Category Archives: Phùng Thăng

Oreste hôm xưa và Oreste hôm nay

Nếu Jupiter nhân danh Thượng Đế, thì ông quan tòa trong Tòa án quân sự Mặt trận  nhân danh quốc gia.  Không ai có quyền chống đối họ.  Vậy mà chỉ có Oreste đã thách thức, Trong thần thoại Hy Lạp, Oreste nhân danh tự do của con người. Trong tòa án quân sự mặt trận, Oreste Việt nam nhân danh tuổi trẻ. Tại sao tôi ví người quân phâm ấy là Oreste vì anh ta đã dám nói lên một cách uy dũng về cái quyền của tuổi trẻ của anh.

Oreste của thời chiến Việt Nam:

… Tôi nhân danh tuổi trẻ Việt Nam, kết án Cộng Sản, tư bản đã đưa đất nước tôi vào cuộc chiến tương tàn. Chúng tôi là nạn nhân từ những thế lực. Nếu kết tội là kết tội những ông lãnh tụ đã không biết thương dân tộc mình. Chúng tôi không gây nên cuộc chiến này. Chúng tôi không có tội. Nếu các ông không bắt tôi ở tù chung thân, tôi sẽ đào ngũ nữa. Tên lính lạnh lùng nói. Ông toà đập chiếc búa gỗ lên bàn, nói lớn:

Bị can trở về hàng. 

Tên quân phạm trở về chỗ ngồi, nhìn ra ngoài cửa sổ.

Toà nghị án. Có tiếng xê dịch khô khan nặng nề trên hàng ghế chánh thẩm. Đám quân phạm được đẩy lên xe, chỉ còn lại lưa thưa những người thân nhân trên hàng ghế chờ đợi. Ông trung úy ủy viên chính phủ ra ngoài hành lang xem báo. Tên trung sĩ quân pháp phụ trách việc gọi tên bị can đã xách xe chạy rong ra phố. Đám lính dàn chào ngủ gục trên ghế.

Nhân danh quốc gia Việt Nam, tôi long trọng tuyên bố các bản án …

Ông quan tòa trở ra phòng lúc 12 g 30. Ông bắt đầu đọc bản án. Một con chim sẻ vụt bay vào hội trường. Tù ở. Tù treo. Tha bổng. Cái danh sách dài như vô tận khiến ông phải ngừng lại, uống nước lấy hơi rồi tiếp tục đọc tiếp. Chỉ có những chiếc bàn chiếc ghế trong hội trường vắng ngắt mới nghe những lời tuyên án của ông.
(trích Cảm Tạ Văn chương của THT sắp xuất bản)

Oreste  của huyền thoại Hy Lạp:

Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967)

IMG_0280

Những Ruồi.Bản dịch của Phùng Thăng từ  Les Mouches của J.P.Sartre.   Thanh Hiên xb 1967, Thư Án Quán sưu tập, chụp, đóng bằng bìa cứng có bao jacket cover ở ngoài. Số lượng thực hiện là   2 tập.  Một dành cho Phùng Thăng. Và một dành cho THT.  Như là cách để biểu lộ sự tri ân đến  một dịch giả  trẻ đầy trí tuệ  đã cống hiến một dịch phẩm giá trị cho văn học VN, phải bị chết thảm khốc dưới bàn tay Miên quỉ Polpot vào năm 1975.

Trích văn

 

JUPITER:

Oreste ! Ta đã tạo người và ta đã tạo nên mọi sự : hãy nhìn đây. (Những bức tường của ngôi đền tự mở rộng. Bầu trời hiện ra, nhấp nhánh những ngôi sao xoay vần. Jupiter đứng ở cuối sân khấu. Giọng nói của Thần đã trở nêt to khiếp – máy vi âm – song người ta vẫn còn hơi nhận rỏ.) Ngươi hãy nhìn những hành tinh kia đang vận chuyển trong trật tự, và không bao giờ và chạm nhau: chính ta đã thu xếp sự vận hành của chúng, tuân thủ có công lý. Ngươi hãy nghe hòa điệu của những tinh cẩu, cái bài ca cảm tạ vĩ đại của khoáng chất đang vang dội khắp bốn phương trời (Ca nhạc.) Do ta mà những chúng loại được tồn tại mãi, ta đã ra lệnh rằng một người luôn luôn sinh ra một con người và con của loài chó là chó, chính do ta mà chiếc lưởi dịu hiền của những cơn thủy triều đến liếm nhẹ trên bãi cát và rút lui vào giờ nhất định, ta làm cây cối tăng trưởng và hơi thở của ta dần lối cho những đám mây phấn hoa vàng bay quanh trái đất. Hỡi kẻ tiếm vị, ngươi không phải đang ở tại nhà mình đâu ; ngươi đang ở trong thế giới như cây gai ở trong thịt da, như kẻ săn bắn trộm ở trong khu rừng của lãnh chúa; vì lẽ thế giới là thiện hảo ; ta đã tạo ra thế giới theo thánh ý của ta và ta là điều Thiện. Nhưng còn ngươi, ngươi đã gây nên điều ác, và những sự vật đang lên án ngươi bằng những giọng lời hóa đá của chúng : sự Thiện ở khắp mọi nơi, đấy là ruột của cãy hương mộc, là vẻ tươi mát của dòng suối, là đường vân của đá lửa, là trọng lực của hòn đá ; ngươi sẽ tìm thấy lại sự Thiện tận trong cả bản chất của lửa và ánh sáng, ngay cả thân xác người cũng phản bội người, vì nó vâng phục những mệnh lệnh của ta. Điều Thiện ở trong người, ở bên ngoài người: thâm nhập vào người như chiếc lưởi liềm, nó nghiến nát người như một ngọn núi, nó mang người đi và lăn tròn ngươi như thể một đại dương ; chính điều Thiện đó đã cho phép người thành công trong công việc xấu xa của mình, vì nó là sức sáng của những ngọn nến, sức cứng rắn của thanh gươm người xử dụng, sức mạnh của cánh tay người. Và cái điều ác mà người quá kiêu hãnh về nó thế kia, điều ác mà người tự nhận mình là tác giả, điều ác ấy là gì nếu không phải là một phản ánh của thực thể, một lời thối thác, một hình ảnh lừa phỉnh mà ngay cả sự hiện hữu của nó cũng được nâng đở bằng điều Thiện,

Hãy trở về lại nơi chính mình, Oreste : cả vũ trụ đang bất bình ngươi, và ngươi chỉ là kẻ yếu đuối trong vũ trụ. Hãy trở về lại với bản tính của mình, hỡi đứa con lạc tính: hãy nhìn nhận lỗi lầm minh, kinh tởm nó, nhổ vứt nó ra khỏi người như một chiếc răng sâu tấy mủ. Nếu không,  biển cả  sẽ rút đi trước mặt người, những dòng suối sẽ khô cạn trên đường người đi, những hòn đá cuội và đá tảng sẽ lăn ra khỏi đường và đất sẽ mủn ra dưới bước chân người.

ORESTE.
Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.

Những bức tường khép gần lại, Jupiter tái hiện, chán nản và mệt mỏi; Jupiter đã lấy lại giọng thường.

JUPITER:
Ta không phải là vua của người sao, hỡi loài sâu bọ vô sỉ. Vậy chứ ai đã tạo ra ngươi?

ORESTE:
Chính ngài. Nhưng lẽ ra ngài đang nên tạo ra tôi với tự do trong hồn.

JUPITER:
– Ta đã ban cho người tự do để phụng sự ta.

ORESTE
– Có thể như thế lắm, song tự do đó đã quay lại chống đối ngài, và cả tôi lẫn ngài đều không thể làm gì được cả.

JUPITER.- Dữ chưa ! Giờ ta mới nghe một lời tạ lỗi.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967 từ trang 122-124)

 

Ấm lòng (7): Sau hơn hai mươi ngày không viết

 

Tôi đang gõ đây. Âm thanh của tiếng gõ vào keyboard trên từng con chữ, đã nghe vang vang niềm vui hòa tấu. Lòng tôicũng hòa theo tiếng gõ của nhịp timi.

Chị H.Ch. (VN).

Thư chị ấm lòng lắm. Xin được trích:

Chào anh Trần Hoài Thư,

 

Tuần trước tôi có đi Saigon và may mắn được gặp gỡ, trò chuyện với  anh PVN. Quán café Street Talk nằm trên một đường phố yên tỉnh hiếm hoi của đất Saigon.  hôm ấy  tôi, vợ chồng  anh LKT-KQ và anh PVN đã có một buổi sáng thú vị quên cả thời gian trôi qua. Cám ơn anh Trần Hoài Thư đã gửi tặng cho chúng tôi Thư Quán Bản Thảo số 59 chuyênđề về dịch giả Phùng Thăng .

Tôi vô cùng xúc động và sửng sốt khi  Đọc  những dòng viết về Phùng Thăng, dịch  giả trác tuyệt đã từng làm cho tôi kinh ngạc và thán phục. Tôi luôn nghĩ bà luôn đứng ngoài  cuộc đời chúng ta , cao  hơn chúng ta , không là đàn  ông hay đàn bà,  còn trẻ hay đã già. Phùng Thăng có lẻ chỉ là một linh hồn đậu xuống cỏi đời này trong chốc lát. Vì cỏi đời này không là  miên  viển nên Phùng Thăng chỉ để lại  cho đời một làn hương thơm, còn thân xác nàng chỉ là hư ảo, huống gì là thân thế là danh vọng.

Ngay cả cái chết  của bà có khi cũng là một lời cảnh tỉnh cho sự phi lý của cuộc đời này.

Cho nên tôi cũng rất lo khi anh Trần Hoài Thư dự tính  ra mắt một số  Thư Quán Bản Thảo  về Phùng Thăng.

Làm sao  chúng ta có thể  tìm lại một làn hương?

Không ngờ  TQBT số 59 đã  trở thành một bia mộ thấm đẩm  lòng ngưởng mộ, yêu kính  của người miền Nam dành cho con người tài hoa bạc mệnh.

Tôi tin rằng sau số 59, TQBT sẽ tiếp tục nhận được nhiều hơn nữa những  thông tin, những kỷ niệm về Phùng Thăng.

Xin ghi lại  mấy câu hát  tôi tưởng chừng như  nói về Phùng Thăng:

Tìm em xa gần,
đất trời rộn ràng
Tìm trong sương hồng,
trong chiều bạc mệnh
Trăng tàn nguyệt tận
chưa từng tuyệt vọng đâu em
Tìm trong vô thường
có đôi dòng kinh,
sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em
dưới chân cội nguồn
Tôi mời em về
đêm gội mưa trong
Em ngồi bốn bề
thơm ngát hương trầm

                        (Đóa Hoa Vô Thường)

                                      TCS

 

 

Đã

 

***

D. ơi…

 

Ấm Lòng (3)

Hôm kia tôi nhận được TQBT số mới, tôi rất vui mừng khi thấy anh vẫn còn làm tiếp công việc hiếm quý ấy.  Tôi càng vui hơn vì đọc được những bài viết về Phùng Thăng là người tôi rất ngưỡng mộ nhưng hiếm khi nghe nhắc đến…  Có lẽ trong lứa tuổi của tôi, tôi thuộc loại “oldies” nên những người tôi lưu tâm tìm hiểu (và thích các sang tác của họ) đều khá lớn tuổi hơn tôi nhiều…  Có cái nhìn rõ rang hơn về cuộc đời Phùng Thăng, tôi cảm thấy đau đớn và phẫn nộ, anh ạ.
Lần nữa, cám ơn anh.
Ph.Ng
Garden Grove, CA

Ấm lòng (2)

Thân gửi anh Thư,
Lần này, xin anh Thư một tập thơ CÀO LÁ NGOÀI SÂN DEM của Đinh Cường mà anh vừa in.
Cảm ơn anh về số TQBT viết về Phùng Thăng vừa nhận được.
Số báo chủ đề này thật độc đáo, có một không hai về nhiều phương diện.
Xin chúc anh chị nhiều an lành
TT
Hayward, CA

TQBT 59 “Tưởng niệm Phùng Thăng” đã được phát hành

. Tôi đang in những tập cuối cùng để dứt điểm. Kỳ báo này sẽ không để   lên mạng, hay phổ biến cho bất cứ một ai qua những file unicode. Tôi ao ước người đọc sẽ thấy cái công trình khổ nhọc trăm bề của chúng tôi. Nó không phải dễ dàng như click vào mouse hay zoom in zoom out. Trái lại người đọc sẽ mở ra từng trang giấy để thấy giá trị của việc làm này. 

Vì vậy, Xin đừng luân lý giáo khoa thư  chúng tôi về lý do tại sao không upload lên mạng.

(Muốn có  báo xin gởi thư về chúng tôi. Nếu ngại phải mang nợ thì kèm tem, kèm tiền. Nhưng hãy để chúng tôi có được cái quyền từ chối để chứng tỏ có tiền nhiều khi mua TQBT cũng không được ! Nếu ở trong nước thì chờ có ai quen về VN, nhờ họ mang về  dùm. Mỗi năm hàng trăm ngàn người về mà.)

Lúc này tôi chỉ làm việc riêng như in ấn, viết lách vào sau nửa đêm về sáng.Lúc ấy rảnh rổi, tâm trí thoải mái, làm việc rất thoải mái. Ban ngày xem như không thể làm việc riêng vì phải lo chăm sóc người bệnh như giúp Y. làm vệ sinh cá nhân, nấu ăn, đi chợ, viết bill, tập tành physical therapy cho Y, giặt giũ, đẩy xe rảo quanh nhà… cho Y uống thuốc, giúp Y bước xuống giường hay lên giường ….

Với  số báo kỳ này, bề dày là 280 trang, thì hai trăm trang đều dành cho PT. Đó là một chuyện lạ lùng khi tôi nghĩ sẽ chẳng bao giờ làm nổi. Sao mà làm được khi tôi là một primary caregiver phải tất bật với những công việc phải chăm sóc một người bạn đời bị bán thân bất toại, tôi  không thể rời nhà hơn một tiếng đồng hồ,  khi mà PT ra đi chẳng để lại dấu vết. Hay chẳng ai bận tâm nhắc nhở. Nếu có nhắc thì hầu hết dành cho Phùng Khánh.   Ngay cả những tác phẩm mà PT để lại cho đời cũng xem như mõi mắt trông tìm như Buồn Nôn, Những Ruồi, Sói Đồng Hoang…  Vậy mà bây giờ tôi có đủ. Có cả chứng liệu  Koh Tang. Có cả Thổ Chu. Có cả hồi ký của ông đại sứ… Có cả cảnh hai mẹ con bị trói chặt… Có cả học trò viết về cô giáo dạy Triết lúc cô mới 23 tuổi, mà bây giờ, cứ nhắc đến một mùi hương kỳ lạ, và một màu áo đen không bao giờ quên, hay có cả những Kẻ Lạ Ở Thiên đường, một tác phẩm mà chưa ai nhắc, khi PT quyết tâm dịch, dù sau những ê chề bởi những trang phê bình hằn học chê bai về cuốn “Những Ruồi”… Có cả thơ Trần Xuân Kiêm làm cho Phùng Thăng với thi tập Tình Không.  Vâng, tôi đã có đủ.

Đó không phải là do một nguồn ẩn lực huyền diệu nào đó  ?

Ví dụ cuốn Kẻ Lạ Ở Thiên Đường của Simone Weil do PT dịch. Người thân của PT cho biết bản thảo đã bị thất lạc sau năm Mậu Thân. Tìm trên Net, không có dấu vết.
Tìm qua các thư mục trên mạng của Yale, Havard, Cornell hay Quốc Hội Hoa Kỳ: cũng không. Tìm ở thư viện Saigon ha nội có tầm cở quốc gia cũng không. Vậy mà tôi lại tìm ra nó – tại một thư viện tỉnh. Mới biết là PT tự chọn đề tựa này cho một tập dịch 6 lá thư của Simone Weil gởi cho một linh mục để bàn luận về ý nghĩ địa ngục thật và thiên đàng tưởng tượng…

Và qua anh ĐC cùng đôi bạn trẻ ở quê nhà sốt sắng giúp đỡ, tôi mới biết là tác phẩm này đã được An Tiêm xb vào năm 1973 !

KẺ LẠ Ở THIÊN ĐƯỜNG được chọn làm tên chung cho bản dịch sáu bức thư gởi cho linh mục Perrin và năm bài trần thuyết về năm đề tài tôn giáo. Qua toàn thể văn phẩm, tâm hồn Simone Weil vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một Quê Hương tâm linh đích thực cho mình. Chính sự sáng suốt ấy đã đưa Simone Weil đến chỗ khước từ thiên đường hữu hạn để chọn hỏa ngục vô biên vì quá xót thương và muốn chia sớt những lầm than của trần thế. Trong nguyện ước của nàng, như có vọng âm những lời phát nguyện của các vị bồ tát Phật giáo từ muôn nghìn thế kỷ. Trên thiên đường hữu hạn ấy, nếu được chọn, Sìmone Weil sẽ vẫn mãi mãi là một kẻ xa lạ lạc loài, vì nàng không ước muốn. Nàng chỉ ước muốn Thiên Đường chính thực, Quê Hương tâm linh bình đẳng cho tất cả Loài Người.

**

.

Cám ơn ĐC về bài thơ  tháng ba. Bài thơ tôi được đọc trong Cào Lá Ngoài Sân Đêm do Thư Ấn Quán xb cách đây khoảng một tháng. Hay quá nên tôi đi vào trang đầu. Và cũng vì hay nên phải làm cái gì đó để trân trọng. Tôi in thêm một phụ bản màu Thanh Tâm Tuyền do ĐC vẽ, như bài thơ đã cảm tác nhân ngày giỗ của TTT.

tháng ba

 nhớ ngày giỗ Thanh Tâm Tuyền

 tháng ba hoa đã vàng quanh giậu
rừng mưa sương ướt cỏ lên mầm
xanh non lá cũng vừa reo dậy
trên nhánh khô buồn gió cuối đông

 chim hót vào xuân tiếng hót trong
con chim màu đỏ gạch tươi hồng
tôi trông nó tuần nay mới thấy
lại nhảy vờn thoắt hiện thoắt dông

 Kiệt Tấn ơi con vịt vàng của bạn
chết bên đường bạn khóc rống năm xưa
tôi: con sóc vừa nhảy tơn mới đó
mà sát na xe đã cán tươi rồi

 tôi buồn quá sao mà kỳ lạ rứa
bỗng khi không động đất chết bao người
có cô Nhật Michiko yêu Sơn lắm
nay Sơn mất rồi mất đã mười năm…

 và tháng ba hoa đã vàng thương nhớ
sáng nay đi vòng mấy bận rừng sau.

Virginia, March 22, 2011

Đinh Cường

(Trích Cào Lá Ngoài Sân Đêm – thơ Đinh Cường
Thư Ấn Quán xuất bản tháng 1-2014)

Lời kêu gọi

Để số chủ đề: Tưỡng niệm nữ dịch giả Phùng Thăng  ( chắc chắn là phát hành vào tháng 3-2014) được tốt đẹp,  chúng tôi cần những tác phẩm sau đây ( chỉ được xuất bản trước 1975):

– Buồn Nôn (Phùng Thăng dịch)

– Sói đồng hoang (PT dịch chung với Chơn Hạnh)

– Bắt trẻ đồng xanh (dịch chung với Phùng Khánh)

– Câu chuyện một giòng sông (dịch chung với Phùng Khánh)

– Những ruồi(Phùng thăng dịch

-Kẻ lạ ở thiên đường (Phùng Thăng dịch)

– Lão ngư ông vfà biển cả (dịch chung với Phùng Khánh)

Nếi quí bạn có, xin  vui lòng sao chụp  một chương mà quí bạn tùy ý chọn gởi về để chúng tôi đánh máy gấp.

Địa chỉ điện thư:

tranhoaithu@verizon.net

Chúng tôi hết lòng đa tạ

Trần Hoài Thư

(chủ trương tạp chí Thư Quán Bản Thảo)