Category Archives: nhận định văn chương thời chiến

Mai Thảo viết về 15 năm (1):Vài nét điển hình của văn chương tùy hứng 

Lời chủ Blog:

Trong lúc sưu tập các tạp chí văn học miền Nam, tôi nhận ra một điều đặc biệt. Đó là việc nhà văn Mai Thảo viết nhiều về 15 năm từ tản mạn, tùy bút, đến nhận định văn học.
Trước hết là bài nhận định  “Vài nét điển hình của văn chương tùy hứng”  đăng trên nguyệt san Vấn Đề số 11 tháng 5-68 về văn học miền Nam sau 15 năm. Bài thứ hai là bài tùy bút “Mười lăm năm” đăng trên tuần báo Khởi Hành số 8 năm 1969.

Chúng tôi lần lượt post ra đây các bài viết của nhà văn Mai Thảo.

p-107p-109p-111p-113p-115p-117p-119

 

 

Ý Thức: Tạp chí mang chuông từ tỉnh về đánh Saigon.

 

Ý Thức : giai  đoạn đầu tiên

 

 

Thế hệ chiến tranh là thế hệ của những người sinh ra, lớn lên trong khói lửa binh đao. Một thế hệ được tâng bốc lên tận mây xanh: Nào là “thanh niên là rường cột của nước nhà”… nào là “ nơi nào khó, có thanh niên…” nhưng ngược lại họ không có thẩm quyền  được nói trừ thẩm quyền được “hy sinh vì tổ quốc” hay được trở thành ” anh hùng”, “liệt sĩ.”.

Chính vì muốn gióng lên tiếng nói ấy mà  nhiều  tạp chí cũa những người trẻ ra đời. Kiểm điểm lại, trên giòng sinh hoạt văn học VN, có lẽ không có thời nào mà lưu lượng văn chương lại tràn trề phù sa chữ nghĩa như thời miền Nam trong giai đọan cuối những năm 60 và đầu những năm 70.Những tạp chí, những đặc san, những tác phẩm, chẳng những có mặt ở Saigon mà còn hiện diện ở khắp nơi, khắp chốn, từ một thành phố đông dân như Nhatrang, đến một thị trấn ít người như An Nhơn Bình Định. Những Khai Phá (Châu Đốc,1970-1971), Biểu Tượng (Vĩnh Long, 1968), Tập Thể (Vĩnh Long, 1973), Hoài Vọng ( Phan Rang, 1968-1969), Sóng (Tuy Hòa,  1965), Dựng Đất (Nha Trang) , Vỡ Đất (An Nhơn – Bình Định), Nhìn Mặt (Bình Định), Việt (Huế) , Ngưỡng Cửa (Quảng Nam), Trước Mặt (Quảng Ngãi), Nguồn (Cần Thơ), Vượt Thoát (Cần Thơ)v.v….. đã nói lên một nét đặc biệt trong nền văn học miền Nam thời chiến..

Tiếng nói ấy cất lên từ  những tỉnh lẽ ấy, chắc Saigon không hề nghe. Bởi nó chỉ giới hạn trong một phạm vi nhỏ. Nó không thể bay xa như ở Saigon, nhờ hệ thống phát hành hay có thể nhờ  qua quảng cáo…
Vây mà những người trẻ  ấy vẫn ra báo. Ra báo để có dịp viết. Không cần biết bài viết của mình có đến với người mình muốn gởi hay không. Như lá thư của Nguyễn Bắc Sơn trên tạp chí Sóng ở Tuy Hòa gởi Thiền sư Thích Nhất Hạnh, như sau:

” Khi anh chưa biết ” Sống để làm gì”, anh không thể khuyên bảo người khác nên sống như thế này hay nên sống như thế kia, nên tranh đấu cho lý tưởng này hay tranh đấu cho lý tưởng kia.

Các bậc đàn anh tôi kể tên (Kim Định, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn) giống như những kẻ chỉ đường sốt sắng trong câu chuyện sau đây:

Có một người khách lạ đi ngang qua một thị trấn. Trong thị trấn ấy có ba người sốt sắng. Ba anh chàng này chặn ông khách lại. Anh chàng thứ nhất bảo ông khách : “anh nên đi đường này”, trong khi anh chàng thứ hai bảo: ” không, đi đường kia mới đúng:. Nhưng anh chàng thứ ba lại bảo con đường anh ta chỉ cho ông khách mới thật là “con đường đúng nhất”. Ba người thi nhau vẽ bản đồ tỉ mỉ trình bày con đường mình đề nghị cho đến khi ông khách chậm rãi hỏi: ” Các anh có biết tôi định đi đến đâu không mà các anh sốt sắng chỉ đường thế ?”
(Thư Nguyễn Bắc Sơn gởi Nhất Hạnh, tạp chí Sóng, năm 1972, trang 38-39)

Và chắc chắn cũng có rất nhiều người khác nữa như Nguyễn Bắc Sơn. Họ cần gióng lên tiếng nói. Họ không thể nhờ Saigon để giúp tiếng nói ấy được cất lên. Và vì không thể nhờ nên họ ra báo. Vậy thôi.

:

bia Y thuc -3

 

 

Ý Thức là một trong số lượng  đông đảo  tạp chí ấy.

Người đầu tàu Ý Thức – nhà văn Nguyên Minh – kể lại việc in ấn  những số Ý Thức  đầu tiên ở Phan Rang nhu sau:

… Khi báo còn mang tên Gió Mai, số Xuân 67, bài vở của anh em Ngy Hữu đánh máy chữ trên tờ stencil bằng máy đánh chữ xách tay của nhà trường mà Ngy Hữu làm hiệu trưởng, và tôi nghĩ ra cách in rô-nê-ô không cần máy quay, chỉ cần một quai guốc nylon kẹp giữa hai miếng gỗ, đổ mực đen lên thẳng tờ stencil, phía dưới là tờ giấy trắng, rồi kéo mực xuống, thế là có một trang in. Bằng cách thủ công đó chúng tôi đã in xong một tập san văn nghệ dày cả 100 trang, số lượng 100 cuốn. Chữ nghĩa rõ ràng không lem nhem như một số báo thời đó in rônêô, phổ biến hạn che, thỉnh thoảng xuất hiện trong vài nhà sách.

 Rõ ràng là lối đánh giặc  theo kiểu nhà nghèo. Mấy mươi năm sau, tôi cũng bắt chước Nguyên Minh để thực hiện tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Người ta nhìn vào những dụng cụ hay những phương pháp chúng tôi thực hiện, chắc họ sẽ phải phán: Nhà in thổ tả ! Vâng, thổ tả thật, bởi vì chúng chẳng phải là những máy móc hiện đại,  nhưng chính chúng đã góp phần vào một sự thành tựu là Ý Thức cũng như Thư Quán Bản Thảo càng ngày càng lớn mạnh càng bền vững.

