Category Archives: phỏng vấn

PHỎNG VẤN TÁC GIẢ TRẦN HOÀI THƯ VÀ TÁC PHẨM ‘HÀNH TRÌNH CỦA MỘT CỔ TRẮNG’

bia co trang
Đọc  toàn bộ ‘HÀNH TRÌNH CỦA MỘT CỔ TRẮNG’ (Talawas)

PHỎNG VẤN TÁC GIẢ TRẦN HOÀI THƯ VÀ TÁC PHẨM ‘HÀNH TRÌNH CỦA MỘT CỔ TRẮNG’ ( Đài VNCR năm 2005)

  1. Thưa anh Trần Hoài Thư, chúng tôi vừa nhận được cuốn sách mới của anh, cuốn Hành Trình Của Một Cổ Trắng, và xin được thưa chuyện với anh về tác phẩm mới này. Thế nhưng trước hết xin anh cho thính giả của đài VNCR biết qua về tiểu sử của anh.

 

Tôi sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Trước năm 1975 giáo sư đệ nhị cấp trung học Trần Cao Vân Tam Kỳ Quảng tín. Động viên khoá 24 Thủ đức, và phục vu ở đại đội 405 Thám Kích thuộc Sư đoàn 22 BB và phóng viên chiến trường vùng bốn. Bị thương trận 3 lần.

Sau 1975, đi cải tạo gần 4 năm, vượt biển và định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1980. Trở lại trường học lại, tốt nghiệp cử nhân điện toán và cao học Toán. Làm việc trong ngành điện toán ở các hãng AT&T, Lucent, và IBM.  Hiện về hưu vàdành thì giờ để nghiên cứu kỹ thuật in ấn theo phương pháp Book on Demand và chủ trương Thư Ấn Quán để in tác phẩm bạn hữu cũng như tạp chí văn học Thư Quán Bản Thảo, đã có mặt đều đặn hơn hai năm nay.

  1. Nhân đây cũng xin anh cho biết về các tác phẩm mà anh đã viết: gồm bao nhiêu cuốn, những đề tài anh thường đề cập đến trong các tác phẩm đó?

 

Tôi có 15 tác phẩm được xuất bản. Với 4 tập truyện truớc 1975. Chỉ trừ cuốn Hành Trình của Một Cổ trắng, tất cả các cuốn khác đều lấy chất liệu từ những kinh nghiệm chiến trường trong thời gian tôi là một trung đội trưởng thám kích.

 

  1. Bây giờ chúng ta quay lại với cuốn mới nhất, cuốn Hành Trình Của Một Cổ Trắng. Có thể đối với nhiều người Việt Nam cái tên này nghe hơi là lạ. Xin anh cho một vài lời giải thích.

Thưa anh, “cổ trắng” là White collar, dùng để chỉ những người làm việc bằng trí óc, trái với “cổ xanh” tức Blue collar, để chỉ những người làm việc bằng tay chân. Trọng tâm của cuốn sách là tiếng kêu trầm thống của một giới mà xã hội thường xem là ưu đãi.

 

  1. Đây là một đề tài khá mới lạ, tôi nghĩ không riêng cho một cây bút Việt Nam, mà ngay cả người Mỹ nữa. Vì vấn đề thuê công nhân xuyên quốc gia tương đối rất mới, được nảy sinh từ sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, từ sự toàn cầu hóa. Cuốn sách của anh vì thế có mang trong nó nhiều tính cách thời sự. Xin anh cho biết đây là một câu chuyện do anh quan sát các hiện tượng xã hội, hay là ít nhiều có tính cách tự sự trong đó?

