Buổi mai đầu năm viết về Phùng Thăng

tôi là độc giả, tôi là bạn học, là kẻ chủ trương vực dậy di sản văn học miền Nam, vực dậy sự thật. Tôi không chấp nhận những kẻ tiếm đoạt tác phẩm của chị, mạo danh chị, lấy sách chị và ghép vào bằng một cái tên khác. Tôi cũng không chấp nhận những kẻ khốn nạn nhất, phản bội anh em, phản bội đồng đội, phản bội những điếu thuốc, những bữa mì gói cơ hàn mà chúng tôi đã chia sẻ. Chúng là thứ hủi. Tôi thuộc lòng lời chị: Hãy để trái tim nói. Xin lỗi, tôi giận nổi khùng rồi. Ôi, tại sao chị, một người nữ quá chừng dịu dàng, quá chừng xinh đẹp, với một trái tim của bồ tát trên cuộc đời chó má này, lại phải bị chết thảm như vậy. Chết mà ôm chặt đứa con mình, mà não óc văng, mà sọ bị nứt, mà mẹ ơi mẹ ơi mẹ ơi con ơi con ơi… Tiếng thét nào có bật xé như rung chuyển cả mấy tầng khí quyển không, sao mà tôi nghe như bốn bề chớp lóe mà sấm rền mà mặt trời tự nhiên bị khuất vào trong mây để ngày bỗng nhiên tối lại. Tôi khóc anh à. Tôi cứ nhìn tấm hình chị chụp chung với con gái, bé Tiểu Phượng tại Blao. Bé mang áo đầm, tóc bông-bê. Bé nhìn vào ống kính, nhưng rõ ràng nhìn tôi, nhìn mọi người. Như thầm nói với tôi, hãy nói, hãy viết. Hãy đi tìm kẻ lạ ở thiên đường. Cháu cũng là kẻ lạ ở thiên đường. Cháu cũng thích vào địa ngục với mẹ cháu để có mẹ săn sóc cháu. Trên thiên đàng kia, đâu có ai mặc áo đầm cho cháu đâu

pt-2                    PT và con gái Tiểu Phượng (6 tuổi). Chụp năm 1972 tại Bảo Lộc. 

Tôi dành buổi sáng  đầu năm này cho Phùng Thăng – người mà Bùi Giáng gọi là thân mẫu.
Con thương Phùng Khánh vô ngần
Phùng Thăng thân mẫu cũng gần như nhiên

Bùi Giáng gọi Phùng Thăng là thân mậu  quá lố hay không ?
Không đâu !
Thử xem, ngoài Phùng Thăng ra có một người phụ nữ trẻ VN nào mang tư tưởng mình qua “Theo dấu tình yêu” hay “Chỉnh lý tư tưởng Tây phương”. Thử xem, những Buồn Nôn, Những ruồi, Bắt trẻ đồng xanh, Con sói đồng hoang, Thế giới Thiền, Kẻ lạ ở thiên đường, khi số tuổi của chị dưới 25. Thử thắp đuốc mà xem, một nữ kiệt ở Bàn Cờ [1], một người lính không có vũ khí chỉ có tình thương ở những nơi xa xôi hẻo lánh mang quà tặng đến những vùng mất an ninh nhất, để tác giả Chân Không phải viết sách bằng tiếng Việt, tiếng Anh ca ngợi hết mình.

phung thangLớp Đệ Nhị C – Đồng Khánh Niên khóa 1958 – 1959 Thầy Phan Văn Dật dạy Việt văn
Phùng Thăng bên góc trái (khoanh tay)

Hãy thử xem, người mà Thái Kim Lan ngưỡng mộ, giật mình khi cả lớp ngồi lắng nghe bài triết của Phùng Thăng. (TQBT số 59 bài Nhớ Phùng Thăng)  Thử xem. Thử xem. Thử xem nhánh sông Vỹ Dạ thấy bóng hai nàng tôn nữ, mà trăng mà sao mà tiếng chuông chùa đã bềnh bồng trong giấc ngủ… Để rồi một người xuất gia một kẻ nhập thế, mang bình bát đựng cả ngàn năm lao khổ lên núi xuống biển. Vai thì mong manh mềm yếu. Vậy mà phải gánh cả một cả trời oan nghiệt đổ xuống đôi vai !  Cả  mẹ cả con đầu bị búa đập, hay bị chôn sống chung một huyệt đào dưới gốc cây dừa. . Vậy mà con ôm mẹ cầu cứu mẹ, để mẹ giữ gìn che chở  nhưng cũng bị chôn sống với mẹ ! vì bọn sa tăng Polpot muốn tiết kiệm đạn. hay vì chúng quan niệm xác người là phân bón tốt nhất.

