Thư Quán Bản Thảo / Trần Hoài Thư

Archive for the ‘20 nam van hoc mien nam’ Category

Nội dung này được bảo mật. Hãy nhập mật khẩu để xem tiếp:

Nếu Jupiter nhân danh Thượng Đế, thì ông quan tòa trong Tòa án quân sự Mặt trận  nhân danh quốc gia.  Không ai có quyền chống đối họ.  Vậy mà chỉ có Oreste đã thách thức, Trong thần thoại Hy Lạp, Oreste nhân danh tự do của con người. Trong tòa án quân sự mặt trận, Oreste Việt nam nhân danh tuổi trẻ. Tại sao tôi ví người quân phâm ấy là Oreste vì anh ta đã dám nói lên một cách uy dũng về cái quyền của tuổi trẻ của anh.

Oreste của thời chiến Việt Nam:

… Tôi nhân danh tuổi trẻ Việt Nam, kết án Cộng Sản, tư bản đã đưa đất nước tôi vào cuộc chiến tương tàn. Chúng tôi là nạn nhân từ những thế lực. Nếu kết tội là kết tội những ông lãnh tụ đã không biết thương dân tộc mình. Chúng tôi không gây nên cuộc chiến này. Chúng tôi không có tội. Nếu các ông không bắt tôi ở tù chung thân, tôi sẽ đào ngũ nữa. Tên lính lạnh lùng nói. Ông toà đập chiếc búa gỗ lên bàn, nói lớn:

Bị can trở về hàng. 

Tên quân phạm trở về chỗ ngồi, nhìn ra ngoài cửa sổ.

Toà nghị án. Có tiếng xê dịch khô khan nặng nề trên hàng ghế chánh thẩm. Đám quân phạm được đẩy lên xe, chỉ còn lại lưa thưa những người thân nhân trên hàng ghế chờ đợi. Ông trung úy ủy viên chính phủ ra ngoài hành lang xem báo. Tên trung sĩ quân pháp phụ trách việc gọi tên bị can đã xách xe chạy rong ra phố. Đám lính dàn chào ngủ gục trên ghế.

Nhân danh quốc gia Việt Nam, tôi long trọng tuyên bố các bản án …

Ông quan tòa trở ra phòng lúc 12 g 30. Ông bắt đầu đọc bản án. Một con chim sẻ vụt bay vào hội trường. Tù ở. Tù treo. Tha bổng. Cái danh sách dài như vô tận khiến ông phải ngừng lại, uống nước lấy hơi rồi tiếp tục đọc tiếp. Chỉ có những chiếc bàn chiếc ghế trong hội trường vắng ngắt mới nghe những lời tuyên án của ông.
(trích Cảm Tạ Văn chương của THT sắp xuất bản)

Oreste  của huyền thoại Hy Lạp:

Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967)

IMG_0280

Những Ruồi.Bản dịch của Phùng Thăng từ  Les Mouches của J.P.Sartre.   Thanh Hiên xb 1967, Thư Án Quán sưu tập, chụp, đóng bằng bìa cứng có bao jacket cover ở ngoài. Số lượng thực hiện là   2 tập.  Một dành cho Phùng Thăng. Và một dành cho THT.  Như là cách để biểu lộ sự tri ân đến  một dịch giả  trẻ đầy trí tuệ  đã cống hiến một dịch phẩm giá trị cho văn học VN, phải bị chết thảm khốc dưới bàn tay Miên quỉ Polpot vào năm 1975.

Trích văn

 

JUPITER:

Oreste ! Ta đã tạo người và ta đã tạo nên mọi sự : hãy nhìn đây. (Những bức tường của ngôi đền tự mở rộng. Bầu trời hiện ra, nhấp nhánh những ngôi sao xoay vần. Jupiter đứng ở cuối sân khấu. Giọng nói của Thần đã trở nêt to khiếp – máy vi âm – song người ta vẫn còn hơi nhận rỏ.) Ngươi hãy nhìn những hành tinh kia đang vận chuyển trong trật tự, và không bao giờ và chạm nhau: chính ta đã thu xếp sự vận hành của chúng, tuân thủ có công lý. Ngươi hãy nghe hòa điệu của những tinh cẩu, cái bài ca cảm tạ vĩ đại của khoáng chất đang vang dội khắp bốn phương trời (Ca nhạc.) Do ta mà những chúng loại được tồn tại mãi, ta đã ra lệnh rằng một người luôn luôn sinh ra một con người và con của loài chó là chó, chính do ta mà chiếc lưởi dịu hiền của những cơn thủy triều đến liếm nhẹ trên bãi cát và rút lui vào giờ nhất định, ta làm cây cối tăng trưởng và hơi thở của ta dần lối cho những đám mây phấn hoa vàng bay quanh trái đất. Hỡi kẻ tiếm vị, ngươi không phải đang ở tại nhà mình đâu ; ngươi đang ở trong thế giới như cây gai ở trong thịt da, như kẻ săn bắn trộm ở trong khu rừng của lãnh chúa; vì lẽ thế giới là thiện hảo ; ta đã tạo ra thế giới theo thánh ý của ta và ta là điều Thiện. Nhưng còn ngươi, ngươi đã gây nên điều ác, và những sự vật đang lên án ngươi bằng những giọng lời hóa đá của chúng : sự Thiện ở khắp mọi nơi, đấy là ruột của cãy hương mộc, là vẻ tươi mát của dòng suối, là đường vân của đá lửa, là trọng lực của hòn đá ; ngươi sẽ tìm thấy lại sự Thiện tận trong cả bản chất của lửa và ánh sáng, ngay cả thân xác người cũng phản bội người, vì nó vâng phục những mệnh lệnh của ta. Điều Thiện ở trong người, ở bên ngoài người: thâm nhập vào người như chiếc lưởi liềm, nó nghiến nát người như một ngọn núi, nó mang người đi và lăn tròn ngươi như thể một đại dương ; chính điều Thiện đó đã cho phép người thành công trong công việc xấu xa của mình, vì nó là sức sáng của những ngọn nến, sức cứng rắn của thanh gươm người xử dụng, sức mạnh của cánh tay người. Và cái điều ác mà người quá kiêu hãnh về nó thế kia, điều ác mà người tự nhận mình là tác giả, điều ác ấy là gì nếu không phải là một phản ánh của thực thể, một lời thối thác, một hình ảnh lừa phỉnh mà ngay cả sự hiện hữu của nó cũng được nâng đở bằng điều Thiện,

Hãy trở về lại nơi chính mình, Oreste : cả vũ trụ đang bất bình ngươi, và ngươi chỉ là kẻ yếu đuối trong vũ trụ. Hãy trở về lại với bản tính của mình, hỡi đứa con lạc tính: hãy nhìn nhận lỗi lầm minh, kinh tởm nó, nhổ vứt nó ra khỏi người như một chiếc răng sâu tấy mủ. Nếu không,  biển cả  sẽ rút đi trước mặt người, những dòng suối sẽ khô cạn trên đường người đi, những hòn đá cuội và đá tảng sẽ lăn ra khỏi đường và đất sẽ mủn ra dưới bước chân người.

ORESTE.
Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.

Những bức tường khép gần lại, Jupiter tái hiện, chán nản và mệt mỏi; Jupiter đã lấy lại giọng thường.

JUPITER:
Ta không phải là vua của người sao, hỡi loài sâu bọ vô sỉ. Vậy chứ ai đã tạo ra ngươi?

ORESTE:
Chính ngài. Nhưng lẽ ra ngài đang nên tạo ra tôi với tự do trong hồn.

JUPITER:
– Ta đã ban cho người tự do để phụng sự ta.

ORESTE
– Có thể như thế lắm, song tự do đó đã quay lại chống đối ngài, và cả tôi lẫn ngài đều không thể làm gì được cả.

JUPITER.- Dữ chưa ! Giờ ta mới nghe một lời tạ lỗi.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967 từ trang 122-124)

 

 