Vâng, tôi nghĩ đây là một đề tài mới lạ và rất thời sự. Sau khi sách tôi phát hành chừng hai tháng, đài CNN không ngày nào lại không có chương trình Exporting America để nói lên những cay đắng ê chề của giới cổ trắng ở Mỹ và hiện tượng xuất cảng trí tuệ ra ngoại quốc. Tuy nhiên họ chỉ nói một phần. Nói như anh, họ chỉ quan sát, và đa số những người họ phỏng vấn, họ là chuyên viên về kinh tế, quản trị, ít người  ở trong cuộc và có kinh nghiệm về trận chiến… Bản thân tôi không những là chứng nhân mà là nạn nhân của sản phẩm outsourcing và offshore mà các ngài chủ hãng đang hết lời  tung hô. Như vậy, tại sao tôi lại không kề lại những kinh nghiệm cay đắng ấy ? Như ngày xưa, tôi vẫn dùng kinh nghiệm có thật của mình để viết về chiến tranh, lính tráng.

 

  1. Xin đưa vấn đề ra ngoài văn học một chút. Nhiều người đả kích hiện tượng Outsourcing và gần đây nhất là offshore, điều này dễ hiểu, vì chính nó là thủ phạm gây ra biết bao vụ mất việc làm cho công dân Mỹ. Nhưng cũng có người giải thích đó là kết quả tất nhiên của việc toàn cầu hóa, nền kinh tế Mỹ phát triển và bao trùm thế giới thì việc đó ắt phải xảy ra, và tự nó, nước Mỹ sẽ có công việc khác cho dân chúng của mình. Anh nghĩ sao?

Thưa anh, cách đây 8 năm, khi chúng tôi được thông báo thuộc thành phần outsourcing

chúng tôi đã được giải thích vì công ty cần tiết kiệm ngân sách, và bộ phận sẽ được bán qua một hãng khác, để tiếp tục công việc cũ. Như vậy, ít ra, những người bị outsource vẫn còn có công ăn việc làm. Bây giờ đến tình trạng Offshore, tức là làm việc ngoài nước Mỹ, thì giới IT cổ trắng vô phương hy vọng.

Dĩ nhiên, toàn cầu hoá là qui luật tất nhiên khi Internet đã phát triển đến cao độ. Bây giờ, biên giới biên thùy bị xoá. Chỉ một giây là những dữ kiện từ Ấn độ hay Trung Hoa được chuyển qua Mỹ. Người làm việc ở Ấn Độ thì cũng có thể làm tất cả những gì mà người ở Mỹ làm. Nếu kẻ ở Ấn Độ không có kinh nghiệm cũng không sao. Cấp vé máy bay qua Mỹ để được kẻ ở Mỹ huấn luyện trước khi hắn bị laid off. Bất mãn không chịu huấn luyện  kẻ giựt job mình ư ?  Hắn sẽ bị  tống ra ngoài không được hưởng quyền lợi gì hết. Những điều này chưa bao giờ được đài CNN nói đến, đều được trình bày trong Hành Trình của một cổ trắng. Không phải tôi bi quan đâu. Không thấy những việc làm khác tạo ra mà chỉ thấy hoàng hôn của một giới mà xã hội từ trước đến nay xem như thành phần được ưu đãi nễ trọng.

Xin  trích lại một đoạn thư tiêu biểu:

“…Tất cả những điều ông viết trong “hành trình của một cổ trắng” đều đã xảy ra với tôi, chồng tôi và nhiều người tị nạn khốn khó đã từng chiến đấu  với trí óc, thân xác của mình với hy vọng ngày nào đó retire được yên ổn vậy mà tất cả như chỉ là mới bắt đầu lại bằng con số 0. Buồn và cô đơn quá ông ơi.”

 

Cuối cùng xin thành thật cảm ơn quí đài đã cho tôi được cơ hội nói về tiếng kêu trầm thống này với hy vọng các bậc phụ huynh và các bạn trẻ có cái nhìn rõ hơn về tương lai của mình sắp chọn.

 

 

 

Đừng khinh thường nhà văn trói gà không chặt đâu nhé !