Bây giờ, chị Phùng Thăng khỏi cần chọn địa ngục thật như Simone Weil đã chọn. Và cháu Thường Nga cũng vì không muốn xa mẹ nên cũng ở chung với mẹ không rời. Có phải khi dốc tâm dịch Kẻ lạ ở thiên đường, chị đã dọn sẵn cho mình một nỗi hành hình đau đớn nhất, thảm khốc nhất. Cho những ngọn lửa hỏa thiêu tác phẩm chị, cho những kẻ muốn tiếm đoạt tên tuổi chị, ác tâm với chị, phê bình chỉ trích chị.. Và cho cả miền Nam sau năm 1975 mà chị đã vì nó phải chịu thảm tử.

Ở Thổ châu, người dân xây một đài tưởng niệm người dân của đảo bị cáp duồng bởi quân Polpot vào tháng 6 năm 1975. Nhưng Phùng Thăng không phải là dân cùa đảo, thì dĩ nhiên, không có cái “may mắn” được xếp  trong hàng ngũ…
Không đâu. Chị ở trong một thế giới khác, cao cả, vĩ đại vô cùng. Chị là  mẹ của Bùi Giáng của Trần Hoài Thư của miền Nam.
Chị chết vì miền Nam và vì sự tàn bạo của con người.
Chị chịu tội cho miền Nam và cho sự tàn bao của con người.
Chị đã chọn thiên đàng trong địa ngục.

pt-1
 Kể từ trái  thứ 1:Phùng Khánh, thứ 3 là Phùng Thăng.


Sau đây chúng tôi xin đăng lại bài viết “Tìm dấu Phùng Thăng”, nguồn: Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 59   tháng 3 năm 2014 chủ đề : Phùng Thăng

TQBT 59

Trần Hoài Thư

TÌM DẤU PHÙNG THĂNG

 

1. Từ thầy Chiêm đến một bài ký sự

 Trên phả hệ của  ÔngTrần Xuân Kiêm: Phùng Thăng sinh ngày 9-10-1943 (Quý Mùi) và mất ngày 10 tháng 6 năm Ất Mão (nhằm ngày 18-7-1975 – chú thích của TQBT) tại Kampuchea.  Có nghĩa là chị dẫn con gái đi vượt biên và bị cáp duồn. Qua một bài ký sự nhan đề “Về Miền Tây” của Nguyễn Đạt trên báo Người Việt, có một đoạn liên quan đến cái chết này: Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng (em ruột ni sư Trí Hải – Phùng Khánh, đã mất vì tai nạn giao thông, dòng dõi Tùng Thiện Vương), cùng một người con và nhiều người Việt Nam khác, bị Khmer Ðỏ “cáp duồn” từ đảo Nam Du (thuộc Kiên Giang), mang về Kampuchea bắt đi lao động khổ sai ở công-nông-trường, cả hai mẹ con chết tại đó. Thời điểm ấy cũng có nhiều du khách Việt kiều hôm nay, vượt biển từ Kiên Giang đi tìm tự do.

Một câu hỏi là làm sao gia đình lại biết được chính xác về ngày chết của mẹ con PT, trong khi tất cả 515 người này đều bị mất tích? Câu hỏi này, chúng tôi nhờ một thân hữu chuyển đến một người thân của PT.

