy vội tóe sang hai bên, trực thăng bốc lên nhanh…

Tà Bạc, trung tâm của Ashau, phía Bắc là A Lưới giáp ranh với Quảng Trị, phía cực nam là Ashau thông vào Quảng Nam có con đường vào vùng công trường 6, tức Khe Tre. Từ Tà Bạc có con đường 547 qua Ba Hi Vũng Chậu để tới Huế, con đường mòn ấy trong những năm yên bình cũ đã đưa nhiều người vào trong Tà Bạc trong ý định thiết lập một vùng định cư mới, nhưng nay đã không có dấu vết gì về những cố gắng của một thời. Trên con đường 547 hiện có một đơn vị Mũ Đỏ hành quân. Trời bắt đầu đổ mưa nhỏ hạt, số quân còn lại không thể đổ tiếp. Anh Đính cố gắng bắt liên lạc với một tiểu đoàn ở hướng Nam. Chúng tôi rẽ cỏ làm đường, những ngọn cỏ lau sắc như dao cao hơn đầu người. Một người lính đi trước đập tay lên cổ vuốt xuống một con vắt, máu đầy trong lòng tay, anh ta nhăn mặt chùi tay vào một nắm lá cỏ. Tất cả chúng tôi được báo động coi chừng những con vắt nhỏ như sợi chỉ, màu xanh, nhảy tanh tách từ những lá cỏ bám vào cổ, vào tay, những người lính vội tụt tay áo, kéo cao cổ áo… Những thân cỏ lau ngã xuống, những bước chân đạp lên tạo thành một con đường mới, con đường đưa chúng tôi lên ngọn đồi lớn nhất nằm trong thung lũng. Lên tới lưng chừng đồi thì tôi gặp anh Lương đang đứng bên một chiếc hầm đang được đào dở. Từ Mậu Thân bây giờ chúng tôi mới gặp lại nhau. Trực thăng đang thả trọng pháo xuống, những người lính pháo binh vội vã thiết trí và ngay sau đó đã hướng về phía nam, hướng lên những ngọn núi phía tây nhả đạn. Anh Lương liên lạc với Mẫn ở một ngọn đồi phía Nam báo tin tôi đã xuống. Niệm đang dẫn đại đội vào những sườn núi thăm dò. Ngọn đồi đang bị tràn ngập những người lính. Những ngọn cỏ cao đang được đạp nằm xuống, thật nhanh chóng những chiếc hầm đã hoàn thành và những ngọn khói xanh đã un lên: những người lính nhặt củi đốt lửa nấu cơm trong khi chờ đợi… Cho tới giữa trưa, tất cả đơn vị của Trung đoàn 3 đã xuống hết thung lũng. Tiếng trọng pháo nổ đều đều…

Ăn một miếng cơm đựng trong chiếc hộp sắt. Người thượng sĩ già cầm chiếc bi-đông đưa về phía tôi, miệng hơi mỉm cười: uống miếng nước anh. Tôi nói cám ơn và cầm lấy bi-đông đưa lên uống. Tôi suýt bị sặc vì ngụm rượu đầy, tôi mỉm cười không nói, rượu đế có mùi vỏ quýt thơm nồng. Đây đó những người lính chụm lại với nhau ăn cho qua bữa, có người mở ra những thức ăn mang sẵn, có người nướng cá khô, có người bẻ lấy mấy tàu bắp cải bỏ ra ăn sống. Theo chân những đơn vị bộ binh bao giờ tôi cũng thấy hiện ra những gian khổ. Những gian khổ không phải chỉ trong những bữa ăn, nó hiện ra nơi những bộ quần áo sứt chỉ, đôi giày vẹt đế, dáng vẻ nhẫn nhục, họ thường có mặt trong những vùng đất có giới hạn, họ bám giữ lấy đất trong những điều kiện khó khăn và phương tiện tiếp trợ ít oi, khác hẳn với những người lính ở đơn vị tổng trừ bị… Họ đi hành quân mang theo gạo, rau, nước mắm, tàu vị yểu… họ không thích hợp với đồ hộp. Họ cần gạo hơn là bánh khô…

Tới quá trưa tôi theo một tiểu đội đi về những sườn núi phía tây, Niệm báo về khám phá được những hầm của địch. Con đường mòn nhỏ có nhiều hố bom, chúng tôi thấy những ổ súng phòng không của địch bỏ lại, chúng tôi gặp những mảnh vỡ của xe vận tải bị phá. Lách qua những quãng đường mòn, qua những lùm cây, chúng tôi lọt vào trong một khu rừng rậm, không có chút ánh sáng nào, chừng như lá ở trên đầu chúng tôi có nhiều lớp khác nhau, thỉnh thoảng một vùng ánh sáng hiện ra, nơi đó là những hố bom đào sâu dưới đất và những ngọn cây phía trên đã bị đốt cháy. Qua một con suối nhỏ chúng tôi tới một sườn núi, ở đây có những ngọn cây cao và gốc lớn, dưới đất không có cỏ, chỉ có lá khô nhiều lớp và những khoảng đất nhẵn, đây là nơi cộng quân đào nhiều hầm kiên cố bám vào sườn núi. Những căn hầm ngang cỡ nhau bỏ trống, mỗi chiều khoảng ba thước, ở dưới làm một lớp sàn bằng cây nhỏ cách đất khoảng ba mươi phân, trên hầm can những thân cây từng lớp xen với những lớp đất dày đến ba thước và trên cùng lợp cỏ tranh. Không thấy có hầm nào trúng bom. Chúng tôi dừng lại lâu ở một cái hầm lớn mà chúng tôi cho là của một người chỉ huy, phía trên, nơi gần miệng hầm là một khoảng đất bằng phẳng, có một cái bàn nhỏ, hoàn toàn được làm bằng những cành cây nhỏ, bốn chân đóng xuống đất, trên là những cành cây được cột lại với nhau bằng mây, những băng ghế dài bao quanh và tản mát cũng được làm như thế. Quân nói: chỗ này mà ngồi đánh cờ thì tuyệt. Sau đó Quân rủ tôi đi sâu vào trong, vừa đi Quân vừa ngước nhìn lên những ngọn cây, Quân nói: tôi mới phát giác ra, ở trong này có lan… Khi tới một ngọn cây cao, Quân ngừng lại và bỏ giày trèo lên, Quân mang xuống một cụm lan lớn, một chùm lan trắng muốt rũ dài, Quân nâng niu hài lòng. Trở lại chỗ đóng quân, Quân treo cụm lan nơi đầu lều vải.

Buổi chiều xuống thật nhanh, mây đục xuống vây kín thung lũng như một cái vung, những ngọn núi chung quanh khuất kín ngọn trong mây mù. Cơn mưa lớn đổ xuống khi trời bắt đầu tối, nước đổ như thác, lều chúng tôi ở sườn đồi, nước đục ngầu từ trên chảy ào ào. Chúng tôi cuốn mình trong những áo mưa ngồi dựa lưng vào nhau, nước ngập vào những chiếc hầm, chảy dưới lớp cỏ còn tươi. Chúng tôi tằn tiện với những mẩu thuốc được đốt lên. Mưa đổ xuống khoảng hơn một giờ thì tạnh, Quân cố gắng gây chút lửa đun nước trong chiếc ống bơ, chiếc bếp bằng đèn cầy là một sáng kiến lạ mắt đối với tôi. Nước sôi, Quân mở những gói cà phê bột thả vào chiếc lon. Tôi hỏi: kiếm đâu ra vậy. Quân cười hắc hắc: bọn nó mới xuống dưới kia kiếm được một mớ, đồ thả dù từ hồi trước bị mắc trên cây. Trong mưa lạnh chúng tôi chuyền nhau lon cà phê chua và chát xen vào những khói thuốc… Mưa kéo dài suốt đêm, chúng tôi ngồi bó gối dựa lưng vào nhau.

Tà Bạc ngày 2-5-68. Những cánh quân đi sâu xuống phía nam, những đụng độ nhỏ, nhiều hầm vũ khí…

Tà Bạc đêm 4-5-68. Những ngày ngắn và những đêm mưa dài, mặt trận yên tĩnh. Quân có thêm mấy cụm lan. Mình nhớ nhà. Không có hy vọng một trận lớn. Trong lúc sửa soạn đi ngủ, Quân kêu lên: xong rồi. Tôi ngạc nhiên, Quân vẫn ôm lấy chiếc máy thu thanh nhỏ úp lên tai, chiếc máy gần hết pin nghe nhỏ. Lúc sau Quân hơi phác một nụ cười: xong rồi, tin cho biết Mỹ và Bắc Việt hẹn gặp nhau ở Ba Lê vào ngày 10-5. Xong rồi, xong rồi… Một anh lính ngồi bên: liệu có hòa bình không?
Tôi thấy phải trở về gấp.

Huế 5-5-68. Trực thăng đã đưa tôi trở lại cây số 17. Bùi ngùi chia tay những người bạn. Huế kinh hoàng những cuộc pháo kích. Đêm qua nhiều hỏa tiễn 120 rơi xuống Mang Cá, khu An Hòa… Tin tức dồn dập từ Sàigòn. Lưu Kim Cương đã chết. Tướng Loan bị thương nặng. Đàm Quang Quý chết. Các chuyến bay bị hủy. Làm sao về. Ở Sàigòn giới nghiêm 7 giờ tối.