Nguyễn Nho Sa Mạc: nhà thi sĩ tiên tri
Nguyễn Nho Sa Mạc tên thật là Nguyễn Nho Bửu, còn có bút hiệu Nguyễn Thị Liên Phượng. Ông sinh năm 1944 tại La Qua, Điện Bàn, Quảng Nam, mất vào 23 tháng Chạp năm 1964 tại bệnh viện Đà Nẵng. Thơ Nguyễn Nho Sa Mạc từ những năm 1960 đã đăng trên các tạp chí: Bách Khoa, Văn học, Mai, Văn… (Sài Gòn). Gần nửa thế kỷ đã qua, kể từ ngày thi sĩ qua đời, năm 2007 tập thơ “Vàng lạnh” của Nguyễn Nho Sa Mạc mới được nhà xuất bản Thư Ấn Quán tại Hoa Kỳ  sưu tầm, tập hợp và xuất bản.
Hiện tại chúng tôi còn lưu trong máy. Quí bạn nào cần, chúng tôi sẽ in và gởi tặng.
Inline image 1.
1.
Trịnh Công Sơn qua “Một cõi đi về” đưa người nghe về một nơi mà người ta gọi là cõi vĩnh hằng, thiên thu, hay bên kia thế giới. Điềm triệu đã thấy rõ ràng qua những lời đầy ảo não và nhuốm màu tôn giáo. Tuy nhiên, không thấy lời nào giúp chúng ta biết khi nào ông lên “chuyến xe trăm tuổi” như Hoàng Trúc Ly đã từng nói về cái chết của mình:
Rồi mai khởi sự xa đời
Chuyến xe trăm tuổi đưa người nghìn năm
Trăng sao bốc cháy chỗ nằm
Áo xanh mây lá vết bầm núi non
(Hoàng Trúc Ly, “Vĩnh biệt”)
Dù nhà thơ đã dùng chữ mai để nói về sự vĩnh biệt, nhưng nó vẫn không xác định thời điểm nào. Nhà thơ HTL sinh năm 1933 và mất năm 1985. Có nghĩa “mai” là năm ông được 52 tuổi.
Chỉ có nhà thơ Nguyễn Nho Sa Mạc mới là nhà tiên tri huyền nhiệm. Bởi vì khó có ai viết những lời trăn trối như thế này:
tôi gọi nhỏ tên mình sa nước mắt
sống trên đời vừa đúng hai mươi năm
máu sẽ khô xin tim này đừng rụng
giữa hư vô phần mộ nhỏ yên nằm
(Nguyễn Nho Sa Mạc, “Xuân của một người”)
Và nhà thơ đã gọi tên mình thật. Gọi  cách đây 43 năm, đúng vào lúc anh lên hai mươi tuổi, khi anh đang là một học sinh Đệ Nhất trường trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng.
Nhà thơ Luân Hoán đã kể lại rất chi tiết về sự ra đi của anh như sau. (Tên thật của Nguyễn Nho Sa Mạc là Nguyễn Nho Bửu).
“… Theo lời chủ nhà, Bửu không tỏ vẻ gì khác thường trước khi mất, ngoài việc về nhà hơi muộn hơn thường lệ. Dù muộn, anh cũng chào hỏi mọi người ân cần  và không quên cho biết sáng hôm sau sẽ về quê. Gia đình này chỉ có hai vợ chồng và một đứa con vị thành niên. Họ nghỉ đêm ở căn nhà dưới, cũng rất thoáng mát. Người chồng cho chúng tôi hay khuya hôm đó, ông có tình cờ ra sân, ngó vào chỗ Bửu nằm, hơi ngạc nhiên thấy anh đắp chiếu thay vì đắp mền. Ông có đứng quan sát và đã cười trong bụng khi thấy bàn chân Bửu nằm ngoài chiếu, nhịp nhịp như đang theo âm điệu của một bài ca nào đó. Tuy ngỡ người khách trọ của mình phấn khởi vì ngày Tết sắp đến, nhưng ông chủ nhà cho biết lòng ông có vẻ không yên khi trở lại chỗ nằm, nên chừng một giờ sau, ông lên nhà trên và phát hiện tình trạng không ổn của Bửu…”
2.
Thường người ta giải thích khi con người quá đau đớn (tinh thần hay thể xác), thì cái chết được xem như một cách để cứu rỗi. Bệnh hoạn nan y là một.
Nhà thơ NNSM không nằm trong trường hợp của nhà thơ Quách Thoại hay Hàn Mặc Tử mà các sáng tác của họ đã quằn quại đến bật máu, phun những tia đau thương để thăng hoa thành những hạt mưa thơ ân sủng. Đọc tập thơ Vàng lạnh của anh, không thấy một câu nào về bóng tối từ nỗi đau đớn đến bật máu như Hàn Mặc Tử. Đa số những bài thơ được sáng tác vào lúc anh khoảng 18, 19 tuổi và bài “Sinh nhật”, có lẽ là bài cuối cùng vì thơ ghi tháng giêng 1964, đều là những bài thơ tình và thân phận của tuổi trẻ trong cuộc chiến.
3.
 Không bệnh hoạn nan y, không ở trong guồng máy, cũng chẳng có một hệ lụy nào để có thể đưa đến sự tự vẫn. Thì chắc phải có một lý do bí ẩn nào khác.
Có phải lý do bí ẩn này ở những bài thơ vào cuối đời anh.
Cái khổ nạn của VN.
Cái khổ nạn ấy đã được một người học trò thi sĩ gánh lấy. Mà gánh rất nặng. Cái “tôi” của nhà thơ trở thành cái chung:
mẹ dạy tôi làm người
phải yêu thương đồng loại
nhưng bức tường ô nhục
còn mọc lên khắp nơi
 