Tại sao? Đây là lời giải thích của người thân của PT:

Sau nhiều năm bặt tin, không có tin nào biết đích xác về hai mẹ con. Năm 1981, Trần Xuân Kiêm nhờ một cô bạn tên Hoa lên Đàlạt hỏi Thầy Chiêm.
(Thầy Chiêm là ông Thầy nổi tiếng tại Đàlạt về tướng số, mách bảo cho biết những điều dưới Cõi Âm, người ta nói ông có thờ Ma Xó.)
Và không phải ai đến ông cũng tiếp và coi. Có lần Trần Xuân Kiêm và Trịnh Công Sơn lên coi. Ông chỉ coi cho Sơn về căn nhà ở đường Nguyễn Trường Tộ – Huế) mà không coi cho Trần Xuân Kiêm. Nên Kiêm phải nhờ cô Hoa lên coi ông Chiêm vào năm 1981 trước khi cô ấy đi Mỹ.
Cô Hoa ngồi chờ trước cửa nhà ông Chiêm khá lâu, không thấy ai ra tiếp, bỏ đi, thì có cậu con trai ra kêu lại, mời vô ông Thầy Chiêm tiếp.
Cô Hoa nói, sắp đi Mỹ, muốn biết tin một cô bạn sinh năm Quý Mùi (tuổi PT) vượt biên và không thấy tin. Ông nói ngay: “Không phải chết vượt biên trên biển mà chết tập thể cùng với con gái và một người cháu nữa (con ông anh ruột PT là Bửu Vụ). Cô Hoa hết hồn. Ông còn nói bị đập đầu vào gốc cây mà chết… khoảng 10 tháng 6 âm lịch. Nên cô Trí Hải nói lấy ngày ấy làm ngày giỗ PT…

…Như vậy, ngày chết của mẹ con chị PT không dựa vào sự thật mà chỉ dựa vào lời của một thầy “ngoại cảm”. Lấy gì để kiểm chứng cho những lời của thầy Chiêm là đúng?

Vậy đó. Tôi mệt lả đi tìm lý lịch tiểu sử Phùng Thăng giữa cõi ảo. Người thân của PT còn chịu thua thì huống gì là tôi – một kẻ xa lạ. Chỉ có người biết rõ là ông Nguyễn văn Linh và ông Phạm văn Trà – tướng chỉ huy QK4 CS và cấp lãnh đạo đảng CSVN. Họ có thể cứu sống 515 người này nếu họ thực tâm muốn cứu. Xin đọc một đọan hồi ký của một  cựu đại sứ VN tại Cao Miên sau 1975:

Ngày 4/5/1975, một tiểu đoàn CPC (tức Khmer Rouge- tòa soạn ghi chú)  đổ bộ lên đảo Phú Quốc.
Ngày 8/5/1975, lực lượng Pol Pot tiến công nhiều địa phương thuộc tỉnh Hà Tiên và Tây Ninh.
Ngày 10/5/1975, lực lượng Pol Pot tiến công đảo Thổ Chu của VN và bắt đi 515 dân trên đảo. Thực hiện quyền tự vệ của mình, quân đội ta đã đánh trả và truy kích chúng đến tận nơi xuất phát là đảo Wai, bắt giữ một số tù binh.
Ngày 2/6/1975, đ/c Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) đi Phnom Penh gặp Pol Pot, Nuon Chea và Ieng Sary. Ngày 12/6/1975, Pol Pot thăm bí mật Hà Nội, cho việc họ tấn công đảo Thổ Chu là do “không rành địa lý”, đề nghị ký Hiệp ước hòa bình hữu nghị nhưng lờ đi đề nghị của ta về đàm phán ký Hiệp ước biên giới. Ngày 3/7/1975, đ/c Nguyễn Văn Linh gặp lại Nuon Chea ở Phnom Penh và ngày 10/8/1975, đ/c Nguyễn Văn Linh một lần nữa đi Svay Rieng gặp Nuon Chea để xử lý vụ đảo Wai và về quan hệ hai nước, ta đồng ý trao trả số tù binh CPC (800 lính) bị ta bắt ở đảo Wai nhưng phía họ vẫn không trao trả cho ta 515 dân bị bắt ở Thổ Chu
. [1]

Mãi đến tháng 1, 2014, nhà báo Bùi văn Bồng mới phanh phui ra sự thật về số phận của 515 người này qua một bài ký sự nhiều kỳ trên báo Tuổi Trẻ mạng. Bài báo đã trả lời những gì tôi thắc mắc. Và thêm một lần chứng tỏ là lời của thầy Chiêm là đúng.