Huế 7-5-68. Sáng vào sư đoàn gặp tướng Trưởng. Một người có nét mặt khắc khổ, rất thận trọng. Ông hỏi tình hình. Tôi nói: lính cần gạo, ăn đồ hộp Mỹ lính đi kiết chịu không được. Ông là người ở trên trời gần hết thời gian của một ngày. Chỗ nào ông cũng có mặt. Một người lính kể: tôi lái xe ra Quảng Trị, lúc bấy giờ quốc lộ còn nhiều mìn, xe đang chạy tôi bỗng nghe nổ lớn phía sau xe, ngừng xe lại coi tôi biết một trái mìn đã nổ sau khi xe tôi vượt qua. Sao lại có sự may mắn đó. Tôi nghĩ mãi mới nhớ, buổi sáng trước khi lên đường chúng tôi đã thấy tướng Trưởng cười. Câu chuyện này tôi đã nghe nói tới nhiều lần, thực giả không rõ nhưng có điều chừng như biểu lộ một cá tính của tướng Trưởng qua cái nhìn của người lính. Tướng Trưởng không vắng mặt trong mọi trận đánh, buổi sáng vừa thức dậy tôi đã thấy ông ở La Vang. Buổi trưa sau cuộc hành quân khai diễn được ba tiếng ông đáp xuống ngay bộ chỉ huy nhẹ ở Gia Đẳng, Trung đoàn 3 xuống Tà Bạc không đầy ba tiếng ông đã đứng trên đồi cao… ông xuất thân từ nhảy dù, con rể một nhà văn tiền chiến: Thạch Lam… 17 giờ, chuyến trực thăng độc nhất có được ở Huế đưa tôi vào Đà Nẵng.

Sàigòn ngày 8-5-68. Chuyến bay quân sự hiếm hoi đưa tôi trở lại Sàigòn. Đà Nẵng trong đêm bị pháo kích. Máy bay trở lại lượn trên Sàigòn với những vòng lửa và khói ở gần sân bay. Đợt tổng tấn công mới đã khởi đầu.

Sàigòn ngày 11-6-68. 6 giờ sáng hàng loạt hỏa tiễn rơi xuống Sàigòn. Nhiều nhà cửa bị sập ở khu Gia Long. Nhiều người chết… Mai đi Cà Mâu… Chuyến đi không mấy yên tâm…

Cà Mâu 12-6-68. Chiếc phi cơ nhỏ đáp xuống một sân bay hẹp nằm giữa đồng lúa xanh. Con đường nhỏ vào thị trấn, những dấu tích tàn phá trong Tết vẫn còn nguyên vẹn. Không nơi nào thiếu vắng những dấu tích của cuộc chiến… Con đường ven sông, tôm khô phơi đầy một màu đỏ óng. Miền Nam của cá và tôm… Gặp Nhân hẹn mai đi Hòa Thành.

Cà Mâu 13-6-68. Nhân dẫn đi ăn sáng, hẹn chiều về ăn canh chua lươn của bà Sáu Mập. Ai tới Cà Mâu phải biết tới điều đó. Xuống thuyền đi Hòa Thành. Dòng sông nước đục. Chiếc ghe máy chạy nhanh. Một người đứng bên bờ sông tay trái vẫy. Thằng nhỏ hỏi: ghé được không thầy Hai. Nhân nói được, nhưng mé bên này thì không. Tôi hỏi sao vậy. Nhân nói: bên này mấy bố du kích ra hoài. Gần trưa chúng tôi tới Hòa Thành. Một ấp lớn…

Suốt từ ngoài đầu ấp suốt dọc con đường tôi không nhìn thấy một điều nào cho thấy rằng ở đây – trên một khoảnh đất nhỏ của quê hương – có chiến tranh, nhưng sự thật cũng không lâu những anh em du kích vẫn lẻn về phá rối đời sống dân chúng. Nhưng không vì thế mà họ khiến cho dân chúng không sống được. Dân chúng vẫn cầm súng và cầm cày. Mãi cho tới khi tới cuối ấp Tân Phong tôi mới nhận thấy những hàng rào kẽm gai và những chướng ngại vật chung quanh ngôi giáo đường, lúc bấy giờ những học sinh của ấp đang tập hát theo với mấy cô giáo, gác chuông làm bằng cây, phía trên lợp tôn mới trông như một vọng gác, trên đó cũng gắn những máy phóng thanh… Tôi đặc biệt chú ý tới vòng đất bao quanh một khẩu súng, mới nhìn tôi nghĩ là súng cối 82 ly, nhưng nhìn lại tôi thấy nó hết sức đơn sơ. Chừng như đoán được ý tôi, Nhân bước vào trong vòng đất, nhấc cái nắp đậy miệng súng ra nói:

– Đây là một khẩu súng cối nội hóa.
– Người mình làm lấy được?
– Của một ông thợ rèn, súng mình làm nhưng bắn bằng đạn Mỹ.
– Bắn được?
– Sao lại không, bắn nhiều rồi là khác…

Tôi cũng bước vào trong, tôi nhận thấy ống sắt được ráp lại bằng nhiều đoạn ngắn, vết hàn còn hằn rõ, súng không có máy nhắm, nhưng cũng có trục quay sang ngang, và lên cao xuống thấp được, bàn là một miếng sắt rộng mỗi chiều khoảng 20 phân, nòng súng được chống xuống đất bằng ba cẳng sắt, bên cạnh đó còn có một cái bùi nhùi dùng thông nòng súng, lúc mở miệng ra xem tôi thấy nòng súng đã rỉ sét, tôi nói:

– Lâu nay không bắn nữa sao?
Một anh dân vệ đứng bên nói:
– Lâu rồi không dùng đến, nhất nữa người bắn chuyên môn hôm nay cũng không còn ở trong ấp…
– Thế còn ông thợ rèn?
– Ông ấy chết lâu rồi…
– Không có máy nhắm thế này rồi làm sao?

Nhân cười, những người đứng chung quanh tôi lúc đó cũng cười:

– Không có máy nhắm, vô phúc bắn nó nổ ngay khi ra khỏi nòng thì làm sao? hoặc tới chỗ không phải là mục tiêu… Nguy hiểm quá.

– Có người đã bắn rồi, bắn nhiều rồi, bắn theo kinh nghiệm, vậy mà hay lắm đó. Nếu không bắn được thì để đây làm gì… Ở đây có hai khẩu chứ không phải một.

Tôi theo người dân vệ đi ra đằng sau, ở đó cũng có một khẩu như vậy nữa.
– Vậy cái người làm cũng tài lắm đâu phải vừa gì, vậy ông ta còn làm được những khẩu nào khác không?
– Nghe nói có một khẩu để đâu trên quận, và ông ta còn làm thử một khẩu 105 ly nữa nhưng khi bắn thử thì đạn nổ trong nòng, chính lần thử này khiến ông ta thiệt mạng.

– Vậy ông ta là người thế nào?

– Bọn tôi ở đây không ai biết rõ về ông hết, những người già thì biết, ông ta chết đã lâu chỉ nghe nói lại. Sau này chỉ có một người bắn được hai khẩu này, rồi về sau chưa ai dám thử bắn hết, nhưng cũng không có dịp để dùng đến nữa… Bọn tôi định hôm nào lau chùi rồi bắn thử xem sao…

Tôi nghĩ tới một người thợ rèn vô danh, một người nào đó có lẽ chúng ta đã gặp, người ấy đã cặm cụi với những khẩu sắt lớn nhỏ kỳ cục bên cái lò lửa của mình và hoàn thành một khẩu súng bằng chính những sáng kiến của mình… Rồi một hôm chết đi mang theo những điều mình đã có, không để lại dấu vết nào… Tôi nghĩ khẩu súng trong cánh đồng lầy này tự nó biểu trưng cho một sắc thái, tự nó nói lên một sức sống và niềm bí ẩn nào đó. Sức sống và niềm bí ẩn vẫn thường có mặt trong khắp xứ sở này… 

Đức Hòa 28-6-1968. Vị sĩ quan giới thiệu qua về trái hỏa tiễn 120 ly vừa bắt được. Nó được đưa từ vùng mật khu Ba Thu tới đây để bắn vào Sàigòn, đây là những trái hỏa tiễn đầu tiên tịch thu được. Tôi nghĩ tới hành trình của nó từ Liên Sô…

Nha Trang 6-7-1968. Chuyến bay đi Pleiku ngừng lại ở đây. Biển xanh ơi, nhớ năm học cũ. Những người bạn thân thiết. Đi lại trên những con đường xưa…

Pleiku 13-8-1968. Chuyến bay đưa tôi tới Cao Nguyên lần thứ nhất. Đường lầy bùn, những cơn mưa lạnh. Thị trấn dơ bẩn với sinh hoạt thời chiến. Tôi nhớ tới ông tướng đã thành lập nơi giải trí cho lính: Trung tâm khang lạc, một thứ nhà điếm công khai dành cho lính. Bây giờ nó không còn, nhưng bây giờ nó có hình thức mới: con đường Hoàng Diệu và lính Mỹ. Những con lốc lầy bùn đỏ, lính Mỹ với súng đeo vai xuất hiện từ 11 giờ tới 4 giờ chiều…

Tuấn cho một chiếc áo khoác. Hoàng cho chiếc áo giáp còn mới. Tôi nói đùa: mong cho mau không phải dùng tới những thứ này. Những ly đế trong buổi chiều nơi quán nhậu. Tuấn cười khật khưỡng. Thuyên bình lặng. Hoàng huyên thuyên. Chúng tôi nói tới ngày hòa bình. Chợt tôi nói: ngày hòa bình nào.

Pleiku 14-8-1968. Buổi sáng sớm Nho đến, xe đợi ngoài đường, chúng tôi dời thị trấn lên quốc lộ 14, nơi buổi chiều qua vừa có cuộc giao tranh.