nên tôi buồn biết mấy
làm người dân Việt Nam
hằn vết thương chia cắt
đớn đau màu da vàng !
(“Cuộc đời”, trang 16)
hay:
mình cầm tay muốn khóc
thương những người đi sau
trời Việt Nam giá lạnh
màu chiến chinh thêm sầu
(“Đêm Vĩnh Điện”, trang 26)
Lời thơ anh là những tiếng kêu trầm thống của một thế hệ không có tiếng nói. Chưa đầy hai mươi tuổi, nhưng anh đã mang nỗi buồn đi trước quá xa.
Thơ anh linh hiển lạ kỳ:
chiều cuối năm ngồi trên tầng phố cũ
trời quê hương nhiều mây trắng sa mù
hai mươi tuổi những ngày nuôi mộng nhỏ
đã xanh rồi cây trái mọc suy tư
 
thân với máu xin thắp làm sương khói
giữa thời gian tìm vóc dáng con người
vùng tóc đó tháng ngày qua cỏ úa
lửa của trời thiêu đốt tuổi hai mươi
 
 (“Mùa xuân của một người”, trang 57)
4.
Cái chết của anh đã được anh tiên tri, và ứng nghiệm. Anh chọn tấm chiếu mà đắp phủ như  người dân VN trong trận đói năm Ất Dậu hay trong chiến tranh..
Cuối cùng, anh bỏ giấc mơ in tập thơ Vàng lạnh của anh.
Giờ đây, phần mộ đã yên ổn ở quê nhà anh, nhưng tập thơ thì không. Dù chỉ khoảng 70 trang.
Thật vậy, để kỷ niệm ngày giỗ thứ 43 (1944-2007) của nhà thơ xứ Quảng tài hoa bạc mệnh, anh em bằng hữu của anh dự trù xuất bản thi phẩm Vàng lạnh. Ở Hoa Kỳ, chúng tôi nhận xuất bản để  thân tặng thân hữu ở hải ngọai. Đồng thời thực hiện Thư quán Bản thảo số chủ đề Nguyễn Nho Sa Mạc. Nhưng trong nước, khi mang tập bản thảo Vàng lạnh đi kiểm duyệt, thì bị cơ quan hữu trách bỏ hẳn một bài. (1).  Một bài thơ của người học trò, chưa hề dính líu vào guồng máy!
Hương hồn người khuất có lẽ phải đau xót lắm khi phải đọc tập thơ của chính mình để trên bàn thờ bị cắt xén hay bị thay đổi! Có lẽ vì vậy mà người thân của nhà thơ đã quyết định sẽ không xuất bản, đợi một dịp khác thuận tiện hơn.
______
 (1) Xin được đăng lại bài thơ bị cắt bỏ:
Còn ở đó
còn ở đó màu da vàng thượng cổ
tổ tiên tôi từ sơ thủy vốn buồn
hai bàn tay đã đào sâu lòng đất
trồng muôn ngàn cây sây trái tình thương
với nước mắt đã ươm từng ngọn lúa
thêm mồ hôi thêm mạch sống quê hương
tôi đã thấy ngày Trường Sơn quằn quại
ôm cánh tay Việt Bắc khóc đau thương
còn ở đó lời phong dao tình ái
bốn nghìn năm lịch sử chảy trong hồn
đứa trẻ níu vành nôi kêu má má
hình ảnh nào hơn cảnh mẹ ru con
tôi khôn lớn nhìn nỗi buồn đất nước
một giòng sông biên giới hai loài người
nỗi đau đớn chất chồng cao bằng núi
ôi Sài Gòn – Hà Nội cháy trong tôi

Tản mạn của Trần Hoài Thư

 

Trong Sông Sương Mù, tác giã đã vẽ nên ba nhân vật, ba mẫu người khác nhau. Một là người lính ở bên kia sông, tức là VC. Hai là người lính bên này sông là quốc gia. Và một đứa bé gái tâm hồn còn non nớt, chưa đủ trí khôn để đặt câu hỏi về chiến tranh. Ba nhân vật đều xuất hiện trong lớp sương mù, có nghĩa là hình ảnh và hành động của họ cũng lờ mờ ở suốt cả truyện. Nhưng ở đoạn cuối, sông sương mù đã biến thành sông máu, và sự thật phô diễn dưới ánh mặt trời. Xác người đàn ông phơi thây bên bờ  sông vì bị giết khi ông ta tìm cách qua sông để đánh đồn hay để hướng dẫn pháo của phe ông rót vào khu vực. Ông không có chút gì cảm tính, nhân hậu, lòng thiện trừ sự lợi dụng – lợi dụng ngay cả con bé – khi hỏi quẹt diêm. Và kết quả, là căn nhà của bé Phượng bị trúng pháo, hai đứa em nó bị chết thảm.