Sự thành công nhất của Ý Thức là việc xuất bản tập truyện “Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang” của Trần Hoài Thư  qua hình thức Roeno. Vì là sự thành công quá lớn, sách bán sạch, nên anh em Ý Thức quá vui. Và cũng vì quá vui , nên họ rũ nhau hội tụ tại Phan Rang. Đây là một cuộc hội tụ đáng ghi nhớ trong sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam. Bởi nó dẫn đến việc làm tờ Ý Thức ở Saigon, không còn ở tỉnh lẻ nữa. Nó chính là một sự nhập cuộc tích cực của tuổi trẻ.Giống như cuộc họp  của khoảng 50 sinh viên Y Khoa tại Giảng đường đại học Y Khoa Sài Gòn vào cuối năm 1963 để quyết định thực hiện nguyệt san Tình Thương (Muốn biết rõ hơn mời đọc chương về nguyệt san Tình Thương).
Cuộc họp mặt của anh em Ý Thức  được nhà thơ Võ Tấn Khanh ghi lại như sau:
“… Đến số 6, Ý Thức in khổ nhỏ, xếp thành từng cahier và đóng chỉ, thành công. Nguyên Minh lại làm một bước đột phá mới: xuất bản tập truyện ngắn “Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang” của Trần Hoài Thư, bằng kỹ thuật Ronéo, cũng nhờ anh em thân hữu phát hành và bán chạy. Ước mơ ôm ấp một đời lúc này đã có được những đợt quả đầu mùa vừa ý. Một cuộc họp mặt rộng rãi tại nhà Nguyên Minh. Lúc này có thêm Lê Ký Thương, lo phần trình bày và Nguyễn Mậu Hưng mới đổi về bệnh viện Phan Rang công tác. Châu Văn Thuận và Lữ Quỳnh từ Qui Nhơn vào, có cả Nguyễn Mộng Giác; Lữ Kiều và Trần Hữu Lục từ Đà Lạt xuống… Lần gặp mặt tương đối đông đủ nhất kể từ khi có tờ báo. Hưng phấn, anh em bàn chuyện xa hơn: Ra Ý Thức in Typo hợp pháp, phát hành rộng rãi và đặt cơ sở ngay tại Sài Gòn. ..”

Đấy, sự  ra đời của Ý Thức đầu tiên  là như thế. Từ những ngọn lửa cháy sáng trong lòng của những chàng trẻ tuổi đam mê văn chương – không phải xem văn chương là chất nổ hay ngòi bút là một sư đoàn, mà sợi dây mầu nhiệm có thể buộc kết những con người lại, hóa giải những nghi kỵ, hận thù, những tranh chấp về ý thức hệ, như những giòng chữ xuất hiện trên bìa Ý Thức số 1 phát hành vào năm 1970  tại Sài Gòn:
bia Y thuc -5

“Phải dành cho văn học nghệ thuật một chỗ đứng, một vị trí vượt lên trên những tranh chấp chính trị giai đoạn. Chỗ đứng ở ngay trong tập thể quần chúng, hòa mình với tình tự chung để vận động trở thành sức mạnh văn hóa nuôi dưỡng truyền thống Việt Nam trước đe dọa từ mọi phía.”

 

 

Ý Thức mang chuông đi đánh Saigon

Nhà văn Lê Ký Thương  – kể lại những ngày đầu của Ý Thức ở Sài Gòn như sau :

bia Y thuc -1

“…Hè năm 1970. Nguyên Minh đã từ giã nghề “gõ đầu trẻ”, quyết tâm vào Sài Gòn để làm báo. Anh lo thủ tục xin giấy phép chính thức ra tờ bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức. Anh nhờ dược sĩ Nguyễn Thị Yến, bạn anh, quê ở Phan Rang, đứng tên chủ nhiệm, chị Nguyễn Thị Dung (vợ Hồ Thanh Ngạn) quản lý, anh là Tổng Thư Ký Tòa soạn. Những thành viên nòng cốt trong nhóm đồng ý góp mỗi người 5.000 đồng (theo thời giá 1970) để làm vốn ban đầu cho tờ báo. Giấy phép có. Vào thời điểm này, tôi có mặt ở Sài Gòn để cùng anh lo in áp-phích quảng cáo và tìm nhà in in báo. Qua bạn bè giới thiệu, tờ áp phích được in ở một nhà in nằm trên đường Nguyễn Thông mà chủ nhân là một nhà thơ. Còn báo, sau khi tìm hiểu nhiều nhà in, cuối cùng anh em quyết định in ở nhà in Đăng Quang trên đường Phan Thanh Giản, gần ngã bảy. Nhà in này chuyên in sách của nhà xuất bản An Tiêm, có tiếng in đẹp lúc bấy giờ. Tôi phụ Nguyên Minh trình bày bìa, làm ma-két tờ bán nguyệt san Ý Thức số 1 rồi phải về lại Phan Rang. Những số đầu chỉ một mình Nguyên Minh lo toan mọi việc, sau này có thêm anh Thái Ngọc San giúp một thời gian ngắn…”

Nhà văn Lê Ký Thương  cũng cho biết thêm về lý do  tại sao Ý Thức có nhà in riêng:

“Lúc bấy giờ, nhà in Thanh Bình đã hình thành, chỉ cách nhà in Đăng Quang khoảng 100 mét, chủ nhân chẳng ai khác là chị đầu của Nguyên Minh – chị Mai. Chị Mận, chị kế của Minh cũng đưa gia đình từ Phan Rang chuyển vào Sài Gòn sinh sống, làm thư ký kiêm kế toán nhà in. Nguyên Minh được chị Mai giao công việc quản lý. Ý Thức may mắn được “in nhà in nhà”, từ in ty-pô chuyển sang in offset.”

(Lê Ký Thương: Tưởng trong “giây phút” mà thành “thiên thu”, Thư Quán Bản Thảo số 33)

Những khó khăn đầu tiên

 

Với một kẻ không có kinh nghiệm gì về việc in ấn, nay bị đẩy đưa đến một nhà in hiện đại với những dàn máy in tối tân, thì quả là khó khăn ghê gớm lắm. Vậy mà đèo thêm việc làm báo : nào là đọc bài, tuyển bài, làm thầy cò, rồi phát hành báo… Rồi phải chạm trán với những kẻ có tâm dịa xấu, lòng rắn rít  trong giới làm văn học nghệ thuật ở Sài Gòn, luôn luôn tìm cách hạ bảng hiệu Ý Thức xuống. Làm sao mà gánh  cho hết ?
Ngay cả nhà thơ Viên Linh cũng phải gặp trở ngại khi ông bắt đầu thực hiện tờ Thời Tập của ông:

Một tháng trước khi Thời Tập ra mặt, tôi đi thu bài những người có liên lạc trước. Ba trong năm người đó ngạc nhiên hỏi lại tôi: Báo anh ra thế nào được mà lấy bài. Một nhà văn tên tuổi lớn đã cả quyết tuyên bố như thế trước nhiều đồng nghiệp. Sau này tôi hỏi lại nhiều người và được xác nhận  anh X có nói như thế.

… Một người khác cũng là đồng nghiệp của tôi đã tới tận nhà tổng phát hành tuyên bố rằng nếu Thời Tập sống được, anh sẽ giải nghệ”…

  (Xin vui lòng đọc chương viết về tạp chí Thời Tập)
Ngay cả một người làm báo văn học nghệ thuật   lão luyện và thành công  như  nhà thơ Viên Linh cũng phải cay đắng để nói về sự thật phủ phàng này  khi ông làm tờ Thời Tập, huống hồ là một là gã nguyên gốc thầy giáo trường tỉnh  mới về Saigon chân ướt chân ráo ! Nhưng gã đã dám làm.  May mắn bên cạnh gã vẫn có một số bạn chân tình. Họ đến với Ý Thức bằng tất cả sự say đắm nhất. Từ việc làm thầy cò, đến việc chở báo đi phát hành. Những tạp chí cùng thời như Văn, Văn Học hay Khởi Hành v..v… làm gì có cái cảnh những người ở xa. về phép thay vì tận hưởng những ngày ở Saigon, lại có mặt ở tòa soạn để tiếp trợ Nguyên Minh trong việc sửa morrase… Vui lắm các bạn ạ. Thỉnh thoảng lại bắt gặp chi Mai, chị Mận từ trên lầu xuống, thấy  gương mặt hai chị ánh lên niềm vui sáng loáng… mới hiểu lý do tại sao chị Mai – chủ nhà in này lại để cho Nguyên Minh lấy cả phần trước tầng dưới của căn lầu 666 phan Thanh Giản làm tòa soạn và không phiền hà gì với một số đông bạn bè coi Ý Thức là mái nhà để tìm đến.

 

Ý Thức và sự quay mặt của một số “đàn anh”.

 

 bia Y thuc -2

Nhà thơ Viên Linh nói rõ về cái chướng ngại này :

Chính những người nhiều tuổi nghề nhất lại là những người bi quan chủ bại nhất. Và chính đó là những người – trên một khía cạnh nào đó – đã góp sự có mặt của họ trong số những kẻ đã vô tình cản đường anh em cầm bút trẻ tuổi”.

 Tôi không rõ nhà thơ Viên Linh nhắc đến ai  và Ý Thức có gặp trường hợp này hay không, nhưng qua 24 số Ý Thức, tôi chưa hề thấy một tên tuổi đàn anh nào có mặt. Không Võ Phiến. Không Mai Thảo. Không Viên Linh. Không Dương Nghiễm Mậu. Không Vũ Khắc Khoan. Không Bình Nguyên Lộc. Không Mặc Đổ. Chỉ có Bùi Giáng lẽ loi.

Riêng nhà văn Võ Phiến thì xem Ý Thức là tạp chí “làm dáng”.

Trong Văn Học Tổng Quan, nhà văn Võ Phiến đã liệt Ý Thức là tạp chí “làm dáng” như tờ Vấn Đề :
“Làm cách mạng bằng lý luận, bằng kịch, bằng tiểu thuyết mãi không xong; nản lòng, xoay ra làm dáng. Sau Vấn Đề, rồi tờ Ý Thức (số 1, năm 1970) cũng từa tựa như vậy.” (Võ Phiến – Văn học tổng quan)
Ghi ra đây không phải tôi muốn ám chỉ  những người đàn anh của tôi mà luôn luôn tôi kính trọng, nhưng để nói về nỗi khó khăn vô bờ của tờ Ý Thức: Từ việc in ấn, phát hành, đến sự quay mặt của lớp đàn anh. Vậy mà Ý Thức vẫn tiếp tục  ra đời mỗi nửa tháng, số người đến với Ý Thức càng đông. Nhà tổng phát hành Đồng Nai dành quyền phát hành 5000 cuốn cho mỗi kỳ Ý Thức phát hành. Rồi  Ý Thức lập nhà xuất bản tiếng Việt, rồi cùng với ông Trần Quang Huề  lập nhà phát hành riêng Hàm Thụ…

Làm sao tìm được trong thế giới sinh hoạt văn học nghệ thuật có cảnh như thế này:

Cũng không bao giờ tôi quên được những chuyên phát hành trực tiếp bằng Honda ra Nha Trang, lên Đà Lạt. Tôi chở Minh, Hữu chở báo, khua môi múa lưỡi ở các quán café văn nghệ, các sạp báo, nhà sách… và có thêm những người bạn văn chí nghĩa chí tình. Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Sài Gòn đã có anh em trong nhóm lo phân phối, và, điều lạ nhất đời là nhận báo, chưa bán, phải lo chạy tiền gửi về trước để “tụi nó” “ở nhà” tiếp tục ra các số sau.”

hay

(…)Tôi không quên cái dáng người thấp nhỏ, rất nghệ sĩ của nhà thơ Hạc Thành Hoa, từ Sa Đéc về mang báo đi phát hành; anh lính người Nam bộ chơn chất Lê Hồng Thuyên với kiện báo trên vai, lửng thửng dọc đường Phan Thanh Giản chờ xe đò về Long An… và còn bao nhiêu người khác nữa. Cái tình chúng tôi đãi anh em, được đáp lại bằng những tấm lòng.

(Võ Tấn Khanh – Những khuôn mặt tình. TQBT số 33)

Vậy mà tạp chí lại chết,  chết giữa lúc Ý Thức như một trái sáng làm lóa cả bầu trời văn học nghệ thuật miền Nam trong thời chiến:

“Như chiếc ghế bốn chân, vững vàng không ngã. Dây chuyền đã khép kín. Trong tay đã có nhà in, nhà xuất bản, tạp chí Y Thức và nhà phát hành, chúng tôi mới yên tâm, chuẩn bị cho ra tờ tạp chí Ý Thức bộ mới, và in các tác phẩm của anh em trong và ngoài nhóm.
Nhưng người tính không bằng trời tính. Mọi việc đều tan tành theo mây khói…  “

(Nguyên Minh. Ý Thức : Đời sống của tôi, TQBT số 33)

Ý Thức chết. Vì sao ?

 

bia Y thuc -4

Cái chết của Ý Thức đã làm kinh ngạc trong hàng ngũ anh em cầm bút trẻ bấy giờ. Không ai có thể tin điều này xãy ra, khi Ý Thức đã vượt qua tất cả những khó khăn trở ngại ban đầu để có bước những bước vững vàng trên con đường văn học nghệ thuật.
Theo nhà thơ Võ Tấn Khanh:
…”Tình hình chung lúc này sôi động mà đỉnh cao là mùa hè Đỏ lửa. Nguyên Minh, vì tình chị em với chị Mai, phải gánh thêm việc trông coi nhà in. Anh em do tình thế, ít về Saigon, Ý Thức bắt đầu có những số không đúng định kỳ. Để khỏi ân hận với chính mình và nhất là khỏi phụ lòng anh em, Nguyên Minh quyết định tạm đình bản.”

 

Theo Lữ Quỳnh:

Vi những thành viên trụ cột không thể hội tụ một nơi để tập trung  chăm sóc tờ tạp chí, nên Bán nguyệt san Ý Thức qua năm thứ hai có phần chệch hướng, không còn là tờ báo vốn có tiếng dấn thân tích cực, chống lại thứ văn nghệ salon, viễn mơ tràn ngập lúc bấy giờ. Thư ký tòa soạn và trị sự không thể kham nổi bài vở và điều hành nhân sự. Bán nguyệt san Ý Thức số 24 phát hành xong thì đình bản. ( sau hơn hai năm góp mặt với các tạp chí văn học ở Thủ đô ).

(Lữ Quỳnh: Những kỷ niệm về một thời Ý Thức. TQBT số 33)
Còn nhà văn Nguyên Minh  thì không nói tại ao. Chỉ là một giòng nhưng quá sức chua chát và xót xa:

Nhưng người tính không bằng trời tính. Mọi việc đều tan tành theo mây khói…

Không xót xa  chua chát đâu, bạn ta.  Đối với tôi, 24 số báo ý Thức cũng đủ  để nói lên một hiện tượng độc nhất vô nhị trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam rồi.  Nó chứng tỏ rằng,  dù là tiếng chuông ở tình lẻ đi nữa, nhưng nó có thể làm rúng động cả Saigon

Nó không phải vì lịch sử  văn học miền Nam buôc nó  nhưng nó  buôc vào lịch sử. Có phải không bạn ta ?

Một thoáng thơ tình thời chinh chiến điêu linh

Cao Thoai Chau

Cao Thoại Châu

(cựu lính và GS/THPT Kontum)

22489909_859500550877624_6615690875206802621_n

Thời yên ổn ở miền Nam trong vùng VNCH không dài lắm. Đến khoảng 1963 chính quyền VNCH đã có lệnh tổng động viên. Nhiều lớp thanh niên sinh viên phải gọi vào lính, trong đó không thiếu những nhà thơ tuổi đời còn trẻ. Bắt đầu xuất hiện rầm rộ một dòng thơ tình thời chiến. Sống động, nóng bỏng, không hùng tráng mà nhiều bi tráng nhưng rất chân thật, viết tự lòng mình .
“Tặng cho em trái lựu đạn cay
Hạch nước mắt của thời đại mới
Tặng cho em cuộc chiến tranh đang tàn
Trên quê hương của bao nhiêu bà mẹ
Nơi đồng bào ta ăn bom đạn thay cơm
Nơi vải xô không đủ để chít đầu con trẻ”

(Trần Dạ Từ).

Lần đầu tiên những thứ dùng để hạ sát được nhà thơ mang làm tặng vật như tặng cho nhau một tâm trạng thừa mứa những vô vọng nghịch lý của một thời. Bài thơ này dường như thay lời muốn nói cho cảm quan nghệ thuật trước cuộc sống bị đắp bờ bao của phẫn nộ. “Tặng vật tỏ tình” không ít người có thời đã coi như bài thơ viết cho mình, thậm chí “ứng” vào mình.
Bài mà tôi thích nhất là bài thơ của Trần Hoài Thư, anh bạn bị động viên cùng khóa với tôi, bởi nó nói những gì có thật, sự thật cay đắng làm sao!:
“Xin cô hàng thêm một két bia 
Hôm nay lãnh lương tôi dành đãi hết 
Cô hàng ơi, một mai tôi chết 
Ai tiêu dùm, ba tháng tiền lương 

Hôm qua tôi dừng chợ Bồng Sơn 
Mẹ thằng bạn ôm tôi mà khóc 
Tôi nói làm sao qua giòng nước mắt 
Thị trấn này vừa mất thằng con 

Cô hàng ơi cho một ly không 
Tôi rót mời một người lính Bắc 
Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật 
Trên người vẫn còn sót lại bài thơ 

Trên đồi cao, mây vẫn xanh lơ 
Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng 
Tôi với hắn, đâu có gì thống hận 
Bài thơ nào cũng viết để yêu em 

Khi tôi buồn tôi nói trăm năm 
Có nghĩa là tôi vẫn còn muốn sống 
Đừng nhắc cùng tôi người tôi yêu dấu 
Kẻo tôi lại sầu, mửa hết mật xanh”

nguoi_yeu_cua_linh*

Chiến tranh ngày một khốc liệt và dai dẳng, nó động đến từng gia đình. Một cuộc chiến tranh mà cả những người không thích nó cũng phải mặc áo lính như một bổn phận công dân. Nguồn xúc cảm của thi ca có ngay một bối cảnh mới là những cuộc chia ly- chia ly thời chiến. Thứ chia ly này hàm chứa một hy vọng ngày về hết sức mong manh

“Kỷ vật đây viên đạn màu đồng/
Cho em làm kỷ niệm sang sông/
Đời con gái một lần dang dở”

(Linh Phương).

Tình yêu và hạnh phúc thường xuyên trong tình trạng khẩn cấp như một thành phố bị thiết quân luật!
Còn không thì lối về cũng chẳng hanh thông gì

“ Tôi về ngơ ngác đôi tay
chân đi hồn rã áo bay lạ người
vẫn mình trên phố ngược xuôi
nghe trong cơn rộn tiếng đời héo hon
mai đây bỏ lại phố phường
bụi se cát mỏi trên đường tôi đi”

(Lâm Chương) –

lính và cây đàn

ở đâu về và rồi đi đâu trong những năm tháng dang dở mộng chưa thành ấy?
Khi 25 tuổi tôi bị động viên và mất một mối tình chưa kịp tỏ cũng trong tình cảnh chung đó, nên tôi hiểu và trọng sự vội vã và cái quyền bị lung lay này của bạn mình:

“… em hỡi em
người anh yêu
anh có quyền hôn em lúc này
bởi ngày mai anh trở ra mặt trận
ở đó, anh không thiếu một thứ gì
kể cả máu
chỉ duy có thứ này
hãy viện trợ cho anh
đó là giọt lệ em xanh biếc…”

nhà thơ bị mất một chân vì mìn nổ Luân Hoán đã viết như tiên tri thế ấy. Không thiếu một thứ gì, máu thì nhiều không kể xiết giống như cái chết lởn vởn xung quanh, trong cảnh tượng đó, những “giọt lệ em xanh biếc” bỗng trở thành một thứ khát khao dù rằng lệ hay máu thì cũng là bi thương thôi. Tôi nghe một sự lẩn quẩn giữa hai dòng nước này của con người.
Nhiều lúc anh tự hỏi không biết chiến tranh để làm gì/ 
không biết để làm gì nhưng dù không biết để làm gì đi nữa
hãy nhớ hôn anh một lần đi/

em nhé”

. Nhỏ nhoi thậm chí nhạt nhẽo một nụ hôn “trăn trối” không có nghĩa gì!

(Triều Uyên Phượng)
Ngày mãn lính trở về? Mấy câu của Hồ Minh Dũng

“Còn ba năm nữa anh sẽ về
Anh biết chắc không còn quê hương để ở
Em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu
Làm bằng nắp hòm người lính nghèo
Chết ngoài mặt trận”

nghe có vẻ như báo động một tương lai khi nhà thơ hết hạn kỳ đối diện với chết chóc, nhưng sao đó lại không là thơ tình viết bằng trái tim người làm thơ bị cuốn vào cuộc chiến ?
Chiến tranh là hòa bình bị dán đè lên một mảnh giấy, ai cũng biết thế và ai cũng nuôi trong lòng một hy vọng ngày mảnh giấy rơi xuống. Nhà thơ vốn là người bén nhạy hơn “Và có thể nào đêm nay không còn tiếng súng
Không còn nghe tiếng còi hụ giới nghiêm
Ba giờ sáng xuống Ngã tư quốc tế
Ăn một tô mì thơm ngát bình yên”

(Phạm Cao Hoàng).

Thật tuyệt vời cho tô mì ăn vào phút đầu tiên của hòa bình! Nó như một niềm hân hoan bé mọn không ít lần bị hụt hẫng. Phải đã từng có mặt ngoài phố , đứng ở một gốc cây, sau một tảng đá, trong giờ giới nghiêm mới hình dung ra được ảo ảnh một phút giây hòa bình là thế nào.
Rồi như Nguyễn Bắc Sơn

“đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính
mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
xem cuộc chiến như tai trời ách nước”

nha-tho-nguyen-bac-son-lam-tho-ben-duongmg111-1390758303109

thì đấy là tiếng nói thực của nhiều người lứa tuổi tôi khi đó. Và tôi, CTC, có vẻ buông xuôi hơn, kết thúc một tình yêu sắp ngỏ

” Hãy cứ đi lấy chồng
Hoặc yêu một người nào khác
Rất có thể anh không về
Tỷ lệ không về ngày một cao hơn
Đừng dại dột sống chờ làm góa phụ”.

Thơ tình thời chiến miền Nam trước 1975- thường được gọi là “thơ Sài Gòn” – thật sự thiếu không khí hào hùng nhưng đó là một nét đẹp bởi nó chân thật, điều hết sức cần thiết của thi ca, làm nên một giai đoạn thi ca đáng lưu giữ và trân trọng, nó có tính lịch sử rõ ràng. Tuy nét đó là một nỗi buồn có phần bị động, khó lòng nói hết.

Cao Thoại Châu

 

(nguồn: http://kontumquetoi.com)

Lòng từ tâm của người lính miền Nam qua truyện ngắn Sông Sương Mù của Lữ Quỳnh. (1)

Tản mạn của Trần Hoài Thư

 

Trong Sông Sương Mù, tác giã đã vẽ nên ba nhân vật, ba mẫu người khác nhau. Một là người lính ở bên kia sông, tức là VC. Hai là người lính bên này sông là quốc gia. Và một đứa bé gái tâm hồn còn non nớt, chưa đủ trí khôn để đặt câu hỏi về chiến tranh. Ba nhân vật đều xuất hiện trong lớp sương mù, có nghĩa là hình ảnh và hành động của họ cũng lờ mờ ở suốt cả truyện. Nhưng ở đoạn cuối, sông sương mù đã biến thành sông máu, và sự thật phô diễn dưới ánh mặt trời. Xác người đàn ông phơi thây bên bờ  sông vì bị giết khi ông ta tìm cách qua sông để đánh đồn hay để hướng dẫn pháo của phe ông rót vào khu vực. Ông không có chút gì cảm tính, nhân hậu, lòng thiện trừ sự lợi dụng – lợi dụng ngay cả con bé – khi hỏi quẹt diêm. Và kết quả, là căn nhà của bé Phượng bị trúng pháo, hai đứa em nó bị chết thảm.

Nếu ta dọc kỷ, ta sẽ thấy có một sự khác biệt giữa hai người khác chiến tuyến.Khác biệt ở tấm lòng nhân bản, từ tâm.
Truyện viết về một đứa bé gái tên là Phượng. Mỗi ngày nó phải ra bến sông để giặt quần áo cho các em. Dòng sông sương mù trắng ngần:

…Dòng sông yên tĩnh trắng ngần sương mù nhìn xa như một dải lụa. Những giọt sương còn rơi tóc tách thật nhỏ và êm đềm từ những ngọn lá cao xuống các tàu lá thấp. Bé Phượng bước xuống bến sông đặt nắm áo quần dơ trên một tảng đá, rồi khom mình đưa tay khoát nước. Nước lạnh quá làm nó rụt tay về, nhưng rồi lại nhúng xuống, lần này sâu hơn và nó mỉm cười nhìn theo sóng nước phía sau bàn tay di động…

Một ngày nó gặp một người đàn ông lạ. Ông ta đợi đò, và trong lúc chờ đợi, ông đốt thuốc. Nhưng hộp quẹt đã hết diêm. Bây giờ ông mới tìm đến con bé, nói như ra lệnh:

– Bác cần một que diêm.

(…)

Ngày hôm sau, con bé lại ra bến sông. Nó không quên mang theo hộp diêm cho người đàn ông lạ. “Trời vẫn như mọi hôm, đầy sương mù và dòng sông vẫn là dải lụa trắng bát ngát”.

Con bé buồn vì không thấy người đàn ông đã hỏi nó xin que diêm. “Trong sự yên tĩnh đang có của buổi sớm, bỗng con bé nghe tiếng đạn réo qua đầu rồi tiếp theo những tiếng nổ dữ dội chung quanh. Bé Phượng nằm ngay xuống một kẽ đá, cố thu mình thật nhỏ. Tảng đá còn ướt đẫm sương. Hơi lạnh từ đất tỏa lên thấm qua lớp vải áo làm nó run cầm cập.”

Sau khi tiếng súng thôi nổ, bây giờ mới xuất hiện người đàn ông thứ hai. Ông này là lính miền Nam. Ông nói:

– Thôi đừng giặt nữa cháu à…

Con bé hớt hải quay lại. Người lính bước xuống những bậc cấp bằng đá. Nó nhận ra người lính có vẻ quen thuộc, hình như là bạn của cha. Người lính nói:
– Giặt chiếu làm gì sớm thế ?
Con bé ngửa mặt lên nhìn người đàn ông:
– Mẹ cháu bảo nhà chỉ còn một chiếc mà tụi em đái dầm…
Người lính cười buồn:
– Thôi vứt chiếu đi, theo chú về nhà…
Con bé tần ngần mở to mắt nhìn người lính:
– Mẹ cháu dặn…
Người lính quay mặt đi:
– Chú biết rồi, nhưng bây giờ không cần thiết nữa.
Con bé hớt hải và nước mắt nó bắt đầu chảy nhanh xuống má.
– Nhưng còn các em cháu…
Người lính nói chậm rãi:
– Cháu dại quá. Cháu nhớ loạt đạn pháo kích vừa rồi chứ? Thôi về nhà chú đi…
Bé Phượng ngồi thụp xuống đưa hai bàn tay bưng mặt khóc thét lên. Trong khi người lính kéo thấp mũ lưỡi trai xuống và khịt khịt mũi.

Đấy, trái tim của người lính miền Nam là thế đó.

Ông ta mang từ tâm vô lượng đến với con bé bất hạnh. Ông đã mang nó về nhà ông trong lúc mẽ nó ở xa chưa về kịp. Ông đã giúp cho con bé nhìn lại giòng sông sương mù mà nó ưa thích:

Mỗi buổi chiều người lính thường dẫn con bé ra sông chơi, nhưng nó có vẻ thích đến đó vào buổi sáng hơn. Buổi sáng thì người lính dậy muộn, hơn nữa cũng không mấy khi anh được ở nhà ban đêm. Bé Phượng sau ngày hai em chết không có dịp để nhìn sông sương mù, không còn dịp để nhớ lại hình ảnh kẻ lạ mà nó gặp buổi sáng nào trên bến nước.

 ***

 Đó là lý do tại sao  bút hiệu LQ với toàn bộ ba tác phẩm  được xuất bản  trước 1975 (Cát Vàng, Sông Sương Mù, Những Cơn mưa mùa đông)  đã bị nhà nước liệt vào danh sách 56 tác giả có tác phẩm bị cấm chỉ lưu hành vì nội dung phản động trong đợt I  của chiến dịch truy diệt văn học miền Nam,  được nhật báo Sài gòn giải phóng “ưu ái” đăng vào ngày 1-11-1975:

lq-2

IMG_0209

(chụp lại từ microfilm báo Saigon Giải phóng ngày 1-11-1975. Tư liệu của tạp chí Thư Quán Bản Thảo)

 

______

 

 

(1) trích từ Sông Sương Mù, Tập truyện (NXB Ý Thức, Sài Gòn 1973

bài thơ đăng ở bìa sau

Suốt 16 năm, với 74 số báo, đây là lần đầu tôi đi một bài thơ tình ở trang bìa sau của tạp chí thư quán bản thảo số 74:
3-19-2017 10-02-45 AM

Bài thơ nhan đề “Thư cho anh” của Lý thị Kim Xương, đăng trên nguyệt san Tình Thương số 13 tháng 1-1965.
Theo một người trong nhóm chủ trương cho biết tác giả sáng tác bài thơ này lúc cô ta mới 17 tuổi  học lớp Đệ Nhị tại trường Thoại NGọc Hầu ở Long Xuyên:

“…Nói về thơ, một lần toà soạn nhận một bài thơ lời lẽ giản dị như nói chuyện của một cô 17 tuổi. Cô là hoa khôi học lớp đệ nhị ở một trường tỉnh, trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Cô gửi về toà báo bài thơ mang tựa “Thư Cho Anh”. Bài thơ gồm 5 đoạn gửi cho người yêu đang học Y khoa trên Sài Gòn, chắc còn ở năm đầu mải lo học vì sợ sortie latérale nên lơ là với nàng. Chúng tôi quá thú vị đọc bài thơ này và xúm nhau bàn loạn cào cào. Cho đến hôm nay tôi còn nhớ nguyên bài đó nên chép lại ra đây với lời bàn sau đó:
THƯ CHO ANH

Anh nghĩ gì khi người ta nói yêu em
Khi trời mưa người ta đưa em đến trường
Người ta bảo người ta thường hay khóc
Vì em nhìn người ta quá dửng dưng

Chủ nhật khi em đi dự lễ
Anh nghĩ gì khi người ta lại gần ет
Người ta quỳ bên em đọc kinh khe khẽ
Em nghe người ta đọc tên em

Người ta yêu em anh có buồn không?
Nhỡ một mai em gọi người ta bằng chồng
Anh có còn yêu em không nhỉ
Chết! Người ta đang nhìn em ngoài song

Mai nhớ về thăm em nghe anh
Để người ta hiểu em không sống một mình
Người ta có yêu thì yêu hai đứa
Yêu em và yêu anh
 

Đừng giận người ta nghe anh
Khi trời mưa người ta đưa em đến trường
Vì không có anh nên em xin phép
Để người ta tạm đón đưa em thay anh

Cô nữ sinh này tên Lý thị KX…

(Đỗ Hữu Tước – Tình thương ngày tháng cũ . Tập San Y Sĩ số 184 tháng 1-2010)

Sự thật bài thơ chỉ có 4 đoạn, như sau:

LÝ THỊ KIM XƯƠNG

thư cho anh
Về NG. NG. TH
S.V.Y.K
Anh nghĩ gì khi người ta nói yêu em?
Khi trời mưa người ta đưa em đến trường?
người ta bảo người ta thường hay khóc
vì em nhìn người ta quá dửng dưng.

Chủ nhật người ta đi xem lễ
anh nghĩ gì khi người ta ngồi gần em?
người ta đọc kinh khe khẽ
em nghe người ta đọc tên em.

Mai nhớ về thăm em nghe anh!
cho người ta hiểu em không sống một mình
nếu người ta yêu thì phải yêu hai đứa.
(yêu em và yêu anh).

Người ta yêu em anh có buồn không?
nhỡ một mai em gọi người ta bằng chồng
anh có còn yêu em không nhỉ?
(chết ! – người ta đang nhìn em ngoài song)

LÝ THỊ KIM XƯƠNG
(bức số 2 trong “Những bức thư không gửi”)

(NS Tình Thương số 13 tháng 1-1965)

Rõ ràng đây là một chuyện lạ, hiếm thấy  xãy ra trong sinh hoạt văn chương nghệ thuật. Một người yêu mến bài thơ đến độ phải học thuộc lòng, và mãi nửa thế kỷ sau, bài thơ vẫn in đậm trong trí nhớ của ông!
Nếu bảo tác giả bài thơ đó là Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Sa, Vũ Hoàng Chương v.v… thì khỏi cần bàn, nhưng ở đây, tác giả là một nữ sinh 17 tuổi, rất ít xuất hiện trên thi đàn bấy giờ !

Điều này chứng tỏ về giá trị  của bài thơ.

Giá trị ỡ chỗ nào ?

Thứ nhất là ý thơ  rất lạ, rất mới.
Thứ hai, mặc dù bài thơ  không cần niêm luật nhưng đọc chúng ta cứ nghĩ nó là một bài thơ có vần có điệu:

Chủ nhật người ta đi xem lễ
anh nghĩ gì khi người ta ngồi gần em?
người ta đọc kinh khe khẽ
em nghe người ta đọc tên em.

Nhà thơ đã đưa ra một ý nghĩ rất mới mẽ và ngộ nghĩnh khó bắt gặp ở bất cứ bài thơ tình nào từ trước đến nay:

Mai nhớ về thăm em nghe anh!  (7 chữ)
cho người ta hiểu em không sống một mình (
9 chữ)
nếu người ta yêu thì phải yêu hai đứa.(
9 chữ)
(yêu em và yêu anh).
(5 chữ)

Bài thơ với những giòng dài ngắn bất thường, nhưng khi đọc ta cứ nghĩ như đọc một bài thơ có vần, có điệu. Chữ dùng  dãn dị, không màu mè, làm dáng, không xữ dụng những từ “nổ”, “cao siêu”, nhưng nó chứa cả một bể trời kỳ diệu của tình yêu đôi lứa. Dù ở tuổi nào, nó vân sống, vẫn làm rung động trái tim.

anh nghĩ gì khi người ta ngồi gần em?
người ta đọc kinh khe khẽ
em nghe người ta đọc tên em.


Nhà văn Hồ Đình Nghiêm nhận xét về tính cách vượt thời gian của  bài thơ này như sau:

“Tôi đồng tình với anh Trần Hoài Thư “Thư Cho Anh” là một bài thơ hay. Cũng mang thắc mắc cái rung động dễ thẩm thấu kia sao ít người biết đến? Bạn tìm gì trong một bài thơ? Điều gì khiến bạn nhớ tới bài thơ đó? Tôi vẫn luôn nghĩ tới sự đơn giản của lòng thành, chữ dùng không cầu kỳ, mộc mạc của tuổi học trò và sau cùng, đọc xong nó rót vào lòng bạn để tạo ra một âm hưởng của sóng, dẫu lăn tăn. Cô học trò Lý Thị Kim Xương (vô danh?) đã làm được điều đó. Người học sinh lớp đệ Nhị vô tình tạo ra (mối tình đầu) rất đỗi đáng yêu. Tôi liên tưởng tới một cơn nắng ấm là vì vậy. Cám ơn người mang tên đẹp rất nữ tính, từ xa xưa vừa mang về cho tôi chút bồi hồi rungđộng mới. Cám ơn anh Trần Hoài Thư, một bút hiệu đẹp khác đã bỏ công vực dậy bao điều khuất tất tàn phai.

Hôm nay thứ bảy, ngày mai chủ nhật. Tôi xin được làm “người ta” để đi xem lễ, cầu chúa cho tôi được ngồi kề bên “em” để gọi thầm nàng thơ dù người ta không sống một mình. Chết! Trời thôi mưa làm sao tôi đưa em đến trường? Người ta có vì tôi mà làm thơ không nhỉ? Dẫu không tôi cũng xin chúc người: Cuối tuần vui vẻ. Tôi yêu người và tôi ghét tôi. Tôi đi lối ni luôn có ma quỷ chận đầu. Người buồn có khi cảnh không xía phần, cảnh vui vẻ suốt!

(Hồ Đình Nghiêm . Cuối tuần vui vẽ)
(nguồn: Blog Tranthinguyetmai.wordpress.com)


Tôi phải thêm bài thơ này vào Bộ Thơ miền Nam trong thời chiến và thơ Tình Miền Nam. Thêm vào có nghĩa là tái bản. Xin được cám ơn nhà thơ Lý thị Kim Xương đã giúp tôi một cái “job” rất thơm.
Ta ngồi khâu di sản
Kim đâm mà không hay !

IMG_1197

Đôi mắt La Ronda

Ngày cuối cùng trước buổi hội luận “Chiến tranh Vietnam và hậu quả xã hội” tại Đại Học Massachusetts, tôi đã ngõ ý với La Ronda, người nữ đồng nghiệp, dành cho tôi nửa tiếng đồng hồ. Tôi kể đến buổi hội luận mà tôi sắp  sửa có mặt và tầm mức quan trọng của cuộc thuyết trình.. Về phía những người đến từ trong nước,  họ đã có sẵn thông dịch viên. Còn chúng tôi phải tự một mình xoay sở bằng môi miệng mình nhưng ngôn ngữ người. Đây là một danh dự, không phải cho riêng cá nhân tôi, mà cho một tập thể.

 

La Ronda đồng ý. Cô viết tờ giấy với hàng chữ : “Room in conference, don’t bother” và dán ngoài cửa phòng. Sau đó cô ngồi đối diện, nghiêm trang như một cô giáo. Trên bàn là sổ tay, và cô cầm cây viết chì, sẵn sàng ghi note. Trong kinh nghiệm nghề nghiệp tôi là người đi trước cô, nhưng bây giờ tôi là học trò của cô. Thú thật, tôi đã từng nhiều lần đứng thuyết trình và đã từng trải qua khoá học về kỹ thuật thuyết trình, nhưng chưa bao giờ tôi lại lo âu như lần này. Tôi nhìn chăm vào cô và nghĩ là đang nói trước một cử toạ đông đảo. Tôi đọc chậm và rõ. Cô không nói, chỉ note trên trang giấy. Cuối cùng sau tám phút đọc, tôi ngước nhìn cô. Tôi thấy đôi mắt cô đỏ và long lanh nước mắt. Cô khóc. Cô nói so wonderful. So wonderful… Sau đó, cô đã chỉ tôi vài chỗ cần thiết để nhấn giọng hay ngừng lại. Cô đã làm cho tôi tự tin hơn bao giờ.  Dù vậy tôi cũng không thể đo lường được con tim của cô. Có lẽ cô nói để khuyến khích tôi, giúp cho tôi tự tin hơn hoặc vì phép lịch sự giữa những người đồng nghiệp với nhau.

                                    oOo

 

Ba giờ rưỡi sáng, tôi lên xe rời thị trấn. Phải mất 5 tiếng đồng hồ lái xe mới lên Boston. Những người trên ấy muốn tôi lên càng sớm càng tốt để gặp nhau chuẩn bị. Trời đầy sương. Đôi mắt ráo khô, thần kinh căng thẳng. Tôi kéo cửa kính xe xuống. Gió sớm mơn man. Chỉ những cột đèn bầu bạn. Chỉ có thành phố ngái ngũ. Chỉ có con đường xa lộ dài hun hút, và những mảng đèn pha mờ nhạt trong sương.

 

Vâng, thì lên đường. Ngày xưa, tôi có những chuyến đi về sáng như thế. Nhảy vào mật khu, tiếp viện hay tăng phái cho một chiến trường. Nhưng ngày xưa, bên tôi là đồng đội, là súng đạn, là những dắt dìu, bảo bọc nhau… Ngày xưa, nửa đêm kẻng dục quân ra trận. Kinh động cả lòng đêm tối bưng. Nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy. Không buồn chỉ một chút bâng khuâng.(thơ THT) Ngày xưa, và bây giờ có khác gì đâu. Bởi vì từ lâu nay, cái nơi ấy vẫn được xem là nơi bất khả xâm phạm, không một nhà văn nhà thơ Việt Nam hải ngoại nào được quyền nói lên tiếng nói. Bởi vì nói đến văn chương chiến tranh, người Mỹ chỉ biết đến những cuốn sách của Bảo Ninh, Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Thu Bồn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Dương Thu Hương, Nguyễn Quang Sáng. Không ai biết giòng văn chương miền Nam thời chiến qua 35 năm lâm chiến… Chẳng ai cần biết một kho tàng sách báo bị đốt hủy. Chẳng ai biết một nền văn học lẫy lừng hừng hực lửa, trái phá đã bị bức tử. Nơi này chỉ dành một Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Nguyễn Quang Sáng, đã một lần đến đãy, rồi trở về nước viết bài chửi rủa mạt sát những người văn nghệ sĩ hải ngoại không chừa một mống.
Chẳng ai cần thắc mắc về sự thật của những cây viết mà họ xem là trung thật về chiến tranh như Bảo Ninh khi tả cảnh toán thám báo đột nhập mật khu bắt ba chị nuôi hãm hiếp rồi trấn nước, trong khi vai trò của thám báo chỉ săn tin, phối kiểm tin tức tình bào, phải tự mình bảo vệ lấy mình giữa lòng địch. Chẳng ai cần thắc mắc một Ngụy Ngữ, nhà văn một thời mang bộ đồng phục miền Nam, được miền Nam ưu đãi, không đi tác chiến một ngày lại bôi nhọ chửi rũa lính miền Nam gọi thương phế binh miền Nam là bọn què quặt, kể lính rằn ri mỗi lần về phố là quan xá đóng cửa cài then, nhục mạ thậm tê người đã chết là cố đại úy Nguyễn văn Đương là tên sĩ quan dù.. ngay trên những số báo Vấn Đề do Vũ Khắc Khoan và Mai Thảo chủ trương…
Vâng, họ đã bị lừa bịp bởi những nhà văn thiếu tư cách mà họ không hề biết.

 

 

Tôi đã dừng tạm ở một Trạm Nghỉ. Quá mệt, và quá buồn ngủ.. Trời đã sáng. Tôi lên đồi cây. Đứng yên. Trong nỗi cô liêu hiu quạnh, với những hàng thông, hàng sồi san sát, với màn sương còn che khuất những dãy núi bên kia đường, tôi lại liên tưởng đến bạn bè đồng đội của mình. Những thân cây che chở mạng người.  Những hòn đá câm. Và mây trắng như ngày xưa chứng kiến những con ngựa chiến chinh bay về trời. Mười mấy năm chiến tranh đã hàng hàng lớp lớp những con ngựa bay về trời như thế. Tức tửi.                      

                                  oOo

 

Xin được đi lại một đoạn  của bài tôi thuyết trình:
 

“Quí vị hỏi tôi viết gì. Trước năm 1975, tôi viết về cuộc chiến tranh, trong đó tôi và thế hệ của tôi đã lao vào, đã chiến đấu, đã bảo vệ cho quê hương tôi. Tôi viết bằng ngay cả máu lệ của chính bản thân mình. Có những bài văn tôi viết trong hầm phòng thủ. Có bài tôi viết khi bằng cảm giác hơn là lý trí. Đó là lúc tôi trùm poncho, trùm cả chiếc mền, bật đèn pin và viết trong giờ chờ giặc. Khi ấy, cảm giác đã đẩy ngòi bút, và hơi thở của tôi điều khiển tôi. Có bài tôi viết khi nằm trong bệnh viện, giữa những tiếng rên la quằn quại của những người lính thuộc đại đội tôi. Tôi đã hiểu thế nào là tiếng nổ của trái phá, và sự khủng khiếp của nó là như thế nào. Tôi muốn dùng những kinh nghiệm có thật của mình để nói về một cuộc chiến quá dài, quá kỳ lạ, tàn bạo hơn bất cứ cuộc chiến nào trên thế giới mà khí giới được nhập từ Nga Sô Trung Cộng và Hoa Kỳ. Nhưng trong tiếng gào thét của chiến tranh ấy, giữa những trang đầy máu của hai phe, và thêm những xác của trẻ con vô tội, tôi cũng viết về những điều hết sức kỳ diệu mà tôi đã gặp trong chiến tranh. Đó là lòng từ tâm của người lính VNCH. Điều ấy tôi đã được thấy khi sau khi một trận đánh kết thúc. Đó là lúc vai trò người lính của tôi không còn nữa mà nhường lại là vai trò của người viết văn. Tôi đã thấy lính tôi mời tù binh những điếu thuốc hay dìu họ lên trực thăng để tải về quân y viện. Tôi đã thấy trong bệnh xá những người thương binh Nam và Bắc ngồi lại nhau để chơi cờ, đàn hát cho nhau nghe những bài tình ca. Tôi đã hiểu là dân tộc tôi quá hiền từ thời đại này qua thời đại khác. Từ đó tôi tin rằng ai cũng có con tim. Rồi sẽ có một ngày người Nam kẻ Bắc sẽ bỏ hết hận thù sẽ quên đi quá khứ, bởi vì tuổi trẻ chúng tôi chỉ là những nạn nhân từ các thế lực chủ nghĩa. Một ngày nào, chúng tôi sẽ vùng dậy, sẽ lột mặt những tay đồ tể chiến tranh, sẽ nối lại vòng tay như qua bài hát cuả Trịnh Công Sơn: Từ Bắc vô Nam nối liền cánh tay. Nhưng giấc mơ của một người viết văn ấy đã bị tan vỡ sau 1975. Bởi vì tôi đã nhận ra rằng cái hậu quả của chiến tranh đã không ngừng lại ở đây, để đồng bào tôi, bạn bè con cháu tôi được sống an ổn trong những ngày hoà bình còn lại. Mà trái lại, đồng bào tôi lại trở thành một nạn nhân của hậu quả khác. Hậu quả từ những trái tim được nuôi dưỡng bằng một thứ chủ nghĩa chỉ được xây dựng bằng căm hờn và bạo lực. Đó là chủ nghĩa Cộng Sản.

Thưa quí vị,

Tôi có thật nhiều điều để muốn tỏ bày cùng quí vị về một nỗi đau khổ khủng khiếp của một người viết văn. Đó là lúc anh ta muốn viết mà không dám viết, muốn nói mà không được nói. Quí vị được may mắn là có thể viết tất cả những gì mà quí vị muốn, trình bày tất cả nỗi buồn vui của quí vị cùng độc giả. Nhưng có một nơi, văn chương được xem là một tai họa. Người ta đã tìm mọi cách để tận diệt văn chương. Bằng chứng, riêng cá nhân tôi, đây là những đứa con tinh thần của tôi, không phải tôi mang từ quê hương tôi qua, mà tôi đã thu thập chúng từ một thư viện của đại học Cornell Hoa Kỳ. Chúng vẫn còn sống sót cũng như bản thân tôi vẫn còn sống sót sau một cuộc chiến, sau những năm tháng tù tội.  Vâng tôi là kẻ được may mắn được thoát khỏi cõi im lặng khủng khiếp ấy. Nhưng còn biết bao nhiêu người viết văn làm thơ khác của miền Nam với biết bao công trình văn chương đồ sộ của thời chiến tranh. Họ đã mất tiếng nói. Họ đã bị quên lãng bởi loài người. Họ không được nhắc nhở.  Bằng chứng là hôm nay, quí vị không thấy họ mà chỉ thấy những người viết văn làm thơ trong hàng ngũ thắng trận. Như vậy đâu là công bằng, đâu là tiếng nói trung thật của văn chương, nhất là nền văn chương về chiến tranh VN?

 

                               oOo

 

Khi chúng tôi chuẩn bị ra về, thì một người đàn bà bản xứ đã tiến đến bên tôi. Trên tay bà vẫn còn cầm cuốn sổ tay ghi những note. Bà ngước nhìn tôi. Và tôi bỗng thấy lại đôi mắt của La Ronda. Cũng đỏ hoe. Cũng ngấn lệ. Bà cám ơn tôi. Một tay bà đưa ra và siết chặt lấy bàn tay tôi. Bây giờ tôi mới hiểu rằng La Ronda không phải nói để lấy lòng tôi như phép lịch sự của những người đồng nghiệp với nhau.

 

Từ những bức thư thời chiến

Tôi vừa đánh máy xong những bức thư của một người lính gởi về cho người vợ đăng trên 2 số báo của tạp chí Văn Học (số 41 ngày 1-7-65 và số42 ngày 15-7, 1965) phát hành cách đây đúng nửa thế kỹ. Chỉ trong một tuần lễ, vậy mà 20 trang   được đánh xong. Không phải là tôi đánh máy giỏi. Tôi chỉ gõ bằng  một ngón cho mỗi bàn tay. Nhưng là vì tôi đã tìm được từ những bức thư ấy cả một niềm hăm hở say mê kỳ lạ.
Thật vậy, thật là một hình phạt khi ta phải đánh máy những bài mà ta cảm thấy nhạt nhẻo, không hứng đọc chút nào. Và tôi đã bỏ nửa chừng hai bài như vậy, mặc dù tên tuổi tác giả rất quen thuộc. Tôi không thể làm trái ý hai ngón tay trỏ của tôi. Chúng không muốn tiếp tục. Chúng muốn nằm vạ.

Vậy mà với những bức thư này, chúng lại nồng nhiệt làm việc.
Không phải riêng cá nhân tôi mà ngay cả nhà văn Thế Uyên. Đây là cảm nghĩ của ông:

“Trong thời gian gần đây, tôi hay viết về quân đội, về những khía cạnh của khuôn mặt đẫm mồ hôi, bụi và bùn của người lính bộ binh. Nhưng đã nhiều lần, dù đã nỗ lực khai thác tất cả khả năng của ngòi bút, đã xử dụng tất cả những kỹ thuật viết văn thông dụng, tôi vẫn thäy bất lực, thông thể diễn tả được tính cách sống động, hào hùng và bi thảm của cuộc chiến tranh đang tiếp diễn bên ngoài các cửa ở các đô thị.

Tôi bất lực như thế nên khi tình cờ được đọc một tập thơ của một giáo sư tại ngũ gửi về cho vợ ở hậu phương, tôi nhận thấy có lẽ tôi không nên làm gì hơn là mang những giòng chữ của người lính ấy tới người đọc. Tôi mong rằng người đọc đừng nên quan niệm những giòng chữ dưới đây là truyện dài truyện ngắn, hồi ký tự sự, tùy bút tạp bút… bởi vì chúng không phải là tất cả những thứ ấy, bởi vì chúng đích thực ra là con người trong cuộc chiến tranh này.

Đây là một đoạn cuối của những bức thư:

…Trung đội phó vừa bước vào lều cho biết có tiếng chó bắt đầu cắn dữ dội. Anh nhìn qua khe vách, trời tối đen vì vẫn chưa  có trăng. Đại đội trưởng đã cho lệnh tắt hết đèn nhưng anh vẫn muốn viết thật nhiều cho em bởi vì không hiểu sao hôm nay, từ lúc đánh mất chiếc khăn quàng xé ở vạt áo dài của em trong lúc rút quân vào đồn, anh thấy nhớ em kỳ lạ. Nhớ theo một thứ  tình cảm buồn buồn. Bây giờ  anh hiểu nỗi buồn của em ngày ấy khi em đánh mất chiếc nhẩn đính hôn anh đeo vào ngón tay em một ngày đã lâu. Đại đội trưởng vừa cho lệnh báo động và đang gọi anh khe khẻ ngoài cửa lều phía sau lưng. Anh hôn em thật nhiều trước khi gấp tờ thư vào túi áo để xách súng ra ngoài. Trời vẫn tối đen. Đêm nay có trăng nhưng là trăng lên muộn. Hôn em một lần nữa.

Và cái ai tín được bỏ vào ở cuối bài:

ai-tin