Bài báo viết về một hòn đảo mang tên là Koh Tang, nơi bọn Pol Pot mang 515 người Việt đến giam giữ. Chúng tôi xin mạn phép trích đăng một đoạn dưới tiêu đề:

Những tấm căn cước trên đảo Koh Tang

– Anh đi với tôi! – đột nhiên đảo trưởng Đức quay lại và nói, giọng gấp gáp.

– Đi đâu anh?

– Cứ đi. Rồi anh sẽ thấy thêm nhiều chứng tích…

Anh chỉ một ngôi mộ nhỏ:

– Đây là mộ của hai mẹ con xấu số. Khi ra đảo, anh em đào công sự phát hiện ra. Chúng chỉ vùi cát sơ sài. Chúng trói chặt đứa trẻ vào mẹ. Người mẹ và đứa trẻ bị đập vỡ sọ. Có lẽ chúng giết hồi cuối năm 1978 cho nên tháng 1-1979, anh em bới lên thấy xác họ thịt chưa rữa hết. Trong túi áo người mẹ còn tấm thẻ căn cước đề: Nguyễn Thị Tua, 29 tuổi, ở đảo Thổ Chu, do chính quyền Sài Gòn cấp ngày 20-2-1968…

Chúng tôi đi qua khỏi vườn dừa, vòng ra bãi biển. Ven bờ cát có một cây dương cao vút đứng chơ vơ. Xung quanh cỏ cây mọc rậm rạp.

– Anh nhìn lên cây dương, có thấy gì không? – anh Đức hỏi.

– Một đoạn dây!

Rồi tôi thấy gai người, thốt lên:

– Một đoạn dây thòng lọng.

Anh Đức giải thích:

– Đúng vậy. Đây là nơi chúng hành hình đồng bào ta. Khi mới lên đảo, dưới gốc cây nhẵn thín, hàng trăm dấu chân đè lên nhau. Xung quanh gốc cây chúng còn vứt rải rác gậy, dây trói, búa, dao quắm. Khi ấy anh em còn thấy máu đọng khô lại.

Chúng tôi qua bãi lau rậm, đi trên chiếc cầu gỗ bắc qua hồ nước rồi vòng ra chân đồi. Ở đây có những căn nhà lợp ngói. Một kiểu nhà sàn bốn mái, xung quanh lát gỗ, cầu thang bằng xi măng. Kiểu nhà này là nguyên dạng cấu trúc nhà ở mà người ta thường thấy ở Trung Quốc.

– Đây là nhà của các cố vấn Trung Quốc.

– Sao anh biết?

– Biết chứ! Giấy tờ, tư trang và cả thư của họ để lại mà.

Phía trước căn nhà sàn bốn mái ấy là một dãy hầm bê-tông nửa mái nổi. Dãy hầm này mới xây xong khoảng năm 1978, rêu phủ một lớp xanh sẫm ở bậc lên xuống.

Chui vào hầm còn thoảng mùi vôi vữa. Dãy hầm có bốn ngăn. Mỗi ngăn chứa gần 10 người. Ngăn nào cũng có lỗ châu mai hướng ra biển.

Trong số giấy căn cước đã nhàu nát, mối xông, thấm nước, vứt rải rác quanh khu nhà bốn mái này, tôi còn đọc được những địa danh, phần lớn là Thổ Chu, những căn cước khác có ghi rõ quê quán nạn nhân ở Chợ Lớn, Biên Hòa, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Vinh…

Khi sáng, ở ven chân đảo phía đông, tôi còn thấy những chiếc tàu đánh cá loại vừa và nhỏ đã bị hỏng. Có con tàu gối lên bờ cát, cái thì nằm chềnh ềnh giữa lối đi, có cái nửa chìm nửa nổi. Một mảnh ván bị sóng đánh tung lên bờ từ khi nào khô cong, mốc thếch, nứt nẻ.