Nếu ta dọc kỷ, ta sẽ thấy có một sự khác biệt giữa hai người khác chiến tuyến.Khác biệt ở tấm lòng nhân bản, từ tâm.
Truyện viết về một đứa bé gái tên là Phượng. Mỗi ngày nó phải ra bến sông để giặt quần áo cho các em. Dòng sông sương mù trắng ngần:

…Dòng sông yên tĩnh trắng ngần sương mù nhìn xa như một dải lụa. Những giọt sương còn rơi tóc tách thật nhỏ và êm đềm từ những ngọn lá cao xuống các tàu lá thấp. Bé Phượng bước xuống bến sông đặt nắm áo quần dơ trên một tảng đá, rồi khom mình đưa tay khoát nước. Nước lạnh quá làm nó rụt tay về, nhưng rồi lại nhúng xuống, lần này sâu hơn và nó mỉm cười nhìn theo sóng nước phía sau bàn tay di động…

Một ngày nó gặp một người đàn ông lạ. Ông ta đợi đò, và trong lúc chờ đợi, ông đốt thuốc. Nhưng hộp quẹt đã hết diêm. Bây giờ ông mới tìm đến con bé, nói như ra lệnh:

– Bác cần một que diêm.

(…)

Ngày hôm sau, con bé lại ra bến sông. Nó không quên mang theo hộp diêm cho người đàn ông lạ. “Trời vẫn như mọi hôm, đầy sương mù và dòng sông vẫn là dải lụa trắng bát ngát”.

Con bé buồn vì không thấy người đàn ông đã hỏi nó xin que diêm. “Trong sự yên tĩnh đang có của buổi sớm, bỗng con bé nghe tiếng đạn réo qua đầu rồi tiếp theo những tiếng nổ dữ dội chung quanh. Bé Phượng nằm ngay xuống một kẽ đá, cố thu mình thật nhỏ. Tảng đá còn ướt đẫm sương. Hơi lạnh từ đất tỏa lên thấm qua lớp vải áo làm nó run cầm cập.”

Sau khi tiếng súng thôi nổ, bây giờ mới xuất hiện người đàn ông thứ hai. Ông này là lính miền Nam. Ông nói:

– Thôi đừng giặt nữa cháu à…

Con bé hớt hải quay lại. Người lính bước xuống những bậc cấp bằng đá. Nó nhận ra người lính có vẻ quen thuộc, hình như là bạn của cha. Người lính nói:
– Giặt chiếu làm gì sớm thế ?
Con bé ngửa mặt lên nhìn người đàn ông:
– Mẹ cháu bảo nhà chỉ còn một chiếc mà tụi em đái dầm…
Người lính cười buồn:
– Thôi vứt chiếu đi, theo chú về nhà…
Con bé tần ngần mở to mắt nhìn người lính:
– Mẹ cháu dặn…
Người lính quay mặt đi:
– Chú biết rồi, nhưng bây giờ không cần thiết nữa.
Con bé hớt hải và nước mắt nó bắt đầu chảy nhanh xuống má.
– Nhưng còn các em cháu…
Người lính nói chậm rãi:
– Cháu dại quá. Cháu nhớ loạt đạn pháo kích vừa rồi chứ? Thôi về nhà chú đi…
Bé Phượng ngồi thụp xuống đưa hai bàn tay bưng mặt khóc thét lên. Trong khi người lính kéo thấp mũ lưỡi trai xuống và khịt khịt mũi.

Đấy, trái tim của người lính miền Nam là thế đó.

Ông ta mang từ tâm vô lượng đến với con bé bất hạnh. Ông đã mang nó về nhà ông trong lúc mẽ nó ở xa chưa về kịp. Ông đã giúp cho con bé nhìn lại giòng sông sương mù mà nó ưa thích:

Mỗi buổi chiều người lính thường dẫn con bé ra sông chơi, nhưng nó có vẻ thích đến đó vào buổi sáng hơn. Buổi sáng thì người lính dậy muộn, hơn nữa cũng không mấy khi anh được ở nhà ban đêm. Bé Phượng sau ngày hai em chết không có dịp để nhìn sông sương mù, không còn dịp để nhớ lại hình ảnh kẻ lạ mà nó gặp buổi sáng nào trên bến nước.