Nhiều bạn hỏi tôi về binh chủng thám kích, hoặc cũng có bạn tỏ ý nghi ngờ về sự phóng đại của tôi. Nhà văn, nhất là nhà văn có tác phẩm, thường thường phục vụ ở đơn vị không tác chiến tại sao tôi lại đi đánh giặc đêm ngày lại có mặt trong một đơn vị dữ dằn, tôi xin trích một đoạn trong bài phỏng vấn của nhà văn Nguyễn thị Hải Hà, đăng trên Gio_O website, để giải thích:

Nguyễn Thị Hải Hà: Đi thám kích có nguy hiểm hơn đi đánh trận không? Khi anh đi đánh trận lúc mới đi lính thì bị bắn suýt chết, còn đi thám kích nhiều năm thì không bị nguy hiểm gì cả, như thế thì đi thám kích ít nguy hiểm hơn chăng?

Trần Hoài Thư: Từ khi rời Thủ Đức tháng 8-1967 cho đến tháng 5-1970 gần 4 năm tôi chỉ phục vụ tại một đơn vị duy nhất là đại đội 405 thám kích/SĐ 22 BB.

Tưởng cần nói rõ về binh chủng thám kích.

Thoạt tiên, nó được thành lập bởi CIA từ năm 1962 với nhiệm vụ là truy tìm và phát hiện sự xâm nhập của quân Bắc Việt vào cao nguyên. Người lính phần lớn là thiểu số hoặc Thượng hoặc Nùng. Và cấp chỉ huy là sĩ quan Việt Nam, cố vấn là sĩ quan thuộc lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ. Có tất cả 13 đại đội thám kích, đánh số từ 401 đến 413…

Sau này các đơn vị thám kích được chuyển giao đến 2 sư đoàn Bộ Binh là sư đoàn 22 BB và 23 BB. Đơn vị tôi – đại đội 405 thám kích thì trực thuộc Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 22 BB.

Trung tá Nguyễn văn Dưỡng (tức nhà thơ Văn Nguyên Dưỡng), trong thời gian năm 1967, 1968 nguyên là thiếu tá Trưởng Phòng Nhì /SĐ 22 BB – phòng điều động đơn vị thám kích để thực hiện những tin tức tình báo, đã viết rõ về vai trò và nhiệm vụ của đại đội 405 thám kich như sau:

“… bao nhiêu trách nhiệm nguy hiểm trong vùng địch kiểm soát, đột kích, thám kích, tiền thám hay viễn thám kể cả tăng viện và là mũi tấn công chính trong một trận đánh dữ dội, đều giao cho Đại đội Thám Kích 405. Vì vậy sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của đơn vị nầy phải là quân nhân tình nguyện hoặc được chọn lựa trong thành phần có kinh nghiệm trận mạc, gan lì và nhất là sự bền bĩ chịu đưng gian khổ ở các đơn vị tác chiến khác của Sư Đoàn. Mặc dù Đại Đội Thám Kích không có trong Bảng Cấp Số của Sư Đoàn, nhưng do tính chất cuả nhiệm vụ khi thành lập -vì nhu cầu chiến trường-nên tính mệnh của mọi cấp trong ĐĐ/TK như “chỉ mành treo chuông” mỗi một khi được sử dụng. Ai vào thám kích mà ra khỏi được, không chết, ít nhất cũng mang theo vài chiếc thẹo trên mình. Trần Hoài Thư rời miền Trung vào miền Nam không biết được mấy Chiến thương Bội tinh…” (Nguyễn văn Dưỡng: Định Mệnh, nguồn Internet)

Tôi xin trả lời là có hai chiến thương bội tinh dù bị thương ba lần. Có cả huy chương bạc của quân đội Hoa Kỳ (sau này tôi mới biết). Thêm hai cái bạc, một cái đồng. Đấy, một Trần Hoài Thư với đôi kính cận nặng và thân hình ốm tong teo, mà:

Khi ra trận ta là thằng chết trước
Tổ quốc ghi ơn lãnh tụ đẹp lòng
Khi tìm vợ ta là thằng chạy chót
Nên khó lòng ấp vợ đẹp trong chăn…

Vậy cũng được 5 cái huy chương như ai. Đừng khinh thường nhà văn trói gà không chặt nhé !