Một chiếc tàu có mấy chữ số kẻ sơn còn đọc được: KG13…, mấy chữ số tiếp theo bị bong hết sơn. À, bọn diệt chủng Pol Pot chẳng những bắt hơn 500 người dân đảo Thổ Chu về đây, mà chúng còn bắt cóc tàu thuyền đánh cá của ngư dân VN đang làm nghề trên biển.

Bao nhiêu người già, đàn bà, trẻ em? Bao nhiêu người bị đánh đập tàn nhẫn rồi bị chết vùi thân dưới những gốc dừa kia? Chẳng ai trả lời được những câu hỏi ấy. [2]


 [1] GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991) – Hồi ký của Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ CSVN tại Kampuchea
[2] Bùi văn Bồng: Đây, chứng tích thảm sát Koh Tang, nguồn: Internet (đăng trên nhiều trang mạng)


 

2. Về hai tác phẩm luận đề bị thất lạc

Nói đến Phùng Thăng, người đọc sẽ nghĩ ngay chị là một dịch giả.  Tuy nhiên, khi nhìn vào những tác phẩm vừa liệt kê, chúng ta có thể nhận ra hai tác phẩm luận đề về triết học mà bản thảo bị thất lạc. Đó là “Theo dấu tình yêu” và “Chỉnh lý tư tưởng Tây phương”.

Qua những cuộc hàn huyên tâm sự với một bạn văn, nguyên là một học trò cũ năm Đệ Nhất tại trường Trần Quý Cáp mà PT là giáo sư Triết, chúng tôi được biết một phần nào tư tưởng của PT đã gởi gắm vào hai tác phẩm trên của chị. Theo lời người bạn, chị luôn luôn bảo thật là bất công khi người ta nhân danh tình yêu để nói chứ không bao giờ để tình yêu được nói.

Tôi tìm ra tư tưởng này trong truyện dài Cõi Đá Vàng của Nguyễn thị Thanh Sâm.  .

Qua tâm sự của Trần với người bạn thân về người mà chàng yêu tha thiết – người góa phụ có hai con lại thêm có đôi mắt lé,  tình yêu đã nói như sau:

…Tao nói điều này mày cứ việc cười nếu mày thích, chính vì đôi mắt lé của nàng mà tao yêu thương nàng vô cùng.  Tao những muốn hôn lên đôi mắt ấy không biết bao nhiêu lần và mong gìn giữ nó mãi trong đời tao. Đôi mắt của một người bị lé nó luôn có một vẻ trơ trọi cô độc lạ lùng, ai cũng có thể thấy rõ điều đó; một đôi mắt bình thường chúng nó luôn luôn cùng nhau nhìn về một hướng nào đó, chúng biểu lộ một sự đồng điệu, vui buồn có nhau.  Trên khuôn mặt của một người có đôi mắt lé, thiếu vắng hẳn điều đó, nó lỗi điệu và tỏ rõ sự lạc lõng bơ vơ. Mày cười rồi đấy nhé, tao biết mà, điều đó đáng cười lắm, mà cũng đáng khóc nữa, cái đó còn tùy.  Có một đêm tao vùng vẫy một cách tuyệt vọng để ra khỏi một cơn mơ quái ác, cho đến khi tao hét lên một tiếng mở choàng mắt ra được, mồ hôi toát ra ướt đẫm cả người, tao vẫn còn nguyên cảm giác kinh hoàng của sự cô đơn đến cùng cực. Lúc ấy khuôn mặt và đôi mắt lé của Hiếu cúi xuống nhìn tao đầy vẻ lo âu thương cảm. Tức thì tao cảm thấy chan hòa một nỗi xót xa an ủi khiến tâm trí tao dịu lại ngay.  Tao thấy trong đôi mắt bất toàn ấy một nỗi lạc loài rộng lớn mênh mông bao trùm cả nỗi đơn độc của tao.

Nó có ma lực của một nhân duyên đã được an bài, cái nhân duyên nối liền một vực thẳm này đến một vực thẳm kia.

Đột nhiên Trần ngừng lại.