 ***

 Đó là lý do tại sao  bút hiệu LQ với toàn bộ ba tác phẩm  được xuất bản  trước 1975 (Cát Vàng, Sông Sương Mù, Những Cơn mưa mùa đông)  đã bị nhà nước liệt vào danh sách 56 tác giả có tác phẩm bị cấm chỉ lưu hành vì nội dung phản động trong đợt I  của chiến dịch truy diệt văn học miền Nam,  được nhật báo Sài gòn giải phóng “ưu ái” đăng vào ngày 1-11-1975:

lq-2

IMG_0209

(chụp lại từ microfilm báo Saigon Giải phóng ngày 1-11-1975. Tư liệu của tạp chí Thư Quán Bản Thảo)

 

______

 

 

(1) trích từ Sông Sương Mù, Tập truyện (NXB Ý Thức, Sài Gòn 1973

Ngày cuối cùng trước buổi hội luận “Chiến tranh Vietnam và hậu quả xã hội” tại Đại Học Massachusetts, tôi đã ngõ ý với La Ronda, người nữ đồng nghiệp, dành cho tôi nửa tiếng đồng hồ. Tôi kể đến buổi hội luận mà tôi sắp  sửa có mặt và tầm mức quan trọng của cuộc thuyết trình.. Về phía những người đến từ trong nước,  họ đã có sẵn thông dịch viên. Còn chúng tôi phải tự một mình xoay sở bằng môi miệng mình nhưng ngôn ngữ người. Đây là một danh dự, không phải cho riêng cá nhân tôi, mà cho một tập thể.

 

La Ronda đồng ý. Cô viết tờ giấy với hàng chữ : “Room in conference, don’t bother” và dán ngoài cửa phòng. Sau đó cô ngồi đối diện, nghiêm trang như một cô giáo. Trên bàn là sổ tay, và cô cầm cây viết chì, sẵn sàng ghi note. Trong kinh nghiệm nghề nghiệp tôi là người đi trước cô, nhưng bây giờ tôi là học trò của cô. Thú thật, tôi đã từng nhiều lần đứng thuyết trình và đã từng trải qua khoá học về kỹ thuật thuyết trình, nhưng chưa bao giờ tôi lại lo âu như lần này. Tôi nhìn chăm vào cô và nghĩ là đang nói trước một cử toạ đông đảo. Tôi đọc chậm và rõ. Cô không nói, chỉ note trên trang giấy. Cuối cùng sau tám phút đọc, tôi ngước nhìn cô. Tôi thấy đôi mắt cô đỏ và long lanh nước mắt. Cô khóc. Cô nói so wonderful. So wonderful… Sau đó, cô đã chỉ tôi vài chỗ cần thiết để nhấn giọng hay ngừng lại. Cô đã làm cho tôi tự tin hơn bao giờ.  Dù vậy tôi cũng không thể đo lường được con tim của cô. Có lẽ cô nói để khuyến khích tôi, giúp cho tôi tự tin hơn hoặc vì phép lịch sự giữa những người đồng nghiệp với nhau.

                                    oOo

 

Ba giờ rưỡi sáng, tôi lên xe rời thị trấn. Phải mất 5 tiếng đồng hồ lái xe mới lên Boston. Những người trên ấy muốn tôi lên càng sớm càng tốt để gặp nhau chuẩn bị. Trời đầy sương. Đôi mắt ráo khô, thần kinh căng thẳng. Tôi kéo cửa kính xe xuống. Gió sớm mơn man. Chỉ những cột đèn bầu bạn. Chỉ có thành phố ngái ngũ. Chỉ có con đường xa lộ dài hun hút, và những mảng đèn pha mờ nhạt trong sương.

 