Nho móc trong túi ra cho tôi coi chiếc huy chương, trên một miếng đồng tròn có khắc hai chữ Cách Mạng, đó là một trong những chiếc gắn trên những xác chết nơi quốc lộ 14 nối liền Pleiku với Kontum. Nho kể lại trận đánh vào buổi chiều Chủ Nhật cho tôi nghe, khi một đoàn xe tiếp tế dời Pleiku đi Kontum khi tới gần ngã ba Dakdoa, cách Pleiku 13 cây số thì bộ đội Cộng sản từ hai bên tấn công, trước nhất là những trái đạn 75, 60 rồi từng đoàn người dời khỏi sườn núi và rừng cây xông ra. Ngay khi nghe thấy tiếng súng nổ, đơn vị thiết vận xa bảo vệ quốc lộ từ hai đầu kéo xuống vừa đủ thuận lợi để chống những bộ đội cảm tử từ trong bìa rừng vượt ra tới khoảng đất trống cách đường nhựa khoảng một trăm thước, cuộc giao tranh diễn ra không đầy nửa tiếng, đoàn xe và những thiết vận xa hoàn toàn vô sự, địch bỏ lại trên 30 xác chết. Trong những xác chết đó có kẻ ra đã được gắn huy chương cách mạng. Bầu trời buổi sáng ngày thứ hai có một lúc không mưa, trời quang, dù vậy vẫn còn nguyên bầu không khí rét mướt của rừng. Tôi lên xe theo Nho tới thăm nơi xẩy ra cuộc chiến ngày hôm trước. Trên đường chúng tôi ghé thăm căn cứ của đoàn thiết vận xa có nhiệm vụ bảo vệ quốc lộ. Thiếu tá D. cho chúng tôi thấy những vũ khí đã tịch thu được vào buổi chiều hôm trước. Trên một khẩu B40 máu còn đọng lại trên thân gỗ… Thiếu tá D. cho tôi biết tinh thần của những bộ đội miền Bắc, nhiều cuộc tấn công đã diễn ra trên quốc lộ 14 khiến cho con đường này có lúc rất nguy hiểm, ở xa tới người ta e ngại khi phải vượt qua, nhất là khoảng ngã ba Dakdoa, cũng như khoảng đường 19 gần nơi Suối Đôi, hai địa điểm này dù ở trên hai quốc lộ khác nhau nhưng chung một khoảng rừng mà trong nhiều năm cộng quân vẫn trú ẩn. Cộng quân khống chế một thời gian dài trên quốc lộ 14 nhưng nay thì điều đó đã không còn nữa. Quốc lộ đã được mở rộng và trải nhựa như một xa lộ dù công tác chưa hoàn thành hết. Thiếu tá D. nói với tôi: bộ đội miền Bắc tấn công trên quốc lộ mục tiêu chính được nhắm tới là cướp lương thực, các tù binh và hồi chánh đã nói điều này, họ thiếu lương thực, điều ấy đã được kiểm chứng bởi những cuộc tấn công nhắm vào các đoàn xe tiếp tế. Vị chỉ huy thiết vận xa có một vẻ cởi mở và đầy tin tưởng, ông còn cho tôi được thấy một sáng kiến của anh em thiết vận xa trong việc làm một màng lưới sắt che chở cho thiết vận xa chống lại B40, một võ khí lợi hại đối với xe bọc sắt.

Quốc lộ 14 mở ra trước mặt, những con dốc dựng đứng, lớp bùn đỏ dày trên mặt nhựa khiến cho những bánh xe gần như vượt ra ngoài ý muốn của người cầm lái, đoàn xe nối đuôi nhau nhẹ nhàng, chậm chạp di chuyển.

Bây giờ thì chúng tôi đang ở trên một con đường hai bên không một bóng nhà: khoảng đất trống những cây thấp, rồi rừng cây rậm kéo mãi cho tới chân núi phía xa, trong đó những con mắt thù hận chờ đợi. Quốc lộ thực sự chưa được hoàn tất, nhựa chỉ mới được trải một nửa bên đường, bên kia còn lại đất và đá. Những đường vòng nguy hiểm, những chiếc xe nhà binh Mỹ phóng hết tốc lực… Một xác chết, hai, ba, bốn… những xác chết nằm ngay nơi mép đường nhựa. Chúng tôi ngừng lại giữa đường, những xác chết nằm rải rác cô quạnh, một vài chiếc xe ngang qua chạy chậm lại, có những chiếc máy ảnh được đưa ra, bên những xác chết đã trương, mặt tái nhợt, quần áo rách tôi thấy rải rác những vỏ đạn. Chiều hôm qua cuộc giao tranh đã diễn ra ở đó. Bây giờ thì còn lại những xác chết, những vỏ đạn, những vết bánh sắt chằng chịt trong khoảng đất trống… Với một địa thế thật trống trải, với khoảng cách khá xa từ lề đường tới ven bìa rừng, tôi thấy quả những người cộng sản đã liều lĩnh để vượt ra phơi mình trên khoảng cách đó… Ngã ba Dakdoa, anh bạn nói mình có thể đi thẳng Kontum. Nhưng chúng tôi đã không tiếp tục đi, chúng tôi quay trở lại. Bây giờ tôi mới nhận thấy trong bìa rừng cách từng khoảng xa những thiết vận xa đã bố trí ở đó… Tôi hiểu vì sao những mưu toan cướp lương thực cùng cắt đứt quốc lộ đã không thực hiện được.

Cơn mưa nặng hạt lại đổ xuống cùng với gió lộng, vào tới ranh thị trấn chúng tôi ngừng. Anh bạn chỉ cho thấy bên kia đường, mé tay trái, những người đàn bà và trẻ con co ro trong những chiếc áo mưa đứng hoặc ngồi lóng ngóng. Có người tay không, có người xách theo những chiếc giỏ. Người bạn nói: những người chờ đứng bán những lon bia, bán thân và chờ rửa xe cho Mỹ… Vào những buổi sớm nhiều chuyến xe phải ngừng lại đó chờ mở đường, những anh lính Mỹ phải chờ đợi và đó là thời gian làm ăn cho nhiều người. Tôi biết có một người trở thành giàu rất mau, anh ta không ở Pleiku mà ở Kontum, anh ta có một cái xe gắn máy nhắm chở những cô gái chơi tới quốc lộ, chỉ cần chở ra theo với những toán công-voa, bỏ họ đấy, mỗi cô một ngàn, mà đâu phải chỉ có một cô, những cô này mang theo một tấm vải nhựa, thế là xong, buổi chiều anh chàng kia lại tìm nhặt những cô đó trên quốc lộ đưa trở về – Người bạn nói với tôi và cười – Nói ra nghe mà thảm, chiến tranh đưa dân mình tới những hoàn cảnh kỳ cục không thể tưởng được. Anh cứ ngó những người đứng lóng ngóng kia thì đủ rõ, ở đây có một đơn vị lớn của bộ binh Mỹ, họ nhiều khi ở trong rừng cả tháng mới trở ra, như vậy anh đủ hiểu… Có một số người mình thì có một quan niệm rất rõ ràng: bằng bất cứ cách nào kiếm được nhiều tiền, ăn cắp được nhiều, họ dùng mọi phương tiện. Ăn cắp ở đây không phải là ăn cắp nữa. Tôi đã vào nhà một người, bà ta làm lao công trong một sở Mỹ, trong nhà có nhiều thứ lắm, từ cái gạt tàn thuốc, những bộ tách uống nước, thôi thì đủ thứ… không phải bà ta mua đâu, bà ta ăn cắp dần dần mỗi lần một cái cốc, một cái dĩa, bà ta còn lấy được mùng màn, áo mưa, giấy lau… đủ thứ hết. Quả thật tôi không thể tưởng tượng được rằng làm cách nào mà bà ta mang được những cái rất cồng kềnh ra khỏi sự khám xét ngặt nghèo của những cơ sở Mỹ. Nhưng rồi tôi cũng được giải thích một phần nào, một phần thôi khi tôi tới cửa một cơ sở Mỹ vào lúc tan sở, những toán người ở trong đi ra đều bị khám xét bởi những lính Mỹ to lớn. Chừng như anh ta đã được huấn luyện một cách kỹ càng về những mánh lới của những người nhắm ăn cắp, anh ta lôi từ trong bụng chửa một người đàn bà ra một cái khăn tắm lớn, lôi từ trong quần một người đàn ông ra một cuộn giấy đi cầu, lôi từ trong búi tóc một bà già ra một cái ly… lôi từ trong đế giày ra một số dao cạo… Vậy đó, như vậy thì làm sao được. Nhưng người ta đâu chịu bó tay, một cô gái vừa tiến tới với anh Mỹ đã cười ngặt nghẽo, cô ta sát vào, ôm lấy eo, nhanh nhẹn hôn lên má anh ta một cái, thế là xong, anh lính Mỹ cười giơ tay vỗ vào mông cô gái một cái như tống đi, thế là cô gái không bị khám gì hết, và anh hiểu rằng trong người cô ta, cùng cái xách chắc chắn sẽ có gì trong đó, một chai rượu là đủ rồi… Nhưng trông cảnh một bà già Tàu từ trong ra cũng ôm lấy anh lính Mỹ mà hôn thì tôi chịu không nổi tức cười… Để cho hôn, cho sờ, nhưng lấy được đồ là nhất rồi…

Cơn mưa đã ngớt hơn, người bạn cho xe leo dần lên dốc với tất cả thận trọng, mặt đường bùn đỏ trơn như mỡ… Bao nhiêu điều tôi đã thấy, đã nghe, những điều đó liên kết với nhau tôi có thể nhìn thấy một sự thật, nỗi cay đắng. Trở lại câu lạc bộ, đứng từ trong cửa sổ nhìn ra những ngọn đồi nối tiếp nhau, những núi, những con đường, màn mưa mỏng tôi thấy mình như lạnh đi…

Kontum 19-8-1968. Vượt qua quốc lộ 14, hơn bốn mươi cây số. Rừng xanh. Thiếu tá Báu ngần ngại khi nghe tôi nói muốn tới Dakseang, nơi đang diễn ra trận đánh. Ông ngại ngần vì hơn một tháng nay trực thăng không đáp xuống được. Ông nói: tôi có mấy đứa con đi ngủ ở trong đó vẫn chưa lấy ra được… Một người bạn nói cho tôi biết tình trạng ở trong đó. Những người lính biên phòng có khi cả năm không ra khỏi đồn. Nơi đó chứa lương ăn, đạn và quan tài bọc kẽm. Một ông bố tới trại đưa xác con, đường bay bị cắt, ông bố ngồi đánh bạc hơn một tháng lúc ra được ông mang theo gần một triệu bạc về cùng với xác đứa con trai… Không có trực thăng. Tôi lang thang trong thị trấn với những giáo đường cổ kính, những con đường có cây cao xanh…

Phan Rang 15-10-1968. Tôi muốn thực hiện một chuyến đi dài. Khởi hành từ Sàigòn, qua Phan Thiết, ngừng lại Phan Rang. Mưa bão ập xuống. Bó người trong nhà.