Từ ngọn đồi trước mặt, một tiếng chim lạ bỗng trỗi lên véo von réo rắt như những sợi tơ trăng ngâm lên rồi thốt nhiên im bặt như có sự lầm lẫn nào đó.  Cả hai người bạn cùng yên lặng lắng tai nghe, ngỡ ngàng.  Không khí trong suốt như được lọc từ một thiên thể khác.

Một ngôi sao băng ngang cuối trời nghe như có tiếng xé lụa trong không trung.

(trích Cõi đá vàng, truyện dài của Nguyễn thị Thanh Sâm, Thư Ấn Quán tái bản, tt. 185)

Và đây là người ta nhân danh tình yêu để nói.  Người ta là ai. Là gia đình, xã hội và Đảng. Chẳng những nói mà còn đưa ra kết luận cho lời nói của họ. Như lời của Hùynh khi Trần hỏi ý bạn:

Thực tế mà nói, để qua một bên những rắc rối không tránh khỏi với gia đình và xã hội đối với một mối tình kỳ quặc như thế, đừng quên mày là một đảng viên, Đảng theo dõi chặt chẽ tư tưởng, hành động cho đến tình cảm của mày.  Một mối tình ngoại lệ được xem như một cách vượt rào, nó kéo theo những suy luận triền miên để đi đến những kết luận không ngờ nổi.  Nhưng kết luận ấy nó giản dị hơn những điều mày đã kể cho tao nghe đêm nay nhiều.  Nó giản dị như một viên sỏi quăng xuống bể lặn mất tăm vậy đó.  Dĩ nhiên mày cũng hiểu rằng mối tình của mày và chị Hiếu sẽ đi đến đâu rồi.  Dù sao, tao cũng không muốn thấy mày lâm vào tình cảnh khốn khó, nhưng nghĩ cho cùng, tao muốn hay không cũng vậy thôi.

(trích Cõi đá vàng, truyện dài của Nguyễn thị Thanh Sâm, Thư Ấn Quán tái bản, tt. 186)

3. Không có chỗ cho một triết gia

Trong số những người học trò của Phùng Thăng của niên khóa 1966 mà Phùng Thăng đảm trách về môn Triết có nhà thơ Nguyễn Nho Nhượn. Theo lời người bạn,  Nguyễn Nho Nhượn đã sáng tác bài thơ Vai Tuồng để tặng cô  giáo dạy triết PT:

tôi giậm chân nông nỗi
đóng vai người ăn mày
đi hành khất tình thương
lại bị người ruồng rẫy
 

tôi vô cùng ngu ngơ
đóng vai chàng thi sĩ
chống đối và ngợi ca
lại bị người mai mỉa
 

tôi quay cuồng châu thân
đóng vai nhà ảo thuật
lừa dối rất tài tình
lại bị người trục xuất
 

tôi vỗ tay đứng cười
đóng vai một triết gia
khinh mạn cả cuộc đời
lại bị người ó la
 

tôi giận tôi quá đỗi
đóng vai hề thử sao?
diễn những trò vô lối
lại được người hoan hô
 

tôi không còn hiểu nổi
lòng người thích thế sao
chừ đóng vai gì nữa
cho được người hoan hô?
 

(trích thi phẩm tiếng nói từ hư vô)

Vâng, người thi sĩ đã nói về một sự thật: Làm sao có được một triết gia ở đất nước này. Cho dù Simone Weil lấy Việt Nam để đầu thai đi nữa , người ta vẫn la ó, chỉ trích, phê bình, bơi móc, đặt điều. Chỉ có hề, hề và hề. Chỉ có phản bội và phản bội. Chỉ có những nhân danh mỹ từ khoác áo. Thương lắm Trần đã nghe tình yêu nói. Nhưng cũng xót xa lắm khi biết rằng cuộc tình sẽ không bao giờ thành tựu vì người ta đã nhân danh tình yêu mà nói, mà trói tình yêu. Bởi vậy Phùng Thăng mới lên tận Di Linh. Bởi vậy Phùng Thăng mới bỏ rừng xuống biển ra tận Thổ Chu và qua tận của đảo Koh Tang của bọn Sa Tăng chín tầng địa ngục.

Vậng, chẳng còn chỗ cho chị, và cho cả miền Nam này, sau tháng 4 năm 1975..

Kẻ lạ ở thiên đường

 

Tôi đã theo dấu chân Phùng Thăng qua hai tác phẩm luận đề nhờ những lời kể của một người học trò cũ của nàng, nhưng tôi không thể theo dấu cuốn Kẻ lạ ở thiên đường của Simone Weil mà PT dịch, do người thân của nàng cung cấp, với lời ghi chú là bản thảo bị thất lạc vào năm Mậu Thân. Tôi lên mạng, cầu cứu Cornell, Yale, Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ, hay những thư viện chính ở trong nước nhưng cũng đành chịu thua. Simone Weil không có tác phẩm nào mang tên là “Kẻ lạ ở thiên đường” cả. Dù là l’étranger hay dù là paradise… Simone Weil chỉ có một câu nói bất hủ là: “We must prefer real hell to an imaginary paradise.” (Chúng ta phải thích địa ngục thật hơn là thiên đường tưởng tượng).  Không ai có thể giúp tôi hết. Ngay cả nhà thơ TXK. Tôi không thể nhờ anh vì tôi rất ngại phải chạm vào vết thương lòng của anh. Anh đã quá đau đớn rồi. Làm cho anh đau đớn thêm quả là một tội ác. Nhưng mà, thưa anh. Dù sao PT cũng đã nằm xuống, và tôi là độc giả, tôi là bạn học, là kẻ chủ trương vực dậy di sản văn học miền Nam, vực dậy sự thật. Tôi không chấp nhận những kẻ tiếm đoạt tác phẩm của chị, mạo danh chị, lấy sách chị và ghép vào bằng một cái tên khác. Tôi cũng không chấp nhận những kẻ khốn nạn nhất, phản bội anh em, phản bội đồng đội, phản bội những điếu thuốc, những bữa mì gói cơ hàn mà chúng tôi đã chia sẻ. Chúng là thứ hủi. Tôi thuộc lòng lời chị: Hãy để trái tim nói. Xin lỗi, tôi giận nổi khùng rồi. Ôi, tại sao chị, một người nữ quá chừng dịu dàng, quá chừng xinh đẹp, với một trái tim của bồ tát trên cuộc đời chó má này, lại phải bị chết thảm như vậy. Chết mà ôm chặt đứa con mình, mà não óc văng, mà sọ bị nứt, mà mẹ ơi mẹ ơi mẹ ơi con ơi con ơi… Tiếng thét nào có bật xé như rung chuyển cả mấy tầng khí quyển không, sao mà tôi nghe như bốn bề chớp lóe mà sấm rền mà mặt trời tự nhiên bị khuất vào trong mây để ngày bỗng nhiên tối lại. Tôi khóc anh à. Tôi cứ nhìn tấm hình chị chụp chung với con gái, bé Tiểu Phượng vào năm 1968 tại Blao. Bé mang áo đầm, tóc bông-bê. Bé nhìn vào ống kính, nhưng rõ ràng nhìn tôi, nhìn mọi người. Như thầm nói với tôi, hãy nói, hãy viết. Hãy đi tìm kẻ lạ ở thiên đường. Cháu cũng là kẻ lạ ở thiên đường. Cháu cũng thích vào địa ngục với mẹ cháu để có mẹ săn sóc cháu. Trên thiên đàng kia, đâu có ai mặc áo đầm cho cháu đâu…

Vậy mà tôi tìm được. Không phải ở Cornell, Yale, hay thư viện Sài Gòn, Hà Nội mà là một thư viện tỉnh. Chẳng ai giúp tôi, trừ Google và ma lực nào đẩy đưa dẫn dắt tôi tìm đến thư viện tỉnh Thừa Thiên. Trong khi tôi đang ở Mỹ, không thể rời nhà một buổi. Chẳng có ai hết. Trừ chị. Rõ ràng Kẻ lạ ở thiên đường do An Tiêm xuất bản vào năm 1973. Rõ ràng KLOTĐ không mất như lời ghi chú của người thân. Anh TXK ơi, tôi tìm được tông tích đứa con bị thất lạc của PT rồi đấy. Xin anh cố làm sao đừng để bọn khốn nạn ăn cắp mạo danh mạo tên tuổi PT một lần nữa…

bia KLOTD

KẺ LẠ Ở THIÊN ĐƯỜNG được chọn làm tên chung cho bản dịch sáu bức thư gởi cho linh mục Perrin và năm bài trần thuyết về năm đề tài tôn giáo. Qua toàn thể văn phẩm, tâm hồn Simone Weil vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một Quê Hương tâm linh đích thực cho mình. Chính sự sáng suốt ấy đã đưa Simone Weil đến chỗ khước từ thiên đường hữu hạn để chọn hỏa ngục vô biên vì quá xót thương và muốn chia sớt những lầm than của trần thế. Trong nguyện ước của nàng, như có vọng âm những lời phát nguyện của các vị bồ tát Phật giáo từ muôn nghìn thế kỷ. Trên thiên đường hữu hạn ấy, nếu được chọn, Sìmone Weil sẽ vẫn mãi mãi là một kẻ xa lạ lạc loài, vì nàng không ước muốn. Nàng chỉ ước muốn Thiên Đường chính thực, Quê Hương tâm linh bình đẳng cho tất cả Loài Người.

 

 Simone Weil Việt Nam…

pt-simon

 

Simone Weil mất ngày 24-8-1943. Phùng Thăng ra đời ngày 9-10-1943 (Quý Mùi). Simone Weil ước ao chẳng thà sống ở địa ngục thật còn hơn là thiên đường tưởng tượng, thì không gì hơn là chọn VN, vì VN là một nơi mà “When I die I will go to Heaven because I lived in VN”. Bước chân của Simone Weil là bước chân của Phùng Thăng tiếp tục. Simone là một nữ triết gia trẻ. Phùng Thăng cũng vậy. Có khác gì đâu.

Thử xem, ngoài Phùng Thăng ra có một người phụ nữ trẻ nào mang tư tưởng mình qua “Theo dấu tình yêu” hay “Chỉnh lý tư tưởng Tây phương”. Thử xem, những Buồn Nôn, Những ruồi, Bắt trẻ đồng xanh, Con sói đồng hoang, Thế giới Thiền, Kẻ lạ ở thiên đường, khi số tuổi của chị dưới 25. Thử thắp đuốc mà xem, một nữ kiệt ở Bàn Cờ [1], một người lính không có vũ khí chỉ có tình thương ở những nơi xa xôi hẻo lánh mang quà tặng đến những vùng mất an ninh nhất, để tác giả Chân Không phải viết sách bằng tiếng Việt, tiếng Anh ca ngợi hết mình.

Hãy thử xem, người mà Thái Kim Lan ngưỡng mộ, giật mình khi cả lớp ngồi lắng nghe bài triết của Phùng Thăng. Thử xem. Thử xem. Thử xem nhánh sông Vỹ Dạ thấy bóng hai nàng tôn nữ, mà trăng mà sao mà tiếng chuông chùa đã bềnh bồng trong giấc ngủ… Để rồi một người xuất gia một kẻ nhập thế, mang bình bát đựng cả ngàn năm lao khổ lên núi xuống biển. Vai thì mong manh mềm yếu. Vậy mà phải gánh cả một cả trời oan nghiệt đổ xuống đôi vai !


[1]

Trong cuốn hồi ký 52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi ký của Sư cô Chân Không, có đoạn nhắc đến tinh thần phục vụ xã hội này của PT:

“Chuyến đầu tiên không có thầy (Nhất Hạnh – tòa soạn chú thích), tôi rủ được Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng. Phùng Thăng có gương mặt rất thanh tú, dáng người thanh lịch, nhìn em mặc chiếc áo năm thân mầu nâu cùng đi cứu trợ với tôi ở những vùng xa xôi bom đạn như vầy tôi rất cảm động và thầm khâm phục cô công chúa bé dễ thương chịu khó này. Em nói với tôi là em rất ưa tên Phượng, nên sau này lấy chồng sinh con, Phùng Thăng đã đặt tên cháu là Tiểu Phượng.”

(nguồn: Langmai.org)

▄▄▄▄▄▄▄▄▄▄