Vâng, thì lên đường. Ngày xưa, tôi có những chuyến đi về sáng như thế. Nhảy vào mật khu, tiếp viện hay tăng phái cho một chiến trường. Nhưng ngày xưa, bên tôi là đồng đội, là súng đạn, là những dắt dìu, bảo bọc nhau… Ngày xưa, nửa đêm kẻng dục quân ra trận. Kinh động cả lòng đêm tối bưng. Nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy. Không buồn chỉ một chút bâng khuâng.(thơ THT) Ngày xưa, và bây giờ có khác gì đâu. Bởi vì từ lâu nay, cái nơi ấy vẫn được xem là nơi bất khả xâm phạm, không một nhà văn nhà thơ Việt Nam hải ngoại nào được quyền nói lên tiếng nói. Bởi vì nói đến văn chương chiến tranh, người Mỹ chỉ biết đến những cuốn sách của Bảo Ninh, Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Thu Bồn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Dương Thu Hương, Nguyễn Quang Sáng. Không ai biết giòng văn chương miền Nam thời chiến qua 35 năm lâm chiến… Chẳng ai cần biết một kho tàng sách báo bị đốt hủy. Chẳng ai biết một nền văn học lẫy lừng hừng hực lửa, trái phá đã bị bức tử. Nơi này chỉ dành một Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Nguyễn Quang Sáng, đã một lần đến đãy, rồi trở về nước viết bài chửi rủa mạt sát những người văn nghệ sĩ hải ngoại không chừa một mống.
Chẳng ai cần thắc mắc về sự thật của những cây viết mà họ xem là trung thật về chiến tranh như Bảo Ninh khi tả cảnh toán thám báo đột nhập mật khu bắt ba chị nuôi hãm hiếp rồi trấn nước, trong khi vai trò của thám báo chỉ săn tin, phối kiểm tin tức tình bào, phải tự mình bảo vệ lấy mình giữa lòng địch. Chẳng ai cần thắc mắc một Ngụy Ngữ, nhà văn một thời mang bộ đồng phục miền Nam, được miền Nam ưu đãi, không đi tác chiến một ngày lại bôi nhọ chửi rũa lính miền Nam gọi thương phế binh miền Nam là bọn què quặt, kể lính rằn ri mỗi lần về phố là quan xá đóng cửa cài then, nhục mạ thậm tê người đã chết là cố đại úy Nguyễn văn Đương là tên sĩ quan dù.. ngay trên những số báo Vấn Đề do Vũ Khắc Khoan và Mai Thảo chủ trương…
Vâng, họ đã bị lừa bịp bởi những nhà văn thiếu tư cách mà họ không hề biết.

 

 

Tôi đã dừng tạm ở một Trạm Nghỉ. Quá mệt, và quá buồn ngủ.. Trời đã sáng. Tôi lên đồi cây. Đứng yên. Trong nỗi cô liêu hiu quạnh, với những hàng thông, hàng sồi san sát, với màn sương còn che khuất những dãy núi bên kia đường, tôi lại liên tưởng đến bạn bè đồng đội của mình. Những thân cây che chở mạng người.  Những hòn đá câm. Và mây trắng như ngày xưa chứng kiến những con ngựa chiến chinh bay về trời. Mười mấy năm chiến tranh đã hàng hàng lớp lớp những con ngựa bay về trời như thế. Tức tửi.                      

                                  oOo

 

Xin được đi lại một đoạn  của bài tôi thuyết trình:
 

“Quí vị hỏi tôi viết gì. Trước năm 1975, tôi viết về cuộc chiến tranh, trong đó tôi và thế hệ của tôi đã lao vào, đã chiến đấu, đã bảo vệ cho quê hương tôi. Tôi viết bằng ngay cả máu lệ của chính bản thân mình. Có những bài văn tôi viết trong hầm phòng thủ. Có bài tôi viết khi bằng cảm giác hơn là lý trí. Đó là lúc tôi trùm poncho, trùm cả chiếc mền, bật đèn pin và viết trong giờ chờ giặc. Khi ấy, cảm giác đã đẩy ngòi bút, và hơi thở của tôi điều khiển tôi. Có bài tôi viết khi nằm trong bệnh viện, giữa những tiếng rên la quằn quại của những người lính thuộc đại đội tôi. Tôi đã hiểu thế nào là tiếng nổ của trái phá, và sự khủng khiếp của nó là như thế nào. Tôi muốn dùng những kinh nghiệm có thật của mình để nói về một cuộc chiến quá dài, quá kỳ lạ, tàn bạo hơn bất cứ cuộc chiến nào trên thế giới mà khí giới được nhập từ Nga Sô Trung Cộng và Hoa Kỳ. Nhưng trong tiếng gào thét của chiến tranh ấy, giữa những trang đầy máu của hai phe, và thêm những xác của trẻ con vô tội, tôi cũng viết về những điều hết sức kỳ diệu mà tôi đã gặp trong chiến tranh. Đó là lòng từ tâm của người lính VNCH. Điều ấy tôi đã được thấy khi sau khi một trận đánh kết thúc. Đó là lúc vai trò người lính của tôi không còn nữa mà nhường lại là vai trò của người viết văn. Tôi đã thấy lính tôi mời tù binh những điếu thuốc hay dìu họ lên trực thăng để tải về quân y viện. Tôi đã thấy trong bệnh xá những người thương binh Nam và Bắc ngồi lại nhau để chơi cờ, đàn hát cho nhau nghe những bài tình ca. Tôi đã hiểu là dân tộc tôi quá hiền từ thời đại này qua thời đại khác. Từ đó tôi tin rằng ai cũng có con tim. Rồi sẽ có một ngày người Nam kẻ Bắc sẽ bỏ hết hận thù sẽ quên đi quá khứ, bởi vì tuổi trẻ chúng tôi chỉ là những nạn nhân từ các thế lực chủ nghĩa. Một ngày nào, chúng tôi sẽ vùng dậy, sẽ lột mặt những tay đồ tể chiến tranh, sẽ nối lại vòng tay như qua bài hát cuả Trịnh Công Sơn: Từ Bắc vô Nam nối liền cánh tay. Nhưng giấc mơ của một người viết văn ấy đã bị tan vỡ sau 1975. Bởi vì tôi đã nhận ra rằng cái hậu quả của chiến tranh đã không ngừng lại ở đây, để đồng bào tôi, bạn bè con cháu tôi được sống an ổn trong những ngày hoà bình còn lại. Mà trái lại, đồng bào tôi lại trở thành một nạn nhân của hậu quả khác. Hậu quả từ những trái tim được nuôi dưỡng bằng một thứ chủ nghĩa chỉ được xây dựng bằng căm hờn và bạo lực. Đó là chủ nghĩa Cộng Sản.