Nha Trang 21-10-1968. Tôi đã tới Nha Trang được ba ngày, mưa bão tiếp tục đổ xuống vùng duyên hải, không thể tiếp tục đi Qui Nhơn như dự định… Mai trở lại Sàigòn…

Anh Q. Lần trở lại này tôi đã không được gặp anh, không được cùng nhau lặng lẽ bên những ly rượu, và sau đó phá lên cười… anh đang ở Sước Rũ, Khe Tre, Công trường 6, A Shau… còn nhớ không những câu thơ của Quang Dũng chúng ta đã đọc cho nhau nghe, nhớ không: Đêm đêm mơ chuyện làm khăn gói, để sớm mai rồi lại quẩn quanh… chính là thế, chúng ta đã quanh quẩn với những mộng tưởng, những phân vân giữa suy tưởng và hành động, chúng ta đã khôn quá, bịn rịn quá. Chúng ta đang đi, cũng khăn gói đó nhưng thực sự chúng ta không đi, không đi như điều chúng ta nghĩ phải làm. Chắc Q. còn nhớ hôm nào, một người đã chỉ vào mặt chúng ta: bọn chui vào vỏ ốc. Chúng ta chỉ biết cười chua xót. Chúng ta không chối được sự thực đó, chúng ta chỉ còn mỗi một cách thế, tự chúng ta trong những cố gắng cá nhân, chúng ta chỉ còn tư thế khiêm tốn trên điều mà tôi nói với anh: phục hưng lại một phẩm cách người… Phải giết đi bao nhiêu kẻ phải phá hủy đi bao nhiêu… những dơ dáy ngập lên tận mũi chúng ta phải chịu đựng, bao nhiêu nhược điểm chúng ta nhìn thấy. Chúng ta chỉ có thể làm trong hai điều, một là không làm gì hết, hai là xóa sạch đi rồi bắt đầu lại từ không có gì đó. Chỉ có thể, không thể làm khác… Thôi hãy uống đi, uống nhưng không được say. Nhớ anh vô cùng, những tan hoang còn đó…

Hôm nay anh ở đây nhưng anh nghĩ tới em những ngày đầu tiên sống trong quân trường, anh muốn có mặt ở Sàigòn để xuống thăm em trong những ngày đầu tiên sống với đời quân ngũ và để nhắc lại điều anh vẫn nói với em: bạn bè anh và bạn bè em đã có những người chết, hai anh em cách nhau mười năm của đời sống nhưng rồi chúng ta cùng ở trong một cuộc, chúng ta phải cùng nhau gánh chịu một thực tại chúng ta không mong ước, chúng ta đều không có tuổi thơ, không được sống trong thái bình yên vui, không được biết gì là hạnh phúc gia đình… Chúng ta chỉ còn lại một đời sống nhỏ bé… Chúng ta sống trong sự bất công, cùng mọi người chúng ta gánh chịu những bất công đó một cách đồng đều, trong bất công đó chúng ta hãy cố gắng làm cho bất công giảm đi, em nhớ không, như anh D. đã nói trước khi lên đường: mình ra mặt trận, phải ra vì sợ sau này khi hòa bình trở lại chỉ còn một mình sống sót, sự sống sót vô ích và buồn bã. Mong em vui với những bầu bạn mới, những người cùng chung cảnh ngộ như chúng ta, hãy nhớ một điều: ai sao ta vậy, việc người khác làm được thì chúng ta làm được, chỉ khác một điều: chúng ta chọn điều nào mà chúng ta cho là phải thì chúng ta làm. Khi trở về anh sẽ xuống thăm em…

Anh C. Tôi thông cảm những phân vân của anh, đời sống những người thân yêu, sự minh bạch ngay thẳng, trách nhiệm. Chắc anh còn nhớ một lá thư nào của T.: ta không biết làm chi hết, to be or not to be thì cũng ẩu như nhau. Nói vỡ nợ trước cuộc sống này. Chính trị bẩn thỉu, nghệ thuật phù phiếm, yên ổn thì tồi tàn, chiến tranh thì phi lý hơn… Cho nên ta không biết xoay sở thế nào cả. Nghệ thuật có là một giải thoát không? Nghệ thuật chỉ cho ta và cho người yêu ta thôi. Sáng tác vẫn chưa chắc đã yên ổn trong tâm hồn khi nghĩ đến cái chết của bạn bè, của những thằng em và của những thằng học trò ngoài bãi chiến. Có lẽ ta chỉ còn cái chết để dâng hiến cho đời thôi, cho cả cái đám quần chúng vô ơn mà ta và cậu vẫn ghét cay ghét đắng. Những ngày rảnh rỗi đi chơi với những bạn bè để rồi mỗi chiều trở về nhìn nhau cười ngao ngán… Tôi nhắc lại về người đã vắng mặt, hay đã chết đó. Có điều tôi không đồng ý với một lựa chọn nào đó, nhưng như tôi đã nói với anh: tôi kính trọng thái độ đó, con người đó… Nỗi cay đắng khốn khổ của chung chúng ta…

Anh T. Tôi đã được thư của anh, thành thật xin lỗi anh chị, xin hứa sẽ ghé lại thăm, như anh đã biết công việc và những dời đổi không ngừng khiến tôi đã không ghé lại dự sinh nhật của cháu bé, đứa con nuôi của tôi, tôi cũng đã không có quà cho nó, nhưng tôi nhớ nó… Điều anh hỏi khiến tôi chẳng biết nói sao, có điều những gì xưa kia tôi đã nói với anh nay tôi vẫn tiếp tục, tôi không thể từ bỏ được. Buồn là nhiều lúc nhìn lại thấy những cố gắng của mình cũng trở thành vô ích, nhưng không phải vì sự vô ích hay hơn nữa vì vô vọng mà chúng ta không làm điều chúng ta nghĩ phải làm. Tôi chép lại đây điều mà Arthur Koestler đã viết: nhà văn có bổn phận xã hội, một công việc rõ ràng phải làm. Mỗi khi hắn viết một tác phẩm hắn như một người thuyền trưởng thực hiện một hành trình với những mệnh lệnh được niêm phong cất trong túi áo, khi hắn mở phong bì ra ở giữa biển cả, hắn nhận thấy những mệnh lệnh đều được viết bằng một thứ mực trông không thấy được. Không thể đọc được những mệnh lệnh đó, tuy nhiên hắn vẫn luôn luôn ý thức một bổn phận phải hoàn tất – bởi vì hắn đương chỉ huy một chiến thuyền chứ không phải một thuyền du lịch. Những mệnh lệnh trong túi áo hắn có thể không đọc được nhưng vẫn có tính cách sai truyền cấp bách đem đến một ý thức trách nhiệm của hắn. Trong sứ mạng nhà văn ở đó sự lớn lao và cũng ở đó chướng ngại…

Anh K. Có thể anh đã không bằng lòng tôi, dù anh không nói ra, có điều về phần tôi thì tôi đã nói hết cùng anh: tôi dứt khoát với sự lựa chọn của tôi, tôi cố gắng sống như tôi mong ước. Tôi không có một ảo tưởng, một mặc cảm nào. Nào phải cho riêng ai. Tôi chịu ơn những người đã chết đi, hiện đang cố gắng để cho tôi còn được sống, và như thế tôi phải làm điều tôi nghĩ, tôi muốn được chia sẻ, tôi mong anh sống trọn được như điều anh nghĩ, không lừa dối mình và người khác…

Ng… dù ở đâu anh cũng chỉ nhìn thấy một cuộc sống gian nguy phải chấp nhận, chịu đựng, những cay đắng buồn phiền… chúng ta, nào đâu phải riêng chúng ta, cả dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường này, đã buộc chặt vào một định mệnh khắt khe… Trên quê hương ấy, trong cuộc sống ấy chúng ta gắn bó với nhau tình cờ… Anh đã đi trên những con đường chia cách, gian nan, hiểm nguy… những con đường đưa chúng ta đến những gặp gỡ bàng hoàng… Anh vẫn tự hỏi, con đường vô hình nào đã đưa anh đến bên em. Xưa kia mẹ anh dặn anh: con trai không được khóc, và em thì nói với anh một câu thơ: em sẽ không bao giờ để anh nhìn thấy em khóc đâu… chúng ta cùng giấu nhau những ngậm ngùi nào đó, những ngậm ngùi không bày tỏ nhưng chúng ta đều cảm thông… Có bao nhiêu điều anh không nói với em nhưng anh nghĩ em nghe thấy những tiếng nói đó…

Anh M. Tôi đã nhận được thư báo tin mừng của anh, tôi không biết có lời nào hơn là gửi lời chúc anh chị những ngày tới sống ở xứ người như sống trên quê hương thân yêu những ngày thơ ấu. Không, tôi nghĩ anh không phân trần một điều nào, với bất cứ ai… Riêng phần tôi, tôi không thể làm điều gì khác, tôi tự gắn đời sống mình với quê hương với những người thân yêu, ở đó những bất hạnh và những vui tươi đằm thắm, những cay đắng ngọt ngào cùng với niềm kiêu hãnh chất ngất… Quê hương này là đất hứa, chúng tôi tự cắm thập tự trên đó cho chính mình… Sau này, tôi mong ước thế, thời gian địa ngục đã qua, anh sẽ trở về, nhưng tôi hỏi anh chắc lúc đó anh sẽ thấy sao mình không được sống như mọi người, những khổ đau làm thành hạnh phúc cho kẻ sống sót…

 

Sàigòn ngày 25-5-1972. Tờ sự vụ lệnh trong túi đợi chuyến bay đi Đà Nẵng và Huế… Lương đã mất một chân ở Đức Dục năm trước. Bình về Thủ Đức. Đính, Mẫn bị bắt ở Tân Lâm và Khe Gió. Quân đi Ban Mê Thuột. Hạnh đã dời khỏi Quảng Trị… Bây giờ những ai còn ai mất. Tôi nói với một người bạn: tôi chịu ơn quân đội, nói thế chỉ để nói: tôi chịu ơn những bạn hữu, suốt trong 5 năm trong quân ngũ đã giúp tôi có được hoàn cảnh để di chuyển không ngừng. Tôi nhớ đời những người bạn và những ân tình…

 

Dương Nghiễm Mậu

(Văn số 204 ngày 15/6/1972)

 

 

 

 

▄▄▄▄▄▄▄▄▄▄

 

Dương Nghiễm Mậu
Quảng Trị, đất đợi về

 

Mỗi lần trước khi trở lại miền Trung, điều tôi thường hỏi: ngoài đó bây giờ mưa hay nắng. Lần này cũng thế, người em tôi vừa từ Huế trở về sau hai mươi ngày công tác nói: trời đang nắng và thành phố đầy hoa phượng, hoa sen. Bây giờ ngoài đó đang mùa hè và tôi nhớ tới không khí oi bức trong những chuyến đi cũ vào những thời gian đầu mùa hè: hoa phượng đỏ trên những ngọn cây, hoa sen nở đầy trong hồ Tĩnh Tâm, chung quanh trường thành, những trái nhãn nhỏ sai trên những ngọn cây trong Thành nội… Nhưng khi tôi đặt chân tới Đà Nẵng, buổi chiều mây thấp và mưa nhỏ hạt. Người bạn nói với tôi trời mới đổ mưa từ buổi sáng. Tôi nhìn thấy mây thấp trên phía đèo Hải Vân. Đà Nẵng mưa thì chắc Huế mưa. Tôi hỏi về con đường qua đèo, người bạn nói: đi được như thường, hôm qua hơi bị kẹt vì cầu Nam Ô bị gẫy. Tôi hỏi cây cầu nào. Anh bạn nhắc lại: cầu Nam Ô. Tôi nói không phải, tôi biết ở đó có hai cây cầu, tôi muốn biết cầu nào vì trong chuyến đi trước, cây cầu mới xây cất, thứ cầu cho những xa lộ chưa dùng được, hôm trước đã có tin cho biết cầu Nam Ô bị sập, nhưng là cây cầu cũ, cầu xe lửa, người bạn nói, bây giờ thì cả hai nhưng đang được sửa chữa. Trời mây thấp, mưa nhỏ hạt, những di chuyển ướt át khiến cho thị trấn có một khung cảnh đìu hiu.

 

Tôi gởi hành lý lại nhà người bạn rồi chạy quanh, vẫn khung cảnh quen thuộc, thêm một vài ngôi cao ốc đang được xây cất nhưng chừng như công việc đã ngừng lại, những trường học trở thành trại tạm cư. Tại trường nữ, tôi thấy những nữ học sinh ngồi gác cổng ra vào trong khi đó có một gia đình đã chất hành lý lên hai chiếc xích lô, tôi hỏi và được biết: họ dời ra trại Hòa Khánh. Trại tạm cư Nguyễn Thượng Hiền cũng đã đóng cửa với tấm vải lớn kẻ những hàng chữ cho thấy những người tị nạn đã ra sống ở trại tạm cư Hòa Khánh. Đi bộ trên đường phố tôi thấy số xe ôm gia tăng với những lời mời cùng với những chiếc xe ghé lại lề đường. Buổi chiều báo từ Sàigòn ra trễ và những nhà sách đông người ghé lại đợi chờ những tờ báo phát hành từ chiều hôm trước tại Sàigòn… Tôi ghé lại nhà những người quen, nơi nào cũng có những người thân từ Quảng Trị, từ Huế vào tạm trú, một vài người đã trở lại Huế, hoặc đi Sàigòn, tôi được nghe nói về những người tị nạn đã vào Chu Lai, đã đi Long Khánh. Một gia đình trong khi chạy khỏi Quảng Trị đã bị thất tán, một nửa vào được Đà Nẵng, còn một nửa không biết ở đâu, những người thân đang đi tìm kiếm nhau. Đài phát thanh Đà Nẵng với mục nhắn tin, đài của những người ở Quảng trị tìm tin cha, tin mẹ, tin chồng con thất lạc. Có những đứa trẻ tám chín tuổi bị lạc gia đình trên đường chạy giặc. Theo dõi mục nhắn tin tôi thấy nỗi tan hoang đối với hơn ba trăm ngàn dân chúng vùng giới tuyến.

 

Trại tạm cư lớn nhứt ở Đà Nẵng dành cho Quảng Trị nằm ở Hòa Khánh, một quận ngoài thị xã, nằm ở phía nam đèo Hải Vân, ngay ven quốc lộ Một. Tôi ngạc nhiên khi vừa từ thị xã tới đây lúc đứng trước một ngã ba đường có tấm bảng lớn sơn xanh, kẻ chữ trắng hàng chữ: QUẬN GIO LINH. Quận Gio Linh, tôi nói với người bạn: quận Gio Linh ở Đà Nẵng! Tôi nhớ tới nơi tôi đã từng ghé lại trong những năm trước trên đường công tác. Ngày ấy tôi theo quốc lộ Một vượt Đông Hà ra tới đồn A2 nằm ngoài cùng giáp với vùng phi quân sự sau khi quân đội ta đã bỏ chân cầu Hiền Lương trở vào trấn đóng phía trong gần với quận Gio Linh. Trên con đường đầy những bom đạn tôi chỉ thấy những cánh đồng hoang vu không bóng người, dân chúng đã phải bỏ làng mạc trở vào sống trong khu định cư Hà Thanh, còn lại chăng một số thôn ấp nhỏ bé nằm ở giữa quốc lộ với bờ biển, còn lại phía tây quốc lộ thì coi như bình địa với vùng oanh kích tự do. Nay Gio Linh chỉ còn là tên gọi của một vùng đất. Hai tiếng Gio Linh đã đi theo dân chúng vào Đà Nẵng. Bỏ quốc lộ đi sâu vào gần bờ biển, nơi đây có hàng trăm lều vải mới được dựng lên cho dân chúng tạm trú. Người trưởng trại ngày nay là ông quận trưởng của vùng đất cũ. Vị thiếu tá này người nhỏ bé trong bộ đồ đen nói cho tôi biết qua tình hình dân chúng, ông không thể đoán chắc về số dân chúng tại Gio Linh đã ra đi, vì hiện dân chúng không những chỉ sống tại Đà Nẵng, họ còn vào Chu Lai và nhiều nơi khác nữa, con số phỏng chừng khoảng 28 ngàn người ra đi so với dân hơn ba chục ngàn người. Ông kể lại cho tôi nghe những ngày kinh hoàng ở Quảng Trị khi đoàn người rời khỏi đây để vào Huế: cả đoàn xe bị mìn và pháo kích, nhiều người bị thương phải nằm lại với tiếng kêu la thảm thiết…

– Ông thấy dân chúng có muốn đi vào lập nghiệp ở trong Nam không?

– Phần lớn dân chúng không muốn đi, họ mong trở lại Gio Linh.

Khi tôi từ trong lều đi ra thì có một người đàn ông giữ tôi lại và hỏi tôi có phải nhà báo không? Tôi nói không phải. Ông ta nói điều muốn nhờ. Tôi nói cho tôi biết. Sau đó ông ta giới thiệu là một người thuộc làng Gia Hải, một làng phần lớn sống bằng nghề chài lưới tại Cửa Việt, tôi ngạc nhiên khi biết dân chúng tại làng này đã cùng nhau xuống thuyền đi về phía Nam bằng những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé của họ. Điều mà người này muốn nhờ tôi là: tranh đấu cho họ được ở lại Đà Nẵng sinh sống, họ chỉ cần giúp đỡ lương thực một tháng đầu rồi sẽ tự túc bằng nghề đánh cá của mình. Sau đó ông ta cho tôi thấy, dân chúng tại Gia Hải đưa được vào Đà Nẵng 150 chiếc thuyền, chuyến ra đi của họ hết sức gian khổ, trước hết khi ra khỏi Cửa Việt họ đã bị cộng quân ngăn cản, súng đã nổ vào đoàn thuyền, một số dân chúng đã không ra đi được vì những làn đạn này, nhiều người đã bị thương và chết trong chuyến ra đi, trước hết họ tới được cửa Thuận An. Sau đó rời Thuận An vào trong bãi biển Đa Phước. Khi nói tới chuyện đi vào miền Nam ông ta nói chính phủ có thể mang được người đi nhưng còn thuyền bè của chúng tôi thì sao, chúng tôi sống bằng nghề biển như vậy làm sao để thích ứng với nghề nông trong khu vực khai hoang? Chung quanh tôi mỗi lúc một đông người, mỗi người góp một câu chuyện, ai cũng trông được sống ở Đà Nẵng và chờ ngày trở lại quê hương của họ, tôi cũng đã được nghe câu chuyện thương tâm của một người mẹ kể lại cái chết của con mình trên chuyến đi Nam, đứa con đã chết trên chiếc thuyền của gia đình trong khi vượt biển vào cửa Thuận. Tôi mường tượng thấy cảnh tượng bi hùng của chuyến ra đi, cảnh tượng giống như những người dân miền Bắc trong vụ Trà Lý, những người đã chọn để được sống tự do hoặc là chết… Gần hai mươi năm sau, cảnh tượng đó lại tái diễn một lần nữa.

 

Câu hỏi mà tôi hỏi đi hỏi lại nhiều lần với những người đã gặp là: tại sao không nghĩ tới việc vào các vùng đất an ninh, phì nhiêu ở Nam lập nghiệp? Tất cả đều nói: chúng tôi chờ đợi trở về. Trở về, họ như gắn liền với đất đai khô khan cực nhọc, họ không muốn rời khỏi quê hương nơi có những mái tranh nghèo, những mồ mả tổ tiên, nơi họ đã sinh ra lớn lên trong nhọc nhằn. Trước đây, ngay từ thời Đệ nhất Cộng hòa, công việc di dân lập ấp được đặt ra, dân chúng tại đây cũng đã từ khước ra đi, ngày nay họ vẫn không thay đổi ý muốn đó. Chừng như quê hương càng đau khổ, đời sống càng nhọc nhằn người dân càng gắn bó keo sơn với nó. Vùng Gia Đẳng, Gia Hải… những vùng cát trắng khô khan kia vẫn còn lại những gì mà người dân thấy không thể bỏ nó mà ra đi được cho dù họ biết chắc rằng ra đi họ sẽ có một đời sống sung sướng hơn, đầy đủ hơn.

Những gia đình với hành lý nghèo nàn người dân ở trong trại tạm cư chia nhau những diện tích nhỏ hẹp để sống, những trẻ con vẫn nô giỡn trên bãi cát, những bà mẹ vẫn nhẫn nại nhóm những bếp lửa nhỏ lo bữa ăn đạm bạc hàng ngày. Tôi thấy chiếc áo màu của một sinh viên ra đây lo cứu trợ như lạc lõng với khung cảnh.

Trại tạm cư Hòa Khánh lớn lao hơn nhiều trại tạm cư dành cho người thuộc quận Gio Linh. Nơi đây bao gồm dân chúng thuộc nhiều quận, phần lớn họ được sống trong những ngôi nhà tôn của một trại binh Mỹ. Những con đường trong trại tráng nhựa phẳng lì còn tốt nguyên vẹn, nhưng những ngôi nhà thì phần lớn đã hư vì thời gian, nhiều vách gỗ đã bị gỡ, những bao cát phần lớn đã mục khiến cho khung cảnh có vẻ điêu tàn. Ngay trong những ngã tư đã có những hàng quán trong trại dựng lên, cũng có ngay những tiệm hớt tóc, những quán giải khát, dân chúng như đã thấy phải bắt tay ngay vào việc tìm sống. Nhiều người lo đi tìm kiếm những người quen, người ra kẻ vào tấp nập. Đại tá Hòa, người tôi gặp lúc cầm một đoàn, là vị tỉnh trưởng Quảng Trị. Ông mới về làm tỉnh trưởng được ba tháng, nay ông đã ở Đà Nẵng với những người tị nạn. Trông ông tôi thấy phảng phất một vẻ buồn. Dân số Quảng Trị có hơn ba trăm ngàn, con số còn bị kẹt lại khoảng 50 ngàn, tôi thấy số dân chúng ra đi thật lớn lao và thực sự là một mối lo không nhỏ cho chính phủ và nó cũng là con số đau đầu với chính người cộng sản khi tới chiếm Quảng Trị. Họ phải nói thế nào với quốc tế về điều họ vẫn nói: dân chúng ủng hộ họ và về chiêu bài giải phóng vẫn không ngớt được nói đến. Không, dân chúng đã ra đi khi bom đạn và người cộng sản đến. Không có dân, đất đai còn có nghĩa gì nữa?

Người thanh niên ấy có nước da ngăm đen, vẻ ngơ ngác trên mắt nhìn, gò má cao, cằm vuông, anh hơi chút mỉm cười ngậm ngùi khi tôi hỏi anh về chuyến hành trình đã trải qua. Anh lặng đi rất lâu, giọng anh trầm xuống, có lúc tôi chỉ thấy môi anh mấp máy và như tiếng nói biến mất: trước hết chúng tôi về Quảng Trị, thực chúng tôi không nghĩ có lúc sẽ ở đây, nếu biết vậy chúng tôi đã đi thẳng tới đây, chúng tôi không ai nghĩ thế cả, nhưng rồi chúng tôi phải đi khỏi Quảng Trị, ngày đó là ngày mấy nhỉ, không rõ là 28 hay 29 gì đó, mà chừng như… phải rồi, pháo kích, rồi mìn anh ạ, rồi cả một cuộc giao tranh nữa, những chiếc xe nổ tung, những thân người văng lên tan tác, những tiếng kêu khóc thảm thiết, mạnh ai nấy chạy, không còn ai nghĩ tới chuyện cứu ai nữa… Chúng tôi chạy, chỉ biết chạy thế thôi… với hai bàn chân chúng tôi tiếp tục đi, trước hết là Huế, sau tiếp tục đi nữa, không, anh không thể hiểu được nếu anh không cùng chúng tôi ở trong chuyến ra đi ấy, chúng tôi có cảm tưởng như ngay sau chân chúng tôi cộng sản bén gót. Chúng tôi như tranh nhau lấn bước về phía trước, người ta có phương tiện để đi, chúng tôi thì không, quốc lộ như thế mà bốn hàng xe chạy thì anh thử hỏi làm sao để chúng tôi len chân, và trên dọc đường ấy người ta như đứng lại với nhau, không còn trật tự nữa, thỉnh thoảng súng lại nổ và người nháo nhác… Tôi đã thấy ngay trước mắt tôi chiếc xe lật xuống đèo và những người chết, tôi đã thấy những bà mẹ kêu gào tìm đứa con thất lạc… Tôi không hiểu tại sao sự việc lại xảy ra như thế, bây giờ nhìn lại tôi càng thấy vô lý, bọn nó chưa tới được vòng đai mà sao mình đã bỏ chạy, người ta bỏ lại hết để chạy… Tôi lạc mất một người em gái, cho đến hôm nay tôi vẫn không hiểu nó còn sống hay đã chết phơi xác dọc theo quốc lộ…

Người thanh niên lặng đi, đôi mắt nhìn xuống trũng bóng tối. Tôi không biết có lời nào để nói với anh. Tôi nhớ lời anh Cường kể lại chuyến đi của chính anh, thực anh chưa muốn đi nhưng sau nhìn lại thấy mọi người đi hết thì anh sợ, người anh nghĩ chưa đi là anh Du thì anh đã thấy lên trực thăng đi rồi, cuối cùng anh phải đi chiếc xe cũ đưa anh lên đèo nhích từng chút, có lúc xe không đứng lại được mà tụt xuống, đi từ sáng cho mãi tới 9 giờ tối mới vào tới Đà Nẵng, trên đường anh đã thấy những người lính nổ súng bắt xe cho họ lên, anh đã thấy một bà cụ già ngồi trên một tấm gỗ có gắn bánh xe tay bám lấy chiếc dây thừng buộc vào chiếc xe đạp của người con đạp phía trước… Mường tượng tới cảnh ra đi, quãng đường Quảng Trị – Huế – Đà Nẵng trở thành một cuộc trường chinh cho người dân Trị Thiên, tôi nghĩ nếu con đường đèo bị cắt, hay một cuộc phục kích xảy ra thì họ sẽ ra sao, lúc bấy giờ những người có trách nhiệm họ ở đâu, họ trên sân quần vợt, trong một tiệc rượu vui mừng nào?

 

Trời mưa nhỏ hạt suốt đêm, sáng hôm sau trời vẫn thấp mây, tôi mang theo hành lý để tới Huế như dự định, trước khi đi tôi ghé lại thăm anh Lam, tôi nghĩ anh nắm được nhiều dữ kiện về những sự việc đã xảy ra. Tôi thấy anh hết sức bình tĩnh và nói với tôi về công việc anh đang làm, giúp vào công việc đưa dân chúng Quảng Trị vào miền Nam theo chương trình di dân khẩn hoang của chính phủ, anh cho thấy dân chúng không muốn đi riêng, họ muốn đi cả quận, cả làng. Anh cũng nói tới hoạt động của các đảng phái một cách lạc quan. Khi hỏi anh: ai ra lệnh rút khỏi Quảng Trị, anh nói không phải Tướng Lãm ra lệnh. Anh cười khi đặt với tôi một vài vấn đề sau khi rút khỏi vùng đất này, việc oanh tạc Bắc Việt, việc thả thủy lôi xuống các cửa biển và sông ngòi miền Bắc…

 

Tôi ra bến xe, trời mưa nhỏ, tôi chờ cho những chuyến xe đầu tiên từ Huế vào tới nơi thì leo xe trở ra. Tôi thường theo cách đó để có thể yên tâm lên đường mỗi khi ra đây công tác. Chuyến xe quen thuộc màu đen với mười chỗ ngồi, số người trở ra Huế chờ đợi từng chuyến xe đến và trong chốc lát lên đường trở ra. Đường ra khỏi thị xã xe cộ đủ loại nối đuôi nhau, có hàng trăm xe vận tải đưa đạn dược qua đèo. Trước khi tới cầu Nam Ô xe bị đọng lại với sự chờ đợi oi bức, xe nhích từng khoảng ngắn. Khi ngang qua tôi thấy cây cầu sắt cũ đã bị gãy một chân, hai nhịp cầu chúc xuống dòng sông rộng. Cây cầu xi măng bị hư một nhịp đang được sửa chữa và hiện có một cầu tạm bắc lên cho xe cộ lưu thông. Cầu Nam Ô là cây cầu xa lộ độc nhất được hãng thầu Mỹ làm cho suốt dọc quốc lộ từ Đà Nẵng tới Huế, cầu Lăng Cô là cầu cũ được sửa lại, còn hầu hết những cây cầu khác được làm bằng gỗ. Trước khi lên đèo xe bị chận lại, một cây cầu gỗ ở đây đã bị phá sập, những chiến sĩ công binh đang lo đắp một con đường vòng và sửa lại cây cầu. Chiếc xe tôi đi chạy hơi ra ngoài bị chận lại, như một hình phạt không được qua, người tài xế bứt đầu bứt tai nhìn những chiếc xe chạy sau vượt lên phía trước, tôi thấy nhiều xe chở hàng không có mui chở đầy người, đó là những gia đình ở Huế trở lại nhà, họ mang những hành lý. Có những chiếc xe có mui thì người ngồi cả trên mui cao, trên quãng đường này tôi cũng thấy nhiều xe chạy đường xuyên Việt, từ Quảng Trị tới Sàigòn, nhưng vì biến cố trong những ngày qua đã khiến cho những chuyến xe này không thể trở lại Sàigòn được. Những chuyến xe sẽ thương nhớ đường dài… Mưa vẫn đổ mau hạt trong khi xe qua đèo, con đường rộng, nhựa phẳng trở thành nguy hiểm, tôi nghĩ tới những ngày tháng trước khi đoàn người tỵ nạn phải ngang qua đây. Một trăm cây số của đường dài những lo âu chất ngất và nỗi kinh hoàng nhìn về ngày mai… Vùng biển Lăng Cô làm tôi nhớ lại mộng ước được trở về sống trong một xóm dân chài của Ninh Hòa, hai tiếng Hòn Khói vẫn còn ghi nhớ với những cồn cát trắng như tuyết và những ngọn dương cao cùng với biển xanh bao la phía trước… Quê hương ta những vùng đất hứa có thật vẫn còn đó nhưng chừng như lúc nào cũng ở ngoài tầm tay với…

Cầu Phú Lưu bị sập nhưng vẫn di chuyển một chiều, khoảng đường từ phía chân đèo trở lại Huế tôi thấy nhiều binh sĩ thuộc Sư đoàn 3, họ có mặt nơi những chiếc cầu còn lại. Trên một thành cầu sắt của đường xe lửa tôi nhìn thấy hàng chữ: bảo vệ cây cầu tới giọt máu cuối cùng. Tôi buồn rầu nghĩ tới những cây cầu đã gẫy. Tôi nghĩ tới những cây cầu gỗ trên quốc lộ 9 nối Đông Hà tới biên giới và trên quốc lộ 1 từ Gio Linh tới Đà Nẵng.

Năm 1968, khi tôi theo quốc lộ 9 lên Cam Lộ, nơi có trên 6 ngàn dân chúng quận Hướng Hóa từ trong núi về tị nạn, trong số này phần lớn là sắc tộc Bru. Bấy giờ trận chiến ác liệt ở Khe Sanh, trong khi xe ủi đất của Mỹ làm việc không ngừng, họ mở rộng đường trải đá, trải nhựa và làm cầu. Tôi tự hỏi như vậy có phải con đường sẽ được dùng để sang Lào không? Năm 1970 trở lại, cả vùng đã hết lính Mỹ, chúng tôi dùng xe jeep chạy từ Quảng Trị lên Cam Lộ uống cà phê và nói chuyện hòa bình, ngày lên xin đất mở đồn điền trên Khe Sanh… Tôi nghĩ tới những cây cầu và hỏi: những cây cầu bằng gỗ này chịu đựng được bao nhiêu năm? Tại sao không phải là cầu xi-măng? Không ai trả lời. Và tôi cũng đã hỏi: sao Mỹ làm con đường này tốt vậy mà không dùng? Và câu trả lời này mãi tới khi có cuộc hành quân sang Hạ Lào tôi mới thấy, mỗi ngày hàng trăm xe đạn dược theo đó mà tới Khe Sanh. Nói tiếp về những cây cầu tôi cũng thấy từ Gio Linh vào Huế chỉ mới có một cây cầu mới đúc, còn hầu hết là cầu gỗ. Và bây giờ tôi lặp lại câu hỏi: những cây cầu gỗ chưa bị phá sẽ còn chịu đựng được bao nhiêu lâu?

Phú Lộc, La Sơn, Phú Bài, Phú Lương, Dạ Lê, An Cựu… và cầu Trường Tiền. Huế vẫn còn đó, một sinh hoạt lặng lẽ, nhiều căn nhà cửa đóng nhưng có toán công nhân sửa đường vẫn làm việc, những người thợ nề vẫn tiếp tục trát vôi nơi bệnh viện trung ương đang xây cất… Hoa phượng đỏ như máu trên những con đường hai bên bờ sông, trong Thành nội, ghe thuyền đầy trong lòng sông nhà bè và vùng Bao Vinh không khí một thuở thanh bình, tôi nghe thấy một không khí chìm chìm lặng lẽ nhưng đầy đe dọa. Tôi tìm gặp lại những người bạn cũ, gần hết đã ra đi. Anh Tấn bây giờ nuôi râu dài như một đạo sĩ, anh Du như già hơn mấy tuổi, anh nói lại một ngày từ sở làm ra đường tìm xe về nhà, phố vắng tanh, không một chuyến xe khiến anh ngao ngán thấy mình như con chó hoang, và mắt anh như rưng rưng khi kể lại chuyến bay đưa anh khỏi Thành nội trong không khí nháo nhác tan vỡ. Bây giờ thì anh đã trở về một mình sống như mình muốn sống. Thục nói: ở lại với ý nghĩ ngông cuồng làm kẻ tuẫn đạo… Liệu có mất Huế không?

Cộng sản có đánh Huế không? Tại sao Huế không bị pháo kích? Những câu hỏi đặt ra mà không ai dám trả lời khẳng định, ai cũng có ý kiến nhưng sau đó là cái mỉm cười ngụ ý… Thành phố đầy những lính, đủ màu áo, hình như không thiếu một binh chủng nào, ít hoặc nhiều họ đều có mặt. Tôi gặp lại những người bạn trong quân đội những ngày cũ. Những hàn huyên không hết về kẻ sống người chết, những ngày ở An Hậu, những ngày ở Phú Thứ, những ngày trong Dãy Phố Buồn Hiu, những ngày ở Khe Sanh, những ngày rong chơi yên bình trong những làng xóm ở Triệu Phong nói chuyện về những nàng cung phi sinh trưởng ở Sịa, và vẻ đẹp tây phương của những cô gái ở Mỹ Chánh, dòng sông mà người bạn tôi nói nửa đục nửa xanh, nơi những thuyền bè tây phương từ thế kỷ trước đã vào đó…

Người bạn nói: chính tôi cũng không hiểu được tại sao mất Quảng Trị. Anh bạn nói tiếp: không giữ được Tân Lâm Bắc thì phải mất Tân Lâm (Carroll), mất Carroll thì tất nhiên khó giữ Đông Hà và các căn cứ A1, A2, C1… Nhưng tôi không hiểu tại sao bộ chỉ huy nặng của SĐ3 còn ở Ái Tử mà bộ chỉ huy chiến thuật của tướng Giai lại rời vào La Vang rồi Quảng Trị? Tại sao vòng đai của Quảng Trị chưa lâm nguy mà tướng Giai lại bay vào Huế? Tôi được biết cho tới trưa ngày 1 tháng 5 tướng Lãm còn ra lệnh tử thủ Quảng Trị mà sau đó không đầy 30 phút tất cả mọi liên lạc với SĐ3 đều bị cắt đứt, các máy truyền tin của mặt trận không liên lạc với hậu cứ nữa? Trên máy bay nhìn xuống quốc lộ 1 chỉ thấy một dòng xuôi về Nam hỗn độn…

Buổi chiều mưa thật lớn, người bạn nói với tôi về cơn bão đang tiến tới. Một người bạn nói với tôi về Huế: đất gì lạ, một năm ở đây thì có ba tháng để tranh đấu, ba tháng để chịu tai ương, ba tháng để cứu trợ, còn ba tháng để làm thơ. Điều người bạn nói thực đúng với thời gian 10 năm trở lại đây, Huế đầy những tai ương và đau khổ, cơn ác mộng Mậu Thân với hàng ngàn người bị chôn sống vẫn còn ám ảnh tới những người sống sót, đó là một trong những điều giải thích vì sao họ đã lũ lượt kéo nhau ra khỏi Huế dù thực sự chiến tranh chưa đến.

Tôi theo xe người bạn ra khỏi Huế, hiện đang có những cuộc chuyển quân vào phía Tây và phía Bắc, những chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã đột kích ba lần vào vùng đất Quảng Trị, nhưng sông Mỹ Chánh vẫn là chiến tuyến. Quốc lộ 1 chạy về phía Bắc vắng hoe, chỉ có những xe nhà binh di chuyển với vận tốc nhanh hơn thường ngày, những cánh đồng ở Hương Điền vẫn có bóng người nông phu, thiên nhiên vẫn như một ngày thanh bình cũ. Trong phòng tuyến, tôi hỏi một anh bạn: bao giờ qua bên kia? Người bạn cười, định qua rồi nhưng mưa nên ngừng. Sao vậy? Hết mùi thối rồi… Tôi không hiểu. Người bạn nói: Mấy hôm trời nắng, gió Nam thổi hôi quá chịu không nổi tính hành quân để chôn xác chết của mấy trận, nhưng mưa rồi nên đỡ.

Tôi rùng người và thấy như đầy mùi tử khí. Tôi mường tượng tới khoảng đường còn lại để tới Quảng Trị, những làng mạc và đồng ruộng ngày nay còn ngổn ngang những xác người đã nằm xuống trong những ngày trước, nắng lửa làm cho những tử thi trương lên và bây giờ những cơn mưa làm cho tan rã… Đêm lại cơn mưa lớn. Tôi cùng người bạn ngồi trong quán cà phê, chút rượu khiến cho chúng tôi ngây ngất. Trên chiếc xe nhỏ chúng tôi đi trên những con đường vắng không có bóng người, chỉ có những tàn cây và bóng tối, thỉnh thoảng mới gặp những người lính ướt nước. Tường thành lầm lì, những bãi cỏ tranh cao với bông trắng, tất cả như thầm thì một tâm sự. Không khí lặng như một cõi chết nào. Thiên nhiên kia nào còn nghĩa gì khi không còn những mắt nhìn chan chứa, không còn nhịp tim rộn ràng? Tôi như nghe thấy tiếng thở dài của những cánh sen hồng về nỗi tàn tạ. Mùa hè đã đến rồi đấy nhưng như đã mất vì không có tiếng guốc khuya trên cầu, hoa phượng đã nở đỏ nhưng không còn là màu của nắng lửa, nó trở thành những vũng máu đọng chờ khô của một cái chết.

Người bạn nói: Tôi ở lại đây và tôi chờ ngày vào Quảng Trị.

Tôi nhìn người bạn.

Dương Nghiễm Mậu

Nguồn:  Tạp chí Chính văn số 1, tháng 2.1972

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG NGHIỄM MẬU

MT LI

 

 

  • Ngày lên đường ra đi, nơi phi trường, trước khi lên máy bay, người bạn tiễn chân nét mặt ưu tư cho tôi biết: giặc đã vào Ban Mê Thuột, trận đánh còn ở đó… lòng dạ không yên, những tin tức trên màn ảnh nhỏ, trên mặt báo nơi nước ngoài càng làm cho tôi lo âu hơn. Kontum, Pleiku… những nơi tôi đã từng sống. Lòng cồn cào nghĩ về quê hương, nơi những người thân yêu đang sống. Đoàn người lên đường với khoảng tới trên 200 cây s … tôi lo âu nghĩ, rồi mình có dịp trở về để chết nữa không? Chín ngày đi, đáng lẽ là một chuyến đi đáng ghi nhớ, thì cuối cùng với tôi là những ngày buồn. Ngày trở về, tôi không ngồi yên được, chỉ mong sao đặt chân trở về quê nhà. Lúc phi cơ đáp xuống Tân Sơn Nhất, đặt chân xuống mặt đất tôi chảy nước mắt với bao nôn nao. Ôm lấy con thơ vào lòng, giữ lấy tay vợ, tôi tưởng như mình vừa trải qua một biến động. Tôi thấu hiểu rằng, chẳng bao giờ tôi muốn rời xa quê hương mình, gia đình mình. Nơi đây tôi đã chọn lựa và tôi sẽ chẳng thể đi đâu.

 

Những bản tin, những trang báo mỗi ngày, mỗi giờ cho tôi thấy những bi thảm và những hào hùng. Hàng trăm ngàn người với đôi bàn tay trắng đã lên đường trong một ý thức chọn lựa. Ở đây, dù xấu xa bẩn thỉu, nhưng nó vẫn còn hơn phải sống dưới chế dộ Cộng Sản. Những bước chân đi tới phía đông, băng rừng, vượt núi, cái chết khít khao đã nói lên khẳng định đó. Nhưng vì đâu mà phải sống trong cơ sự này? lỗi vì ai? ai phải chịu trách nhiệm?

 

Không phải chỉ có Phước Long, Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum mà bây giờ còn cả Quảng Ngãi, Quảng Tín, Trị Thiên, Bình Long… Người anh từ Huế vào, người còn ngẩn ngơ. Người chị bàng hoàng nói tới đoạn đường vượt Hải Vân vào Đà Nẵng… Những chiếc xe như súc vật, những xác nguời nằm như lá khô, pháo kích không ngừng, những bà mẹ, đứa bé bò trên mặt đường và chiếc bình sữa… Trong cồn cào của thời sự, những sự việc làm tôi chóng mặt. Tôi tự hỏi: có phải đã tới lúc mà mình phải cầm lấy mũi nhọn, phải, chỉ có thế trong chọn lựa một khi cơn lốc đến. Tôi không thể có một chọn lựa đầu hàng để sống như trâu chó. Tôi chỉ thương hai tấm con thơ… Có thể một cơ sự như thế sẽ đến không?

 

2- Phải làm gì bây giờ? một người hỏi tôi thế, rồi hai người hỏi tôi thế. Bây giờ không phải là để hỏi như thế. Câu hỏi là: từ trước tới nay anh đã làm những gì? Anh có trách nhiệm gì với hiện tại này không?

 

Với riêng tôi, nhìn lại quá khứ từ 15 năm trở lại đây tôi có thể hài lòng để nghĩ rằng mình đã làm hết, đóng góp hết những gì có thể làm, có thể đóng góp. Lập trường dứt khoát của tôi đã hơn một lần được xác định trên những giòng chữ viết. Ở đó bao hàm một phấn đấu không cùng.

Nhập ngũ, rồi lên đường tới những vùng trận địa, nay nơi này, mai nơi khác kéo dài trong nhiều năm, nhận trách nhiệm.

 

Tôi đã lên tiếng về những gì tôi thấy, tôi nghe, tôi nghĩ, ở đó là cuộc chiến đấu của những chiến sĩ, là tiếng kêu thất thanh của người dân trong lửa đỏ, là cảnh điêu tàn của quê hương. Hơn ai hết, tôi mong ước một hòa bình trở lại. Bao nhiêu người khác cũng đã làm thế, hoặc hơn thế. Với thực tại này, khi truy nguyên tìm câu trả lời về trách nhiệm, nó không thuộc về tôi nữa. Và hiển nhiên, con đường lựa chọn, tôi tiếp tục. Phải làm gì bây giờ, câu hỏi ấy không còn ý nghĩa với tôi. Và tôi trả câu hỏi lại cho người khác, cho những người khác.

 

3- Văn chương có thể làm được gì trong tình thế này? Hãy gạt câu hỏi sang một bên. Hãy tưởng tượng tới một cảnh, người cầm bút ra nơi tuyến đầu, bên kia là giặc với những họng súng, rồi ở đó, người cầm bút lên tiếng: hỡi quân giặc, hãy đầu hàng và bỏ súng xuống… Với tiếng hô thật lớn, liệu giặc kia có đầu hàng, bỏ súng xuống hay cút đi không? Hay nói chưa hết câu, người cầm bút đã bị bắn gục? hoặc bằng một cách khác, những thơ truyện được đưa tới mặt trận… Đặt người cầm bút và văn chương vào một cảnh huống như thế là một sai lầm quá lớn. Đặt vấn đề như thế tức là phủ nhận văn chương và sức mạnh của nó. Bắn gục giặc cướp, bắt giặc đầu hàng, đuổi giặc đi xa, đó việc của những chiến sĩ nơi tuyến đầu. Nó không phải việc của người cầm bút, của văn chương. Mà văn chương thiết lập sức mạnh, cho những chiến sĩ, không phải trong một lúc, trong một giờ. Và như thế câu hỏi được đặt ngược trở lại: trong quá khứ, người cầm bút cũng như văn chương của ta đã làm được gì?

 

4- Cha tôi nói: hồi này thầy không ngủ được. Tôi không biết nói sao. Nhìn lại, trên 60 tuổi, bao nhiêu thăng trầm, những bôn trải từ 1945, để rồi năm 1954 ra đi với bao nhiêu ngậm ngùi. Lên đường, cha tôi vẫn nghĩ tới ngày trở lại, một hai năm nữa. Nhưng rồi không phải là một hai năm, hôm nay đã qua hai mươi năm, đứa em ngày lên đường mới 20 ngày hôm nay đã đến tuổi nhập ngũ… Rồi giặc nó vào tận đây sao? Tôi hiểu những gì cha tôi đang nghĩ, cũng như bao nhiêu người khác đã từng lựa chọn và tin tưởng. Ba mươi năm một cuộc chiến chưa ngừng lại và những tan nát còn không ngừng đổ tới… Năm 1954 gần một triệu người đã ra đi, bây giờ lại thêm một triệu người khác lên tiếng bằng chọn lựa. Có những người trong hai mươi năm đã phải phấn đấu để lập lại đời sống của mình không biết bao nhiêu lần. Tôi chưa thấy có một dân tộc nào lại phải sống trong kinh hoàng như thế. Dù phải chịu đựng, nhưng tất cả một đời sống lúc nào cũng là một phấn đấu. Có dân tộc nào bền bỉ và dũng mãnh như thế. Vậy thì tại sao cả khối dân tộc ta phải sống trong nhục nhằn, đau khổ chừng ấy. Bằng một cách nói tiêu cực: vận nước ta như thế sao? Hay nói với bằng chứng của lịch sử: chúng ta phải trả cái nợ máu của cha ông ta?

 

Có người đến hỏi tôi: có đi ra ngoại quốc không? Tôi đã trả lời dứt khoát: Tôi sống và chết tại nơi này. Người ấy hỏi: anh chấp nhận sống chung với người Cộng Sản? Tôi nói: tôi không phải là một con chó để nay sống với chủ này, mai sống với chủ khác chỉ vì miếng xương chúng liệng ra. Tôi tin tưởng con đường tôi đi. Có một nơi là lẽ phải và ánh sáng. Có một nơi là lẽ trái và bóng tối. Có trắng và đen không thể nhập nhằng được. Nếu tôi có chết chăng nữa, điều ấy tôi không ân hận. Lịch sử đã chứng minh rằng: nhiều khi cái chết là một điều tốt hơn là sống. Chết đi cho người khác sống, cho lẽ phải và sự thực, sống chết như thế cần thiết. Tôi bình tĩnh với quyết tâm đó.

 

Này những tên bất lương, hãy vơ vét, hãy chạy đi cho mau tiếp tục sống làm đầy tớ cho những tên chủ, và hãy đừng bao giờ ngửng mặt lên, hãy quên đi, đừng bao giờ nhắc đến hai tiếng Việt Nam.

 

5- Người phi công nói: chuyến bay đã không còn chỗ, nhưng người mẹ đã cố gắng đẩy đứa con lên, rồi người mẹ đứng lại, một tay đưa lên vẫy. Chiếc trực thăng bay lên và tôi nhìn thấy người mẹ quì xuống như cầu nguyện. Đẩy đứa con lên, tôi không quên được hình ảnh ấy. Có một nơi được gọi là hy vọng và cõi sống. Và một nơi là cõi chết. Có phải người mẹ kia đã muốn gửi đi đứa con trong hy vọng không? Khi trở lại, chúng tôi không còn thấy người mẹ đâu nữa. Dù sao tôi cũng còn hy vọng và cầu nguyện cho đứa trẻ kia gặp lại người mẹ thân yêu…

 

Sống tự do hay là chết. Điều đó được viết bằng xương và máu. Tôi mong ước mọi người cùng tôi góp lời cầu nguyện: cho chúng ta được sống làm người và thoát qua cơn thử thách này. Tương lai tùy nơi chúng ta với niềm tin đã có.

(THỜI TẬP 23 THÁNG 4-1975)