 

Nói chuyện với Trần Hoài Thư.

 

Nguyễn thị Hải Hà phỏng vấn

 

1. Thời quá khứ tuổi trẻ của anh (từ lúc chín mười cho đến lúc mười tám đôi mươi) như thế nào? Điều gì đã khiến anh muốn viết, muốn trở thành nhà văn?

Tôi có một tuổi thơ có thể nói là thật bi thảm. Nơi chốn sinh ra tôi không hề biết ở đâu. Lớn lên trong chiến tranh, cha mẹ tôi chia tay và mẹ tôi mang tôi theo. Mẹ tôi tái giá làm vợ lẽ một người đã hai đời vợ. Vì ở chung với vợ chính, những bất mãn ấm ức mẹ tôi thường đổ lên tôi. Giận mẹ tôi trốn nhà đi hoang. Tôi có hai năm học ở Cô nhi viện Hòn Chồng Nha Trang. Chính nước mắt tủi cực, hẩm hiu,  chính những vỗ về hoang tưởng bằng những giòng nước mắt, chính những ngày tháng hoang đàng, lêu lỏng, đã thấm sâu vào máu huyết, rồi đến một ngày tự phát thành những bài thơ, bài văn, sau này. Lúc tôi được 14 tuổi,  thân phụ liên lạc được với tôi, và tôi ra Huế sống với thân phụ. Ba tôi gà trống nuôi con, hết lòng dạy dỗ tôi. Tôi được nhận vào trường Quốc Học. Học ban B tức là ban Toán. Điều này chứng tỏ tôi không ưa gì về văn chương.  Mãi đến năm 18 tuổi, trong một buổi hoàng hôn tại thư viện Xavier ở Huế, tôi bị xúc động trước một tấm hình chụp em bé chống gậy  khóc lóc trên nền nhà đổ nát. Tấm hình khiến tôi nhớ lại hình ảnh của những người bạn nhỏ ở cô nhi viện. Và tự nhiên tôi viết một mạch mấy chục trang giấy học trò. Viết xong, chẳng cần lưu lại bản thảo, tôi thử gởi về tòa soạn Bách Khoa. Không thể tưởng tượng là bài được đăng ngay với vài trang bị kiểm duyệt. Kể như vậy để chứng tỏ rằng, văn chương đến với tôi  rất tình cờ, và may mắn. Nếu Bách Khoa không đăng bài Nước Mắt Tuổi Thơ thì có lẽ tôi sẽ không bao giờ trở thành một người viết văn như bây giờ.  Cũng như nếu không có một ông Lê Ngô Châu của Bách Khoa thì chắc gì bài của tôi được chọn đăng, bởi vì chữ viết của tôi rất xấu, lại cẩu thả, nếu không có lòng kiên nhẫn chắc không muốn đọc. Ông Lê Ngô Châu của Bách Khoa kể với tôi sau này, là mỗi lần đọc bản thảo của tôi ông phải dùng kính lúp. Điều này có lẽ không thể có ở những vị chủ bút khác.

 

2. Anh viết cho ai? Độc giả của anh là ai?

Dù tôi là cá nhân, nhưng đời tôi hòa nhập vào trong một tập thể, một thế hệ. Thế hệ chiến tranh. Cái tôi của tôi phản ánh cả một đám đông. Có điều mình phải biết viết như thế nào, viết làm sao, chọn chất liệu nào, để phản ánh cái mẫu số chung ấy. Ví dụ viết về một trận đánh mà tôi tham dự, không phải viết như một phóng sự, mà tìm qua trận đánh ấy, những  nỗi thống khổ của người dân giữa hai lằn đạn, cảnh một người lính tháo chiếc đồng hồ trao lại cho bạn nhờ mang về cho vợ con trước khi chết. Hay những tra vấn của người trung đội trưởng trước một cuộc chiến tương tàn. Tôi viết nhiều rất nhiều về lính, không phải là tôi yêu đời lính. Rất ít người vừa viết văn vừa đánh giặc như tôi. Những người như tôi đa số đều tử trận. Bởi vì tai tôi nghe mắt tôi thấy những phận đời thấp hèn, họ không có và không còn tiếng nói, thì tôi phải viết.

 

3. Lần đầu tiên quen với tủ sách của anh là nhờ cuốn thơ của Vũ Hữu Định. Anh bảo ai thích anh sẽ tặng. Tại sao anh làm công việc hiện nay, như in Thư Quán Bản Thảo để tặng, in lại sách báo tạp chí trước năm 1975?

Nhiều người cũng đã hỏi tôi một câu hỏi như thế. Lấy tiền đâu để ra một tạp chí dày 250 trang, không bán, không quảng cáo mà sống đến năm thứ 12? Lấy tiền đâu để tặng biếu những tập văn, thơ mà tôi sưu tầm, tái bản trong Tủ sách di sản văn chương miền Nam ?  Lấy tiền đâu để mua giấy, mực, và gởi tặng  bạn bè thân hữu khắp nơi ?

Tôi xin trả lời, là nhờ tôi biết đánh giặc theo lối nhà nghèo. Mua lại những máy in với giá rất rẻ từ các hãng  bị đóng cửa, biết cách tiết kiệm giấy mực qua những program tự viết, có sáng kiến và tự sáng chế, chẳng hạn lấy cái chảo điện làm binding machine, mỗi ngày lên trang Craigslist.org chờ rao chỗ nào bán giấy mực rẽ, là tìm đến. Có khi trời tuyết ngập  đường, vợ chồng tôi lái xe tìm đến một chỗ bán giấy rất rẻ. Cả kho giấy chất dưới basement. Người chủ bảo hắn đau lưng, không thể tiếp sức gì và vợ chồng tôi phải bì bõm lội tuyết chuyền cả trăm ram giấy từ dưới hầm nhà ra ngoài đường. Nhờ vầy mà tôi có thể in những tập thơ toàn là giấy quí hiếm. Lúc này là lúc Internet khống chế, ít ai còn thiết tha gì đến báo giấy, đến di sản văn chương miền Nam . Tôi rao tặng không những tập thơ của Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, Vũ Hữu Định, Phan Như Thức, Lâm Vị Thủy, Hoài Khanh, nhưng rất ít người hỏi. Vì vậy có người hỏi là tôi mừng lắm. Tôi vẫn thường trả lời, bạn đã cho tôi một cái job mà tôi rất yêu thích. Cái job được chính tay mình làm bìa, layout, rồi tự tay mình xếp trang, in, cắt đóng, sau đó thấy cái bìa lộng lẫy rực rỡ như lòng mình rực rỡ niềm vui.

 

4. Mức độ sáng tác của anh bây giờ có nhiều hơn. phong phú hơn thời còn đi lính?

Không còn như ngày trước nữa.

 

5. Anh có bao giờ bị ngăn cản khuynh hướng đến với văn chương không? Từ gia đình (lúc niên thiếu đến trưởng thành), từ xã hội (trong quân đội)?

Vâng. Có chứ. Ba tôi không muốn cho tôi trở thành nhà văn. Vì vậy, từ những bài đầu tiên trên Bách Khoa dưới tên thật là Trần Quí Sách, tôi phải đổi sang bút hiệu Trần Hoài Thư để dấu ông. Tuy nhiên, về mặt tư tưởng, tôi viết thả dàn. Tôi là người lính mà còn là loại lính dữ  Tận cùng rồi.  Còn chỗ nào hơn là Bình Định. Còn chỗ nào hơn là đơn vị chuyên đi đầu và chết đầu như là đơn vị thám kích ? Đó là lý do tại sao tôi viết rất nhiều và bài văn của tôi cũng bị Bộ Thông Tin ở SG kiểm duyệt rất nhiều. Nhà văn tác chiến sướng là ở chỗ đó.

 

Nguyễn Thị Hải Hà

nguồn: http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa.html