Thưa quí vị,

Tôi có thật nhiều điều để muốn tỏ bày cùng quí vị về một nỗi đau khổ khủng khiếp của một người viết văn. Đó là lúc anh ta muốn viết mà không dám viết, muốn nói mà không được nói. Quí vị được may mắn là có thể viết tất cả những gì mà quí vị muốn, trình bày tất cả nỗi buồn vui của quí vị cùng độc giả. Nhưng có một nơi, văn chương được xem là một tai họa. Người ta đã tìm mọi cách để tận diệt văn chương. Bằng chứng, riêng cá nhân tôi, đây là những đứa con tinh thần của tôi, không phải tôi mang từ quê hương tôi qua, mà tôi đã thu thập chúng từ một thư viện của đại học Cornell Hoa Kỳ. Chúng vẫn còn sống sót cũng như bản thân tôi vẫn còn sống sót sau một cuộc chiến, sau những năm tháng tù tội.  Vâng tôi là kẻ được may mắn được thoát khỏi cõi im lặng khủng khiếp ấy. Nhưng còn biết bao nhiêu người viết văn làm thơ khác của miền Nam với biết bao công trình văn chương đồ sộ của thời chiến tranh. Họ đã mất tiếng nói. Họ đã bị quên lãng bởi loài người. Họ không được nhắc nhở.  Bằng chứng là hôm nay, quí vị không thấy họ mà chỉ thấy những người viết văn làm thơ trong hàng ngũ thắng trận. Như vậy đâu là công bằng, đâu là tiếng nói trung thật của văn chương, nhất là nền văn chương về chiến tranh VN?

 

                               oOo

 

Khi chúng tôi chuẩn bị ra về, thì một người đàn bà bản xứ đã tiến đến bên tôi. Trên tay bà vẫn còn cầm cuốn sổ tay ghi những note. Bà ngước nhìn tôi. Và tôi bỗng thấy lại đôi mắt của La Ronda. Cũng đỏ hoe. Cũng ngấn lệ. Bà cám ơn tôi. Một tay bà đưa ra và siết chặt lấy bàn tay tôi. Bây giờ tôi mới hiểu rằng La Ronda không phải nói để lấy lòng tôi như phép lịch sự của những người đồng nghiệp với nhau.

 

pg-001pg-002

 

Tủ sách Di sản văn chương miền Nam bắt đầu thực hiện dự án lớn: Gom toàn bộ 33 tập Văn Hóa Nguyệt san in lại theo phương pháp Perfect binding và Desktop Publishing.
Đây là một tạp chí có tầm vóc lớn,  được nhắc nhở nhiều bởi những bài vởi sưu khảo, biên khảo, khảo luận rất công phu. Tìm một bài thơ của Thanh Tâm Tuyền hay một bài văn của Dương Nghiễm Mậu rất dễ, nhưng tìm một công trình văn học của Nguyễn Thế Anh, Trần Cửu Chấn, Nguyễn Đăng Thục, Đông Hồ, Nguyễn Khắc Hoạch, hay Thích Thiên Ân…rất khó. Bởi vì rất khó, nên có kẻ đã chôm luôn cả bài  của Thích Thiên Ân  về Nguyễn Du copy 98% để trình luận án củ nhân Phật học, để được hạng ra trường tối danh dự ! (Việc này chúng tôi đã nêu từ lâu, nhưng xem mòi vô ích, thư viện Quảng Đức vẫn không thèm gỡ !)
Vì điều kiện và hoàn cảnh quá sức khắc nghiệt của bản thân, nên không biết dự án này có thể thực hiện nổi không, tuy nhiên, còn sức là còn lên đường !

Tạm thời, chúng tôi đã hoàn thành hai tập, mỗi tập dày 350 trang.

ml-5-1ml-5-2


%d bloggers like this: