Category Archives: sang tac bang huu

TRẦN HOÀI THƯ, NHÀ THƠ CẦM SÚNG

Người viết: NHƯ KHÔNG

cropped-03222741_the1bb9di-tre1babb-ce1bba7a-tht.jpgTHT (thời trẻ)chuanuy

 

 

Lời chũ Blog:  Tôi vừa nhận bài viết: “THT, nhà thơ cầm súng” từ một người bạn văn chuyển đến.  Tác giả   là Như Không. Bài viết, từ tháng 3-20017, có đề tặng tôi ở cuối bài, nhưng mãi đến bây giờ tôi mới được đọc. Tôi xin phép được đăng lại, và xin được bày tỏ lòng cám ơn chân thành  đến bạn thơ Như Không 
Ấm lòng lắm bạn ơi ! (THT).   
______

Biết và đọc anh từ khá lâu,trước 75.Mấy mươi năm trôi qua khi đầu đã bạc lại được biết thêm về anh qua các bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh.Lê Mai Lĩnh sư huynh thuộc loại người thẳng như ruột ngựa,thích và phục ai là nói thẳng mà đã không thích thì cũng…khó lòng mà yên thân được với anh.Trong bài viết của mình,Lê huynh không dấu diếm sự ngưỡng mộ với anh Trần Hoài Thư.( ” Trần Hoài Thư,tên cowboy hai súng ” – Bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh ) Ngưỡng mộ là phải, 75 tuổi trên đất Mỹ,anh cặm cụi cùng với vợ đến một thư viện cách nhà 5 giờ lái xe để sao chép lại mỗi ngày một cách rất thủ công những đầu sách thực sự giá trị in tại miền nam VN trước 75. Đem về lại hì hục in ấn rồi đóng thành sách để…tặng không cho những người yêu văn chương miền Nam và những người thực sự có nhu cầu.

Đối với tôi,những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất.Họ phải ra trận,vừa đánh giặc vừa viết,không có cơ hội để xuất bản.Sau năm 75 không ai đếm xỉa đến văn chương của họ.Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ “. Anh bảo thế.Thư Quán Bản Thảo và cơ sở in ấn của anh,Thư Ấn Quán đã ra đời như vậy. Có lần một sĩ quan Dù gửi thư cho anh nhờ tìm tác giả bài thơ Biên Cương Hành ( của Phạm Ngọc Lư ) để cảm ơn vì trong khi anh sĩ quan này bị thương chờ trực thăng tới bốc,anh đã đọc bài thơ BCH trên báo Văn,rất trùng hợp với những suy nghĩ của anh. Vào năm 2010 lại có người hỏi thăm anh về nhà thơ Lê văn Trung vì khi bị tù đày trong trại tù CS,anh đọc được những bài thơ của tác giả Lê Văn Trung và còn nhớ đến bây giờ. Trần Hoài Thư như đã trở thành một chiếc cầu nối cho những độc giả và những người làm văn nghệ nổi tiếng một thời mà sau 75 họ không còn tác phẩm nào được tái bản hoặc xuất bản vì nhiều lý do,trong đó lớn nhất là vẫn lý do chính trị.
Trần Hoài Thư muốn dành thời gian còn lại của anh để bù đắp cho những tác giả miền Nam trong thời chiến nhưng có lẽ anh còn quên một điều,với chúng tôi – dĩ nhiên có cả anh trong đó – những người lính đi đánh trận thì “ tiền lính tính liền “ Lấy đâu ra tiền để dành dụm mà xuất bản ? Biết ngày mai đi hành quân là “ xả láng “mọi thứ,làm sao biết được mình còn sống không để mà trở về ?

…Trần Hoài Thư cũng là một người lính tác chiến.Nguy hiểm hơn nữa,anh thuộc Đại Đội Thám Kích của Sư Đoàn 22 Bộ Binh.Một Sư Đoàn chỉ có một đại đội Thám Kích, (1)  nhiệm vụ của họ là nhảy trực thăng – còn gọi là nhảy Diều Hâu – hay bằng các phương tiện khác vào vùng địch,tìm cách tiếp cận để nắm được quân số,vị trí và các trang bị chiến đấu của họ để báo về Bộ Tư lệnh của sư đoàn. Vì thế từ quan cho đến lính đều là những người ưu tú và cực kỳ gan dạ vì khi đã vào đất địch bằng các đơn vị nhỏ như vậy thì chết dễ như bỡn vì thiếu sự yểm trợ từ chính đơn vị của mình. Dân Thám Kích “ chê “ mấy thằng du kích vớ vẩn. Bọn này chỉ rình rình núp đâu đó,cắc cù một hai phát là ôm súng co giò chạy biến. Thám Kích “ làm ăn “ lớn hơn nhiều. Phải là cỡ chính quy cấp sư đoàn,” đồ chơi “ toàn thứ dữ như cỡ thượng liên 12.8, vuốt nhẹ cò súng một chút như vuốt má con gái là đạn bay hàng tràng , như cối 82 ly, cối 120 oạch đùng vang dội,miễng bay rào rào rát mặt cháy tóc, như DKZ bắn thẳng nổ dữ dội những ngày ra trận. Những ngày chiến trận đó Trần Hoài Thư đã hai lần bị thương, có một lần đạn “ chê “ anh,viên đạn xoi một lỗ bên một ống tay áo,đục thêm một lỗ khác trên ngực áo,cày một đường văng mất một đầu vú rồi lại chui ra ở ống tay áo bên kia. Dân tác chiến là như vậy,có lúc đạn bắn tơi bời hoa lá,kêu chút chít như chuột kêu chung quanh mà chẳng hề hấn gì. Có lúc một trái pháo trời ơi đất hỡi bắn hú họa mà lại trúng miễng chết lãng nhách. Những ngày đó tỉnh Bình Định thuộc Liên Khu 5 của Bắc Quân là căn cứ địa của sư đoàn Sao Vàng Bắc Việt khét tiếng, có thung lũng An Lão bốn bề núi dựng nằm ở phía Bắc.Nhiều khi ranh giới mong manh giữa hai bên chỉ là 1 dòng sông nhỏ, chiều ngang chưa bằng nửa tầm đạn bắn. .

Dòng sông phân tranh hai vùng thù nghịch
Đêm xuống đồi gặp con nước nổi
Súng đưa khỏi đầu
Từng con * một vượt sông
…………………………………
Rồi trước khi trèo ngọn Kỳ Sơn
Anh lạc trên cánh đồng trăng mênh mông
Không biết nơi nào là cõi dữ

( Đêm vượt sông )
Chú thích : * “ Con “,tiếng lóng nhà binh chỉ người lính

Ngay từ khi nhảy ra khỏi trực thăng có nơi nào không là cõi dữ ?Dân Thám Kích trang bị nhẹ, chỉ mang dao găm,súng M16 với cấp số đạn gấp hai lần,loại súng khi bị ” dính ” đạn vào người thì đầu vào chỉ bằng mút đũa mà đầu ra phá một lỗ toang hoác. Và rất nhiều lựu đạn,cả M26 hoặc M87. Họ không xài M72 chống tăng vì họ gần như chỉ cận chiến nếu gặp địch.

“ Nước nguồn đổ xuống ngày binh lửa
Những xác nào đã thúi hôm qua
Ai bạn ai thù sao quá thảm
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia

Con sông chia cắt đôi bờ hận
Cột khói còn lưu luyến chiến trường
Có ai chạy loạn bơi xuồng kể
Một thước đi,xác ngập thước đường “

( Trung đội )

Bài thơ gợi nhớ lại chiến trận núi Chu Pao ở rừng núi cao nguyên thuộc Vùng 2 Chiến Thuật với hai câu thơ nổi tiếng :
“ Chu Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi tấc khăn tang một tấc đường “
Chiến trận núi Chu Pao ngày đó là đồi núi,đôi khi 2 bên chỉ cách nhau một tầm ném lựu đạn. Bên này ném thì bên kia chụp trái lựu đạn ném trả,chết… tính sau vì cứ nằm yên thì còn dễ chết hơn.
… Khi Thư nhảy vào vùng địch, những thây người chết trong chiến trận của cả hai bên bị bỏ lại đã sình thúi trong thung lũng An Lão bốn bề gió hú. Họ nằm đó, lặng lẽ nhìn trời hay úp mặt xuống đất, xác thân tan nát vì bom đạn, vì hỏa lực T.O.T ( times on target ) đang lặng lẽ phân hủy. Mùi xác chết xộc vào mũi Thư và các người lính của anh theo tiếng gió réo đang thổi lồng lộng lật tung chiếc nón sắt đang đội :

“ Địch cho Trung Đội qua eo chết
Hai bên sườn đại liên đan nhau
Nổ.Nổ dòn
Đất đá kêu đau
Sủi bọt 
Khói bốc lên
Bốn bề dội vào vách xám
………………………….
Một hai ba…Lộn.Nằm co quắp
Còn lại vẫn ào lên ào lên
Đừng bò ! Đừng bò !
Trung đội phó hét cuồng điên
Cỏ tranh bắt mồi cháy mạnh
Gió tạt khói mù
Bốn bề khói rợp
Khói cay cay cặp mắt nổ tròng
Khắp bốn bề gào thét xung phong
…………………………………
Cao điểm chiếm rồi
Vui mừng quá độ
Mà sao người lính Truyền Tin rơi lệ
Báo cáo trong tiếng mất tiếng còn
Về những thằng bị kiến cắn * ngủ yên

( Eo chết )
-Chú thích : * Bị “ kiến cắn “ : Tử trận

Bài thơ hào hùng đúng mùi chiến trận. Người viết bài này cũng từng ở trong những tình huống tương tự : Không được bò.Dỏng lưng lên lăn xả vào họng súng bên kia thì còn có cơ may sống sót. Xạ thủ đại liên M.60 cũng xách cây súng nặng chịch vừa chạy vừa tưới đạn về phía trước. Trong kinh hoàng khói lửa, những tiếng nổ của lựu đạn và những loại súng khác nhau từ cả hai phía làm hai tai điếc đặc,khói súng mù mịt trên chiến trường và tiếng thét xung phong dồn dập làm cho người lính trận như say, chỉ có một hướng lao về phía trước không còn nghĩ gì tới chết sống. Nhưng khi chiến trận tàn rồi,tiếng nổ đã im,rừng bỗng trở nên yên ắng kỳ lạ và lúc đó mới biết ai còn ai mất.Và rớt nước mắt thương đồng đội của mình,mới sáng nay còn chia đôi điếu thuốc giờ đã vĩnh viễn nằm xuống không kịp trối trăn một lời. Và cũng là khi thấy thấy máu của mình chảy ra từ đâu đó mới biết mình cũng bị thương:

“ Chỉ giữ lại trên thân ta,này vết sẹo
Để khi buồn,sờ lại nhớ thời xưa
Dấu vết hôm qua khói lửa mịt mù
Và kinh hãi
Trời ơi
Ta vẫn còn sống sót

( Tạ Từ )

Chỉ có những người trực tiếp cầm súng bắn nhau mới biết anh nói đúng. Nghĩ lại mà rợn người, chẳng biết làm sao mà mình còn sống được. Đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn ? Vậy mà khi bị thương ra khỏi Quân Y Viện,vết thương vừa lên da non lại nhớ đồng đội,nhớ chiến trường. Nhớ mùi cỏ cây hăng hắc nồng nàn mỗi sáng đi mở đường trong rừng già,nhớ mùi những thân cây bị bom cháy đen vươn những cánh tay khẳng khiu trên trời những chiều đóng quân,nhớ những cánh rừng im lặng rợn người không một tiếng chim kêu vì muông thú đã bỏ đi hết do bom đạn Và chân lại muốn đi,đi về phía có ánh lửa chớp sáng trên đầu họng súng,nơi có những đồng đội chia nhau từng ca nước uống sặc sụa mùi bùn đỏ múc lên từ những vết xích xe tăng mà cơn mưa đêm qua còn để lại. Suối có khi rất gần nhưng không thể xuống được. Lọ mọ kéo nhau xuống lấy nước lũ “ mất dạy “ phục sẵn trong rừng bắn cho nát gáo. Nhớ những đêm nằm rừng,quần áo thấm nước mưa và mồ hôi vào ban ngày đã khô quắt lại,nằm trên võng treo bên dưới chiếc Poncho, cây súng dựng sẵn một bên. Nhớ những cánh rừng cỏ tranh cao lút đầu người,những ngày lội trong rừng cỏ tranh sắc như dao cứa đứt thịt da. Nhớ những con suối mùa khô xâm xấp nước,lá cây rừng rụng xuống hàng hàng lớp lớp,khi mang giày trận lội qua là chắc chắn những kẽ ngón chân sẽ lở loét,nhớ cả những vết muỗi rừng chích xuyên qua lớp poncho và bộ đồ trận đã dày cui vì mồ hôi và nhựa cây rừng.Và cứ thế, như có một sức hút kỳ lạ không giải thích được,người lính chiến miền Nam lại tiếp tục bước chân về phía chiến trường nơi rừng già,nơi tăm tối đến nổi không có lấy một chút ánh sáng hỏa châu màu đỏ quạch để soi sáng cho họ những cái chết đang rình rập trong bóng đêm mù mịt.

“ Những lần chuyển quân dù chẳng biết về đâu
Nhưng chúng tôi đều biết những gì đang chờ đợi sẵn
Như thể những viên đạn đồng trong lòng cơ bẩm
Xẹt ra khỏi nòng rồi kiến cắn tê mê
……………………………………..
Hãy mừng dùm anh dù bầm dập tả tơi
Anh vẫn được tăng phái xuống đồi
Tiếp tục những lần chuyển quân
Về những nơi mình không biết

( Người lính trở về với chiến trường )

Mà ngọn đồi nơi người lính Thám Kích Trần Hoài Thư “ được “ tăng phái thì có yên bình một chút nào đâu ! Vẫn là nơi chết chóc vang động tiếng pháo của Bắc quân đe dọa sự yên bình trên mảnh đất miền Nam nơi anh sinh ra,nơi có Mẹ Cha,có bầy em đang tung tăng đến trường mỗi sáng,nơi có những gia đình đoàn tụ mỗi ngày bên mâm cơm tối đạm bạc dưới ánh đèn.Và anh lại khoác áo trận để trở lại chiến trường cùng với đồng đội của mình dù biết rõ cái chết vẫn đang chờ anh qua cái họng đen ngòm của chiếc nòng súng,của chiếc lưỡi lê 3 khía nhọn hoắt trên nòng cây AK 47 sản xuất tại Liên Sô hay của Trung Cộng đang nhắm vào yết hầu của dân miền Nam.

“ Tôi qua đồi xám mây mờ núi
Thương về đâu một lũ sáo rừng
Hôm qua đồi ngập hàng trăm xác
Đạn pháo đào sâu bãi chiến trường
………………………………………
Có ai như thể người lính Thượng
Ngồi khom trên bờ đá thổi khèn
Hôm qua có những hồn ma lẻ
Lạc tìm về buôn bản cao nguyên

Có ai dưới lớp mồ hoang dã
Nằm xuôi chân mắt mở trợn trừng
Chiều nay sao mọc về phương Bắc
Sao ruột lòng vắt đỏ phương Nam

Cỏ tranh lớp lớp che đường dốc
Phòng tuyến buồn hiu nhuốm nắng chiều
Trận đánh cũng đi vào quên lãng
Sao còn rờn rợn những hồn xiêu “

( Đồi xưa )

Ra vậy ! Người lính Thám Kích Trần Hoài Thư,với tâm hồn của một người làm thơ đã nhìn thấy những con sáo bay về rừng trong chiều chuyển quân.Tâm hồn nhạy cảm dễ rung động trước cái đẹp của anh ghi nhận được những điều nhỏ nhoi tinh tế nhất và cả những hình ảnh dữ dội của cái chết khi nhìn thấy những người lính từ phương Bắc xa xôi nằm chết banh ruột trên đất miền Nam. Trên đất cao nguyên ngày đó có người lính làm thơ Trần Hoài Thư với những thị xã nhỏ bé “ đi dăm bước đã về chốn cũ “ như lời thơ trong một bài thơ của Vũ Hữu Định. Vùng đất đỏ quạch bụi bay mù trời dưới những vòng bánh xe GMC những chiều chuyển quân và ngập ngụa bùn đỏ vào những ngày mưa mù mịt của cao nguyên làm anh da diết nhớ nhà :

Anh ở trên rừng với Thượng với Kinh
Với những đại ngàn mặt trời mất tích
Những người chung quanh màu da đen nám
Nên cuộc đời anh cũng phải nám đen

Anh ở trên rừng mưa ngày mưa đêm
Không cần cùm chân mà chân khó bước
Bước một bước lên bùn già chân trước
Bước hai bước lên bùn non chân sau
……………………………………..
Anh ở trên rừng thương em nhớ con
Không biết làm sao để về dưới nớ
Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ
Cay cả cuộc đời lính thú cao nguyên “

( Anh ở trên rừng )

” Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ ” Ôi cha ! Câu thơ tuyệt vời !
Một ngày anh có khách đến thăm giữa núi rừng hiu quạnh,nơi chỉ có hầm hố súng đạn và những người lính trận dạn dày sương gió:

“ Em lên thăm anh mang mùi thiếu nữ
Nhà anh đây những hố hầm phòng ngự
Không có gì ngoài ít bài thơ
Không có gì ngoài những hoa mười giờ
Đỏ thắm cả một triền đồi heo hút

Em lên thăm anh áo màu hoa cúc
Mà hầm anh lâu quá không sửa sang
Em xem kìa,lựu đạn với dao găm
Không có cả một tấm hình để thêm tươi mát
Không có bức tranh dù là tĩnh vật
Để ấm cuộc đời trong tuổi thanh niên “

( Em lên thăm anh )

Và cứ vậy,hết cao nguyên lại xuống đồng bằng. Trên bốn vùng chiến thuật,những người lính trận miền Nam VN trải qua tuổi thanh xuân của mình trong lửa đạn. Họ tiếp tục có mặt nơi những tuyến đầu,nơi có những trò chơi chết người của súng đạn đang chờ đợi họ,không ngại ngần,không dè dặt để giữ vững sự bình yên cho đất nước.

“ Diều hâu đã về như một lũ âm binh
Kẻ trước kẻ sau lao vào địa ngục
Đêm không thấy đường giữ dây khỏi lạc
Chúng tôi băng đồng nước ngập
Giải cứu quê em

( Đêm tiếp cứu chợ Huyện )

Nhưng khi anh và các đồng đội,những “ diều hâu “ lao tới nơi địch về thì có khi đã không còn kịp nữa: Ngôi trường nghèo nàn tả tơi ở một vùng quê xa xôi trong cơn binh lửa đã cướp mất mạng sống của cô giáo trẻ,để lại một bầy học trò cũng nghèo nàn không kém đang sợ hãi nháo nhác bên xác cô giáo như bầy gà con mất mẹ :

“ Lũ bé quỳ bên xác cô trẻ
Đặt chùm hoa mếu máo gọi cô về
Cô không về,cô bỏ dạy,cô đi
Cô bỏ chúng con cô về xứ khác
Ta cắn bầm môi…em ơi,ta khóc
Em không về em cũng bỏ thanh xuân
…………………………………
Em bé quê ơi cho ta nhành bông
Một nhành bông quỳ vàng như màu áo
Ta đặt lên em.Trống trường ảo não
Như những hồi mặc niệm em tôi.
………………………………….
Ta đã về,và đã trễ,em ơi…

Tôi tin chắc là anh khóc . Vì chính tôi, khi đọc những câu thơ này cũng đang cay cay trong lòng muốn rơi nước mắt. Sự bình yên cho quê hương,cho những ngôi trường nghèo nàn ở những nơi xa xôi đã làm đổ biết bao nhiêu máu. Nhưng những người lính miền Nam đã bị phản bội. Máu xương của các người lính miền Nam, của đồng bào miền Nam đã bị phản bội vào cái ngày mà Richard Nixon,Tổng thống Mỹ bắt tay với Mao Trạch Đông, tươi cười cụng ly rượu mời nhau ở Bắc Kinh vào năm 1972. Trên bàn cờ chính trị quốc tế, do ảnh hưởng của “thầy dùi “ Henry Kissinger là Ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái thời đó – một con ma đi đêm theo kiểu Đại Sứ Henry Cabot Lodge thời Đệ Nhất Cộng Hòa – và những áp lực khác nhau từ nhiều hướng, người Mỹ bỏ bán đảo Đông Dương để hướng về Trung Đông,nơi mà đồng minh Israel thân cận của họ cũng đang lao đao trong vòng vây thù địch của những quốc gia Ả Rập thuộc khối Hồi Giáo. Rồi Hoàng Sa bị Tàu Cộng chiếm. Người lính trận miền Nam vẫn tiếp tục dũng cảm chiến đấu trong vô vọng.
Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết. Quân đội Mỹ bình an rút về nước. Cũng từ đó,các viện trợ quân sự cho miền Nam chỉ còn nhỏ giọt. Máy bay,xe tăng nằm ụ vì thiếu nhiên liệu hoặc phụ tùng thay thế. Pháo yểm trợ cho các trận đánh chỉ bắn cầm chừng vì không còn đạn dự trữ trong khi Bắc quân rải pháo như mưa xuống các vùng hành quân bị cô lập vì không còn gì để tiếp tế cho họ,cho những người lính cắn răng chiến đấu trong sự thiếu thốn đến tận cùng. Khí tài,súng đạn vào những ngày tháng 4/75 chỉ còn đủ dùng trong một tháng,trong khi các nước đồng minh thuộc khối Cộng Sản tiếp tục tăng viện với số lượng không giới hạn các phương tiện chiến tranh cho Bắc quân. Vào những ngày cuối tháng 4/ 75, do thông tin liên lạc hoàn toàn bị cắt đứt từ trước đó nên đã có một đơn vị thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không hề biết tin tức gì về chiến sự. Họ đang hành quân trong rừng già nhưng hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy của mình. Khi lò mò ra khỏi rừng về đến Tân Uyên thượng nguồn sông Đồng Nai họ đã bị bắt sống và cả 28 người lính đều bị xử tử, xác bỏ trôi sông. Và cuối cùng, điều không thể nào tránh khỏi đã xảy ra : Dương Văn Minh kêu gọi quân đội buông súng đầu hàng vào cuối tháng 4/75.
… Lịch sử sẽ ghi lại những vị tướng VNCH, những quân nhân các cấp thuộc mọi binh chủng đã tự sát vào ngày miền Nam bị bức tử. Lịch sử đã chọn các anh để giao cho phần đen tối nhất, thê thảm nhất. Những người lính phải buông súng khi không hề thất trận và các anh đã không thể có được sự lựa chọn nào khác cho mình. Thế hệ của các anh,rủi thay, rơi đúng vào thời điểm thê lương nhất trong lịch sử VN.

“ Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân

Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai,tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu
……………………………………..
Thế hệ chúng tôi già như quả đất
Râu tóc mỗi ngày mọc những hoang mang

( Thế hệ chiến tranh )

Người lính làm thơ Trần Hoài Thư, vào thời gian này là một phóng viên chiến trường nên chỉ bị tù ba năm nhưng những sĩ quan khác thì triền miên đói khổ trong tù chẳng biết ngày về. Lại một giai đoạn bi hùng khác của quân đội VNCH,rất nhiều người đã bị giết, gián tiếp hay trực tiếp khi trong tay không còn tấc sắt. Nhà cửa họ bị tịch thu. Vợ con họ sống lây lất trong các khu Kinh Tế Mới heo hút trong những vùng xa xôi rừng thiêng nước độc,đầy dẫy bom mìn còn sót lại. Chiến tranh đã đi qua nhưng những ký ức đau đớn vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Trần Hoài Thư :

“ Da ông bạn màu đen
Tóc ông bạn màu trắng
Da của tôi màu vàng
Tóc của tôi màu trắng

Màu trắng của Daksuk
Màu trắng của Mang Giang *
Màu trắng của mù sương
Màu trắng của mây bạc
Thời chúng ta đánh giặc
Nhuộm mãi đến bây giờ

( Trắng )
* Chú thích: Các địa danh của Cao nguyên Trung phần

Những ngày sống trên đất Mỹ nhìn đất trời cô tịch – như rất nhiều những nhà thơ VN khác – lòng anh bùi ngùi nhớ quê hương.

“ Ở đâu cũng vẫn đất trời
Cũng rừng cô tịch cũng đồi tà dương
Cũng ngày nắng cũng đêm sương
Cũng qua cũng lại phố phường người dưng
Cũng trên trời một vầng trăng
Cũng sông vẫn chảy hai dòng ngược xuôi
Nhưng sao lòng lại không nguôi
Nghe như bìm bịp gọi chiều nước lên “

( Xa xứ )

A ! lại con chim bìm bịp ! Loài chim có nhiều nơi sông nước miền Tây có tiếng kêu rất buồn,rất đơn điệu kêu theo những con nước ròng lên xuống.Tiếng kêu mênh mang trên những dòng sông trôi lặng lẽ ra biển,chẳng ai nhìn thấy con chim ở đâu nhưng tiếng kêu cứ vang vang trên dòng nước chảy,tiếng kêu thấp xuống dần rồi tắt hẳn trong những bãi bờ xanh ngắt ven sông. Anh làm sao mà nguôi ngoai được những ngày binh lửa còn váng vất trong trí nhớ. Lòng anh giờ cũng buồn thảm như tiếng bìm bịp kêu một mình trên những dòng sông đỏ màu phù sa của một quê hương bây giờ xa thẳm ngàn trùng.

Bảy mươi lăm tuổi. Đời người không còn mấy nổi. Anh vẫn cặm cụi và tỉ mỉ làm cái công việc của riêng mình hàng ngày,vẫn chăm chút những tác phẩm văn học của miền Nam nhưng sẵn sàng tặng không cho những người còn quan tâm đến văn chương miền Nam một thời chìm trong lửa đạn.
Riêng với tôi, anh vẫn cứ là người lính Thám Kích của gần 50 năm trước. Anh vẫn là người đi đầu, chấp nhận gian khổ và hy sinh như ngày xưa nhưng trên một mặt trận hoàn toàn khác : Mặt trận Văn Học.Văn Học miền Nam.

Viết để quý tặng anh Trần Hoài Thư
Như Không
3/2017

_____

(1) Thật sự Sư Đoàn 22 BB có 4 đại đội thám kích biệt lập. (ghi chú của THT)

Vùng đồi

Trần Hoài Thư

18 năm trước đây, tập truyện Vùng Đồi của Phạm văn Nhàn đã được Thư Ấn Quán xuất bản.

vungdoi

Trong phần ghi nhận cảm nghĩ về tác phẩm này, tôi đã viết như sau:

Xin cám ơn anh chị PVN đã cho tôi được cơ hội tô điểm thêm màu xanh trên Vùng Đồi, một màu xanh kỳ diệu, mà khi tôi đọc xong, tôi lại càng cảm nhận hơn về ý nghĩa của nhân sinh, về màu áo trận, về những con người rất vô danh mà tâm hồn vô cùng lớn lao. Vùng Đồi đã cho tôi thiết tha hơn với cuộc sống, giúp tôi ngẩng mặt với chiếc áo trận xanh bạc màu từ lâu đã bị bỏ quên. ?
Hầm Thư An Quán
Ngày 15/7/2000

18 năm sau, kể từ khi tác phẩm ra đời, tôi nhận món quà mang tên Vùng Đồi cũng của Phạm văn Nhàn. Đó là CD gồm hai truyện đọc trên đài phát thanh tại Houston. Truyện thứ nhất là Vùng Đồi và truyện thứ hai là “Buổi chiều trong thành phố”.

Tôi say mê  biết bao giọng dọc của hai người nam nữ trong audio.  Một lần nữa, xin được cám ơn bạn ta về món quà văn nghệ đặc biệt này. Xin được chia sẻ cùng quí bạn trên cõi Ảo:

VÙNG ĐỒI

BUỔI CHIỀU TRONG THÀNH PHỐ

Tác phẩm đầu lòng

 

Trong ” NHÌN TRỞ LẠI MỘT    ĐỌAN ĐƯỜNG”, nhà văn Mai Thảo  viện dẫn  nhà danh họa Rouault để  nói  về ý nghĩ của ông về những tác phẩm của mình mười năm trước, đặc  biệt là tác phẩm đầu đời:

 Rouault trước phút lâm chung, đốt cháy tất cả họa phẩm là công trình sáng tạo vô song của một khả năng thiên tài sáng tạo. Sau những chiến dịch cải tạo tư tưởng, định lại lập trường của người làm văn học nghệ thuật mác xít là những tuyên bố đầy ăn năn khai tử những tác phẩm cũ như những đứa con đẻ hoang, những vấp ngã lạc đường. Nhiều nhà văn Pháp, trước đây từng đã lên tiếng về tác phẩm thiếu thời, thơ văn đầu tay của mình. Để chúng đó. Như những cái đã có, đã thành của một trở thành liên tục. Nhìn lại một đoạn đường : chỉ là những cái hỏng, những cái yếu, những cái non. Ta đó. Nhận là ta đó. Cố mà khá hơn.

(nguồn: Thư quan bản thảo số 68)

Có nghĩa là, với Mai Thảo, tác phẩm đầu đời  “chỉ là những cái hỏng, những cái yếu, những cái non.”…

Có thật vậy không ?

 

oOo

Mới đây, Ông bạn già của tôi – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (tức nhà thơ Đỗ Nghê) có nhận xét về  những bài thơ dăng trên nguyệt san Tình Thương – nguyệt san của Sinh viên Y Khoa SG (1964-1967):

Tuổi 18-20 thuở đó, thơ mình còn cái giọng… ngây thơ hết sức! Mình vốn thủ cựu, nhà quê thứ thiệt, thơ tình chẳng có gì đáng nói. Nhưng nay bạn đã hỏi thì cũng chìa ra cho vui!

Nhưng phải nói thiệt, khi mình in tập thơ Tình Người (1967), mình cũng đã có một bài khá dễ thương, có thể coi như là một “tuyên ngôn” nho nhỏ cho riêng mình:DN-img-nu-cuoi-hai-muoi-101-678x1024

 

Bạn thấy đó. Ngây thơ và thiệt thà hết sức! Và quả thật, không biết sao, mình vẫn mến cái nụ cười hai mươi đó, vẫn cảm động khi đọc lại hôm nay. nụ cười đó không  tàn theo năm tháng/ mãi mãi là nụ cười hai mươi/ của những người gái người trai/ suốt đời thương số kiếp/ nhưng chỉ của những người/ mang một niềm tin biển khơi/ TÌNH NGƯỜI ngày mai.

(Đỗ Hòng Ngọc: Thơ tình… Đỗ Nghê (*) trên Nguyệt san Tình Thương (63-67)) , http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/thu-goi-ban-xa-xoi-5-2017/

Với Rouault: đốt. Với Mai Thảo: chỉ là những cái hỏng, những cái yếu.  Với Đỗ Hồng Ngọc: không biết sao, mình vẫn mến cái nụ cười hai mươi đó, vẫn cảm động khi đọc lại hôm nay. Mỗi người một quan niệm.  


Ngây thơ, dễ thương hết sức, chưa đủ ông bạn bác sỹ nhà thơ của ta ơi. Còn có tự hào, có độc giả, có bằng hũu, có tình thân… Ông Mai Thảo chỉ là thợ, bởi vì ông sống bằng nghề viết văn.Mà viết văn đòi hỏi kỹ thuật hành văn, kỹ thuật xấy dựng nhân vật…  Còn người thơ thì khác. Thơ họ dựa vào nhịp đập của trái tim. Những bài thơ 18, 20 ấy, chắc chắn là ngây ngô, dại khờ, nhưng khó tìm được những bài thơ ấy trong cuộc đời mình. Bởi vì tim chỉ đập một lần chứ không thể hai lần cho một bài thơ. 

CHIẾN TRANH ĐÃ QUA LÂU RỒI

 Đỗ Trường

Lời chũ Blog:  

Thế hệ hôm nay là thế hệ may mắn. Ít ra, internet, facebook… cũng giúp thế hệ này tiếp xúc với ánh sáng hơn là bóng tối.

Nhưng còn văn chương thì sao? Làm sao phân biệt được ánh sáng và bóng tối? Bạn có bao giờ đi thám báo để biết được sự thật về vai trò thám báo mà dám kết luận về sự trung thực của ngòi viết Bảo Ninh hay Hồ Anh Thái, hay Dương Thu Hương khi họ tả những cảnh dã man khủng khiếp như xẻo vú, ăn tim gan, cả tinh hoàn, hãm hiếp rồi dìm xuống sông các “chị nuôi” của những người lính thám báo miền Nam? Bạn có bao giờ bị sốt rét rừng (đó là chưa kể sốt rét ác tính) để có thể biết được cái khí phách “oai hùm” của một đoàn binh không mọc tóc?

Bài văn chúng tôi post dưới đây, tác giả – sinh ra và lớn lên ở miền Bắc- viết về những hệ lụy do cuộc chiến tranh gây nên,  trong đó có nhắc người lính thám báo chúng tôi.  Mời quí bạn đọc để biết thế nào là ánh sáng và bóng tối của một tác phẩm. (THT)

 

CHIẾN TRANH ĐÃ QUA LÂU RỒI
Sau lễ vọng đêm 24 Noel, tôi và Nam Võ lên xe đến thăm Bùi Lợi, Trần Nam Anh và bạn bè ở Dresden. Xe vừa ra khỏi thành phố, nhận được điện thoại của anh chị Châu Müller từ Bodensee, thông báo:
-Anh chị cùng vợ chồng người bạn đang trên đường đến Leipzig. Một cuộc đi ngẫu hứng, và đã đặt chỗ nghỉ ở Hotel Lindenau cạnh nhà Đỗ Trường.
Tôi buộc phải quay xe, và bảo:
 -Anh chị báo Hotel hủy đặt chỗ nghỉ, bởi nhà em còn đủ phòng cho hai gia đình.
Tôi quen chị Châu vào mùa thu 1988, khi chị vừa từ trong nước sang và cầm thư của Tô Vương (Vương Dứa) gửi cho tôi. Tô Vương là người anh lớn tuổi thân thiết, thường cùng nhau bù khú, rượu chè, khi tôi còn ở trong nước. Lúc đó, anh là phóng viên theo dõi, viết về nông nghiệp. Và nghe nói, hiện nay Tô Vương là Ủy viên bộ biên tập, chủ tịch Liên chi hội báo Nhân Dân (?). Chị Châu cùng quê Vĩnh Phú, và là bạn với vợ Tô Vương hồi còn học ở khoa sử Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Chị được bổ sung vào đội may Leipzig, và ở tầng trên, cùng ký túc xá đường tàu 8, quận Grünau với chúng tôi. Ngày đầu gặp, chị gày gò ốm yếu lắm. Cái già đi trước tuổi ba sáu của chị. Biết tôi làm ở lò mổ, thực phẩm, nên cuối tuần chị thường xuống nhờ mua thịt, và các loại wurst, bockwurst (xúc xích)…Thực ra, những người trực tiếp giết mổ và chế biến thịt, thực phẩm lâu ngày như chúng tôi đều ngán, sợ, có khi cả tháng không ăn thịt. Do vậy, tiêu chuẩn mua rẻ như tặng, hoặc hứng lên cứ tự động lấy về mỗi ngày vài, ba cân, thường cho hết bạn bè.
Mấy tháng sau, nhìn chị phốp pháp đẫy đà hẳn ra, nghe nói đã có bạn trai, cùng đơn vị bộ đội phòng không cũ, hiện đang nghiên cứu sinh ở Berlin. Thế cũng mừng cho chị. Bởi, chẳng cứ công nhân lao động, mà kể cả sinh viên, nghiên cứu sinh, dù ở Việt Nam đã có chồng, có vợ, không trước thì sau cũng phải tìm lứa cặp đôi, góp gạo thổi cơm chung với nhau thôi.
Mấy tuần trước tết Nguyên Đán 1989 không thấy chị xuống lấy thực phẩm. Tôi nghĩ, có lẽ chị đi chơi đâu đó. Đêm giao thừa, đang ngồi nhấc lên, nhấc xuống với ông bạn Nguyễn Hải Đăng phiên dịch ở đội dệt tầng 3, có người cùng phòng chị hốt hoảng chạy xuống, bảo:
-Chị Châu đau bụng dữ dội lắm, các anh lên xem, có khi phải gọi xe cấp cứu.
Nguyễn Hải Đăng khật khừ hỏi:
-Thế mấy thằng phiên dịch, đội trưởng may đâu?
-Tìm rồi, nhưng không biết các bố ấy say nằm ở xó xỉnh nào!
Tôi bảo Đăng:
-Ông xuống phòng trực bảo Betreuer, gọi xe cứu thương, tôi lên trước chỗ chị ấy xem sao.
Đêm ấy, tôi và Đăng phải ở bệnh viện cùng chị. Và bác sỹ cho biết, chị có thai, và thai nhi đã chết trong bụng mẹ, nên phải hút, nếu không được buộc phải mổ, bởi thai nhi khá lớn. Không có những người trách nhiệm thuộc đội may, buộc tôi và Đăng phải làm thủ tục mổ xẻ cho chị.
Và cũng may, đêm đó các bác sỹ đã hút được thai nhi cho chị. Khi tôi và Đăng ra về gặp người phiên dịch, cũng là đồng hương cùng làng của chị, lò dò đi vào. Chúng tôi báo cho hắn biết, mọi việc đã xong, chị ấy còn mệt, đang ngủ, chiều tối vào cũng được. Hắn cảm ơn, rồi kéo chúng tôi về phòng hắn cà phê và ăn sáng. Trong lúc cà phê, rỉ rả hắn kể:
Chị Châu là nữ quân nhân, tham gia trực tiếp ngoài mặt trận, và đã sống nơi rừng thiêng nước độc. Sau 1975 cuộc sống, sinh hoạt của chị càng khổ cực, nhất là tinh thần luôn bị ức chế. Thể xác, lẫn tinh thần hoàn toàn bị suy nhược như vậy, nên lập gia đình gần chục năm chị không hề một lần mang thai. Rồi điểm tựa, nơi an ủi cuối cùng là người chồng cũng bỏ chị ra đi. Trong cơn bĩ bực buồn chán, chị xin sang Đức cày thuê cuốc mướn. Ở Đức, dù đã chung sống với bạn trai, nhưng chưa khi nào chị nghĩ, mình còn có khả năng sinh đẻ. Và mọi biện pháp phòng tránh thai, với chị đều không cần thiết. Do vậy, trong một lần tình cờ khám bệnh, biết mình mang thai, nếu không phá bỏ ngay, sẽ phải về nước, nhưng chị vẫn mừng lắm. Bởi, dường như bản năng làm mẹ trỗi dậy trong chị. Nhưng về nước, nơi đường cùng không lối thoát ấy với hai bàn tay trắng, không nhà cửa, việc làm, chị và con sẽ sống như thế nào? Mâu thuẫn ấy cứ dằn vặt, vướng mắc trong nội tâm, làm cho chị khó quyết định.
Nhưng lo lắng hơn chị, có lẽ là tác giả của chiếc thai nhi, đồng chí thiếu tá, vị tiến sĩ vật lý tương lai, người đã có vợ con, trong một gia đình bề thế ở Hà Nội. Nhùng nhằng mãi, đến khi đồng chí thiếu tá thuyết phục được chị, thì bác sỹ khám bảo, không thể phá, bởi thai nhi quá lớn. Trước nguy cơ ấy, buộc đồng chí thiếu tá phải cạy cục, tìm kiếm tất tần tật các loại thuốc tây, ta ngoài luồng, miễn sao hủy đi được một mầm sống. Và cuối cùng, kết quả đã làm đồng chí thiếu tá toại nguyện.
Từ đó, chị lầm lũi, vật vờ như một chiếc bóng. Thời gian này, dường như chị chỉ làm độc hai việc, ở nhà máy, và hương khói, khấn bái ở nhà. Có kẻ độc mồm, độc miệng còn gọi chị là “ Trâu điên“. Cuối tuần, tôi mang thực phẩm lên và nhìn bóng chị, chỉ còn biết an ủi:
– Lỗi đó, đâu phải tại chị, mà do cái hiệp ước dã man một cách quái đản của hai nhà nước cộng sản đấy thôi: Cho yêu, được làm tình, cho kết hôn, nhưng cấm gieo mầm, tiệt đường sinh sản…
Ngay ngày đầu bức tường Berlin sụp đổ, chị mất tích, làm cho mọi người phải ngơ ngác. Có người bảo:
-Nói dại mồm chứ, có khi bà ấy bị trầm cảm đâm quẫn, nhảy bố nó xuống cái ao hồ nào rồi!
Thế là, thay nhau đi sục sạo, kiếm tìm… Và rất may, tuần sau, tôi nhận được thư của chị. Thở phào nhẹ nhõm, khi biết chị trốn sang Tây Berlin và đã đặt đơn tị nạn chính trị. Vậy là, chị không hề điên, mà tỉnh táo, nhận thức tư tưởng rõ ràng và rành mạch hơn chúng tôi nhiều lắm.
Rồi kể từ ngày đó, gần ba mươi năm, tôi vẫn chưa gặp lại chị…
——-
Noel năm nay tuyết không rơi, dường như có bớt đi một chút lãng mạn. Nhưng với không gian, thời tiết ấm áp ấy, tạo nên cảm hứng tuyệt vời cho những chuyến hành hương xa. Thành phố về chiều, bất chợt đổ xuống cơn mưa mỏng, cho con người một cảm giác, như đang đi dưới những hạt mưa phùn nơi quê nhà.
Xuống xe, chị Châu đi như chạy về phía tôi. Gần ba mươi năm gặp lại, chị vẫn vậy, tình cảm và vồn vã. Úp tay vào lồng ngực, chờ cảm xúc lắng lại trong giây lát, chị giới thiệu tôi với Jens Müller chồng chị và Nhạn đồng đội cũ, cũng như anh Học chồng chị Nhạn, cựu lính thám báo quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Bữa cơm tối, hình như chị rất ít đụng đũa, bởi những câu chuyện dài khó dứt. Khi hỏi, từ đâu chị tìm được địa chỉ của tôi. Chị không trả lời ngay, mà kể về những ngày đầu ở trại tị nạn Tây Berlin và Ingeheim, rồi đến nơi định cư Darmstadt. Nơi đây, chị đã học nghề và làm bánh mì từ ông chủ xưởng Jens Müller. Rồi tình yêu, hạnh phúc đến với chị ở cái tuổi gần bốn mươi. Khi con gái ra đời, chị và chủ xưởng làm đám cưới. Tuy rổ rá cạp lại, nhưng cái hạnh phúc đó nằm ngoài sức tưởng tượng của chị. Và đến lúc này, dù đã trở thành bà ngoại, nhưng đôi khi chị vẫn không thể tin, mình đã từng được làm mẹ. Với chị, điều đó chỉ có thể do sự sắp đặt của chúa, của trời, của phật mà thôi. Mấy năm trước con gái tốt nghiệp đại học, rồi làm việc, lấy chồng ở Bodensee. Anh chị bán nhà, bán xưởng ở Darmstadt chuyển xuống đó cho gần con cháu.
Thấy chị dài dòng, chị Nhạn đá chân, cắt ngang lời:
-Này, thằng em nó hỏi một đằng, bà lòng vòng một nẻo là thế nào?
– Thì cũng phải từ từ, có đầu có đuôi chứ. Vô tình thôi, gần nhà có cái quán ăn của người Việt mình, mở được hơn năm nay. Chiều tối, anh chị thường ra đó dùng cơm. Hôm rồi, quán vắng khách, biết chị là người Việt, nên chủ quán ra chào. Hỏi ra mới biết vợ chồng Lĩnh Ngọc chủ quán là con gái cô em Lương Thị Hợp cùng quê với chị, ở đội dệt do Nguyễn Hải Đăng làm phiên dịch. Lĩnh Ngọc cho chị địa chỉ, điện thoại, và bảo nhà cháu ở Leipzig cạnh nhà chú Đỗ Trường. Loanh quanh thế nào toàn người quen cả.
Có lẽ, lên cơn nghiền thuốc, anh Học và Jens đứng dậy, định ra ngoài. Tôi bảo, các anh hút ở đây, hoặc ra bếp cũng được, đêm ngoài trời trở lạnh rồi. Chị Nhạn lừ mắt, em đừng chiều các ông ấy, mặc áo ấm không sao đâu. Rồi chị quay sang hỏi:
-Đỗ Trường viết văn, thế có biết nhà văn Mai Thảo không?  
– Dạ có, Mai Thảo là nhà văn lớn tài hoa, không chỉ riêng cho nền văn học miền Nam. Ông cũng là người Chợ Cồn, Hải Hậu, Nam Định quê chị.
-Đúng rồi đó, chị là cháu họ của Mai Thảo. Sau 1975 ông trốn ra Hố Nai, chị có được gặp. Nhưng lúc đó, bọn nằm vùng lộ mặt chỉ điểm khá đông, nên ông lại quay về Sài Gòn. Cũng may, Mai Thảo vừa đi, thì họ đến bắt chị, can tội hồi chánh và không chịu trình diện.
-Câu chuyện nằm rừng, chui hang của các chị kể khi nãy, không chỉ là truyện ngắn, mà có thể viết được cả cuốn tiểu thuyết không chừng.
Chị Châu cười cười, thích thì em cứ viết đi, gửi cho chị đọc. Anh Học đã quay vào từ lúc nào, đứng ngay sau lưng tôi: Nếu viết, chú nhớ đổi cho cái tên, bởi những người lính thám kích luôn âm thầm, sống hay chết đều vô danh cả.
Vâng! Nhất định rồi, và câu chuyện được bắt đầu như vậy.
—–
Ì ạch mãi, Châu và Nhạn cũng kéo được xác Vui ra tới chân đồi trước mặt. Cả hai ngồi thở. Giờ này, chưa phải lúc lên cơn sốt, nhưng cái rét từ đâu đến, làm họ run lẩy bẩy, đầu gối đập vào nhau, không một cảm giác. Châu dựa vào gốc cây, hai mắt nhắm nghiền. Chiếc xẻng trên tay tuột rơi xuống, bùn bắn tóe vào mặt, vào tóc Nhạn. Định gọi Châu, nghĩ thế nào lại thôi, Nhạn đưa tay, nhưng chưa kịp vuốt sạch vết bùn trên đầu, thì một mảng tóc dính bùn đã rụng bụp xuống xác của Vui. Nhìn xuống, Nhạn lại khóc, nhưng không thấy một giọt nước nào lăn trên gò má. Cũng mới đây thôi Vui ơi! Mày đập nát chiếc gương cuối cùng, để ba đứa khỏi nhìn thấy khuôn mặt méo mó, bủng beo với cái đầu trọc nham nhở của mình. Rồi mày đốt lửa, hun khói cầu mong người đến cứu, dù là ta hay địch. Mày bảo, kho tàng súng ống đạn dược, địch ta, thắng thua cũng chẳng bằng sinh mạng con người. Mày khao khát sống, thèm được sống lại  những ngày bình dị của tuổi thơ. Và ngay đêm qua, mày còn giao hẹn, nếu đứa nào còn sống để trở về, sẽ phải có trách nhiệm mang xương cốt đứa chết về quê. Sau đó, mày bắt tao, bắt Châu kể về quê mình, và phải nhớ bằng được cái làng ven biển, với những đứa em nheo nhóc, quanh năm đói khát của mày ở vùng biển Nga Sơn, Thanh hóa, để sau này dễ tìm đến. Thế mà sáng nay, mày không dậy được nữa. Chúng mình mới bước vào cái tuổi hai mươi mà. Nhưng có lẽ, mày còn sướng hơn tao, hơn cái Châu đấy. Mày chết còn có chúng tao bó chăn, bó chiếu kéo mày đi chôn. Đến lượt, tao hay cái Châu, ai chết trước, chỉ còn một đứa không đủ sức kéo đi đâu. Rồi đứa cuối cùng, chắc chắn thú rừng sẽ kéo đi chôn thôi.
Nghe Nhạn lẩm bẩm, Châu nhặt cán xẻng, chống xuống đất, vịn tay đứng dậy. Lắc lư một lúc, Châu cắm xẻng xuống. Tuy trận mưa đêm qua đất đỏ bazan mềm dễ đào hơn, nhưng dẻo kẹo dính chặt vào lưỡi xẻng. Châu lại phải dùng chân gạt đất, mỗi lần là một lần ngã. Cứ như vậy, Châu và Nhạn, hai cái bóng dập dờ thay nhau đào, móc, bốc đến chiều đủ chỗ cho Vui nằm. Đến lúc này, cả hai không còn đủ sức kéo, buộc phải vần, lăn Vui xuống. Và họ cũng không còn khả năng nhìn, nhận biết Vui đang nằm ngửa hay sấp dưới hố. Lấp xong, không kịp nhặt mấy cành cây khô cắm lên mộ, cả hai đều quay đầu, sấp ngửa về hang. Không thể nói với nhau lời nào, nhưng họ đều biết, giờ này cơn sốt rét sắp ập đến.
—-
Sau bốn tháng hành quân, vào mùa khô đầu năm 1971, một trung đội, trong đó có ba nữ chiến sĩ Châu, Vui, Nhạn, thuộc Tổng cục hậu cần cũng đến được nơi đơn vị cần được bổ sung. Trước khi họ đến, đã có một đơn vị đóng quân ở đó. Chiếc hang được làm nơi ăn nghỉ. Nơi rừng sâu, đường ra vào vô cùng khó khăn, mịt mù này, có lẽ, cách bản làng người Thượng cũng mất đến một ngày đường của người giao liên địa phương. Nghỉ ngơi được ít ngày, đột nhiên trung đội trưởng gọi cả ba lại bảo:
-Đơn vị nhận được lệnh hành quân tiếp, theo đường dẫn của giao liên. Nơi đây đã và sẽ là điểm tập kết vũ khí đạn dược cho chiến trường Kontum. Do vậy, ba em tạm thời ở lại. Trong thời gian ngắn nhất, đơn vị sẽ bổ sung thêm quân số. Lương thực, ở đây có thể đủ dùng trong một tháng. Nhiệm vụ này, hết sức quan trọng.
Giữa rừng sâu nước độc, chỉ còn lại ba cô gái trẻ, lần đầu tiên vào chiến trường, tuy sợ, nhưng họ buộc phải nhận nhiệm vụ. Trước khi đi các anh lính cũ còn dặn:
-Phải đề phòng, khi ghe tiếng chim Lệnh thường có beo, cọp mò về. Đốt lửa tuy tránh được thú, nhưng khói sẽ bị địch phát hiện…
Thế rồi, một tháng qua đi, lương thực đã cạn, rau rừng gần đã trụi, họ phải đi xa hơn tìm kiếm, vẫn không thấy đồng đội trở lại. Vui tuy là người khỏe mạnh nhất, nhưng lại bị sốt rét rừng quật ngã trước nhất, rồi mới đến Nhạn và Châu. Đói khát ăn lá rừng uống nước suối chưa phải cái đáng sợ, mà sốt rừng hết thuốc mới là điều làm họ sợ nhất.
Mưa đầu mùa, rừng như được uống thuốc hồi sinh. Tầng tầng, lớp lớp đan ken một màu xanh trải dài ngút tầm mắt. Từ trong hang nhìn ra, những chùm hoa dại như được ai đó vẽ lên chiếc khung tranh màu xanh vậy. Vừa dứt cơn sốt, Vui đã bảo, rừng đẹp và hùng vĩ, nhưng tính tình như con mụ phù thủy vô cùng độc ác. Vui nói vừa dứt câu, chợt có bước chân người đi đến, làm cả ba giật mình. Như một phản xạ, tất cả cầm súng, lùi sâu vào trong hang. Lúc sau, có tiếng hú gọi quen thuộc, cả ba rất vui, ùa ra đón người giao liên cũ người Thượng. Chưa kịp chào, bao câu hỏi dồn dập đã đến, làm ông bối rối:
-Có lẽ, đơn vị không quên các cô đâu, bởi họ đang phải dồn quân cho mặt trận Đường 9-Nam Lào đấy thôi. Ở đó đang đánh nhau to.
-Chú cho chúng cháu theo về đơn vị chiến đấu, ở đây không trước thì sau cũng chết vì đói khát, và bệnh tật.
-Tôi nghĩ, khu vực này quan trọng, bởi trước đây lúc nào cũng có đại đội, hoặc ít nhất một trung đội đóng giữ. Hơn nữa sức khỏe hiện các cô không thể đi xa. Tôi đang có nhiệm vụ xuống khu vực đồng bằng. Dọc đường gặp đơn vị nào gần nhất, tôi nói với họ cử người mang thuốc và thực phẩm vào. Tuy nhiên, nếu không có gì xảy ra, chắc chắn tôi sẽ báo cáo với đơn vị và quay trở lại. Bây giờ tôi phải đi, và để lại tất cả thực phẩm, thuốc men của tôi cho các cô.
Rồi từ hy vọng đến tuyệt vọng kéo dài cả mùa mưa. Sức lực, sự chịu đựng con người cũng chỉ có giới hạn. Và Vui phải ra đi trong cái đói khát, không một viên thuốc với những cơn sốt rét rừng vào cái tuổi đáng lý ra đẹp nhất của đời người…

oO0

…Tuy đã tiếp cận được cửa hang, nhưng với kinh nghiệm dạn dày của người lính thám báo, Học và đồng đội vẫn kiên nhẫn nằm quan sát. Gần đến nửa đêm các anh chia thành hai hướng kiểm tra vòng. Và quả thực, trong hang chỉ có hai nữ bộ đội trong tình trạng nằm bất động, bên cạnh những thư từ, sổ sách lộn xộn. Học nhặt một bì thư, rọi đèn đọc, nhưng anh thể không tin vào mắt mình, bởi địa chỉ, tên người gửi là Nguyễn Văn Hải Chợ Cồn, Hải Hậu, Nam Định, gửi cho con gái Nguyễn Thị Nhạn. Lẽ nào có sự trùng hợp vậy? Năm 1954, khi anh đi, Nhạn mới hai tuổi, vẫn thường đòi theo anh Học cõng đi chơi. Nếu năm đó vợ chú Hải không đang mang thai, thì chắc chắn đã cùng gia đình anh di cư vào Nam.

Thấy Học sững người, một đồng đội hỏi:
– Mày sao vậy?
Đưa bì thư cho bạn, Học bảo:
-Có thể, một trong hai cô gái này là Nhạn, em hàng xóm cùng quê của tao ở ngoài Nam Định…
Học cùng đồng đội điện báo gấp về đơn vị không hẳn vì các anh đã tìm ra nơi chôn giấu vũ khí của đối phương, mà sự cứu chữa Nhạn và một nữ bộ đội là điều cần kíp nhất.  
Hết đợt công cán, quay về hỏi thăm, biết Nhạn và Châu đang được điều trị Tổng y viện Qui Nhơn, Học đến thẳng đó. Là những tù binh nữ, bệnh nặng, và ở phòng điều trị riêng, nhưng với người lính thám báo xin vào thăm không có gì khó khăn cho lắm. Lúc này, Nhạn và Châu tuy có thể nói chuyện, nhưng còn rất yếu. Khi biết anh là người cùng đồng đội đưa cả hai từ cõi chết trở về, hai chị cảm ơn, nhưng bước đầu có một chút e dè, mặc cảm. Tuy nhiên, Học là hàng xóm cũ, đã từng chơi chung, hồi còn ở nhà hay được bố mẹ kể đi kể lại, ngay sau đó cho Nhạn cảm giác gần gũi, thân mật hơn. Khi biết cậu Lâm em ruột mẹ, đang làm ở Bộ chiêu hồi Sài Gòn, đã được Học điện báo, sắp ra thăm, Nhạn mừng lắm.
Dịp tết âm lịch 1972, sức khỏe Nhạn và Châu khá tốt, bệnh tật ổn định. Nếu cả hai chấp nhận chiêu hồi, Cậu Lâm của Nhạn bảo lãnh cùng về Sài Gòn. Tuy rất muốn, nhưng Châu lo sợ cho gia đình ngoài Bắc và tương lai người em trai kế đang ở Bungari. Bởi, Châu xung phong vào bộ đội, để cho em mình đủ tiêu chuẩn du học nước ngoài.
Và từ đó, Châu là tù nhân của chiến tranh. Năm 1974, Châu được trao trả tù binh, về Tổng cục hậu cần. Nhìn Châu béo tốt, hồng hào các đồng chí đơn vị lườm nguýt, và cũng là dấu hỏi cho mọi người. Mà có riêng gì Châu, các anh được trao đổi cùng đợt có ai được tin dùng? Châu luôn phải tự an ủi mình, bởi luôn luôn phải khai báo lặp đi lặp lại một câu hỏi. Mỗi lần như như vậy, Châu lại nhớ đến Vui, đến Nhạn. Và hình ảnh lần cuối cùng Nhạn và Học đến nhà tù thăm, trước khi họ làm đám cưới, lòng Châu dịu lại. Tuy Châu không thông báo, nhưng có lẽ họ cũng biết mình đã được trao trả tù binh và ra Bắc rồi.
Ngồi chơi xơi nước mãi cũng chán, Châu xin học bổ túc văn hóa, được đơn vị chấp nhận. Sau 30-4-1975 tình hình có vẻ khá hơn, vào Nam ra Bắc nhiều, nên các đồng chí nhìn Châu ánh mắt thiện cảm hơn. Năm 1976, Châu xin thi và đỗ vào khoa sử Trường Đại Học Tổng Hợp. Tốt nghiệp, Châu chuyển sang bộ đội phòng không không quân.
Năm 1981, trong một lần vào Sài Gòn công tác, Châu về Hố Nai tìm thăm vợ chồng Nhạn Học. Nhưng bố mẹ Học cho biết, họ đã cùng con cái vượt biên trước đây mấy tháng, khi Học vừa ra tù…      
 
Sáng nay, tưởng viết xong câu chuyện này, tôi gửi cho cả hai chị Châu và Nhạn đọc. Nhưng chợt nhớ ra, truyện vẫn còn thiếu phần kết. Lúc sau điện lại, nghe như có tiếng sụt sịt trong máy. Tôi hỏi, anh Học đứng từ xa, nói vọng vào, đang đọc truyện chú gửi cho mấy bà chị nghe, hơi xúc động chút xíu thôi. Dừng lại một chút, tôi mới dám nói tiếp:
-Còn thiếu phần kết, làm thế nào để các chị tìm gặp được nhau ạ?
Tiếng máy im bặt, rồi nghe tiếng chị Châu: Thì cũng vô tình như chị tìm ra em thôi. Bởi chị đâu có biết Nhạn cũng ở Đức. Mấy năm trước, tụ họp đồng hương vùng, trời xui đất khiến thế nào hai chị em ngồi cạnh nhau. Chuyện trò một lúc, nghe cái giọng nửa Nam, nửa Bắc của bà ấy, chị mới buột miệng hỏi:
-Bác chắc gốc Bắc, hỏi không phải, quê bác ở tỉnh nào ạ?
Bà ấy bảo:
– Chợ Cồn, Nam Định.
Nghe cái tên Chợ Cồn làm chị giật mình, nhớ lại người bạn thời nằm rừng, ôm nhau chờ chết, nên chị hỏi tiếp:
-Bác sinh đẻ ở đó?
-Vâng! Không những sinh đẻ, mà tôi lớn lên ở đó.
– Thế bác có biết, hoặc nghe cái tên Nguyễn Thị Nhạn, trạc tuổi chị em mình không?
Thấy mặt bà ấy biến sắc, đưa tay hất cằm chị lên, nhìn thẳng vào mặt, miệng lẩm bẩm…Châu…Châu Vĩnh Tường, Vĩnh Phú phải không… Chị giật mình, nhìn kỹ lại, miệng cũng lắp bắp: Nhạn… thôi đúng là Nhạn rồi. Cả hai ôm nhau khóc rống lên, làm mọi người ngơ ngác, tưởng hai con mẹ già này bị điên…
Và đầu năm vừa rồi, vợ chồng chị, vợ chồng Nhạn Học về Việt Nam, tìm đến gia đình Vui. Nhưng cha mẹ Vui đã mất từ lâu. Nghe hàng xóm nói, tuy được công nhận liệt sĩ, nhưng mộ của Vui vẫn chưa tìm thấy. Mấy người em của Vui đã bán nhà vào kinh tế mới ở Tây Nguyên, ngay sau khi cha mẹ qua đời.
Sau đó, bọn chị định quay vào Tây Nguyên tìm lại nơi chôn cất Vui, và chiếc hang ngày nào. Nhưng xem lại bản đồ hiện nay, và theo kinh nghiệm cách tính tọa độ của người biệt kích, anh Học bảo, cả khu vực đó người ta đã làm hồ thủy điện, xương cốt của Vui chắc chắn không còn, có thể họ súc đi, hoặc trôi theo dòng nước rồi. Ngừng lại dây lát… và tôi nghe được tiếng nấc của đầu dây bên kia…
Vâng! Và câu chuyện bây giờ mới thực viết xong, thế mà tôi cứ ngỡ, chiến tranh đã qua lâu rồi.
Leipzig ngày đầu năm mới 1- 1- 2017
Đỗ Trường

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh: VẼ TRÊN XƯƠNG LÁ

Lời chũ blog: Những ân cần  và thương mến mấy hôm nay mà bạn bè thân thiết đã dành cho  ngày sinh của  “con ngựa chứng”  thật vô cùng kỳ diệu. Mà truyện ngắn này của  Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh đã nói lên điều đó.
Xin phép Cam Li cho tôi được gởi đến những bạn đọc blog tôi một bài văn còn nóng hổi của một nhà văn rất quen thuộc ở hải ngoại . Xin được cám ơn Cam Li(THT)

“Bởi chữ nghĩa không đủ lớn để tả đời người
Tôi xin một lần vẽ trên xương lá.”
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 (Thay món quà sinh nhật, kính tặng Nhà Văn Trần Hoài Thư)

Cuối năm, trời thật lạnh, chỉ có mấy độ F mà thôi. Miền Đông.

Tôi chợt nhớ những ngày còn bé. Trời lạnh, tôi hay hà hơi lên cửa kính, rồi vẽ chữ trên đó. Chữ sẽ mau tan vì hơi nước sớm bay đi. Lúc tôi quen nàng, cũng hay vẽ chữ kiểu đó. Viết lên kính coi bộ dễ hơn nói. Bản tính nàng vốn rụt rè. Mà con gái ngày xưa ai cũng rụt rè như vậy. Tôi thì hùng hổ hơn, nhưng cũng rất ngại ngùng sợ nàng e thẹn, mất lòng. Đành vẽ chữ vậy! “Anh yêu em.”

Tôi muốn trở lại. Vâng, tôi rất muốn trở lại, khoảng thời gian đẹp như mơ đó. Nàng vẫn ở bên tôi. Tôi rủ rê:

“Đi, em!”

“Đi đâu?” Nàng hỏi trong khi mở to đôi mắt.

“Về nơi khi xưa mình hẹn nhau lần đầu.”

“Nơi nào?”

Nàng hỏi rồi tự trả lời:

“Nhớ rồi… Không đi được.”

“Tại sao?”

“Chân tôi… đã không thể đi được.”

Tôi như vụt thoát ra khỏi giấc mơ. Trong đôi mắt của nàng, lệ đã cạn từ lúc nào.

“Mình nè, “đi” không có nghĩa là phải dùng đôi chân. Tôi giúp mình, tôi đẩy xe lăn cho mình. Mình vẫn có thể lên xe, lên tàu, lên máy bay, mình hiểu không?”

Nàng lắc đầu, thở dài:

“Không dễ đâu mình à! Mình cũng đau yếu, tôi không nỡ…”

Chúng tôi cùng im lặng. Tôi len lén thở dài, sợ nàng nghe thấy. Mới hồi đêm, tôi trải qua một cơn đau thấu trời. Tôi tưởng mình không đi được nữa. Ban đầu còn ráng vịn tường mà đi, sau thì quỵ xuống, lê lết trên nền nhà. Tôi tưởng mình sẽ nằm luôn trên đất. Nhưng có một tiếng vọng từ đâu thúc giục, nhắc tôi ngày mai đem thức ăn vào cho nàng. Nàng trông ngóng tôi lắm đấy! Tôi lầm bầm nguyền rủa chứng bệnh gout quái ác. Mày không đánh gục được tao đâu! Không bao giờ đâu!

 


“Ngon không?”

“Cái gì ngon?”

“Trời!.. Thì thức ăn có ngon không? Tôi nấu đó!”

“Biết rồi! Mình nấu. Nhưng tôi nấu mới ngon.”

Hôm nay thấy nàng biết trêu đùa, tôi lấy làm mừng. Tôi sợ những lúc nét mặt nàng lạnh tanh không lộ cảm xúc, trông không giống người yêu của tôi khi xưa chút nào. Khi xưa chúng tôi đâu có mấy khi được gần nhau. Và những khi có nhau, nàng vui vẻ, nhiệt thành. Tôi là lính, một thứ lính rất dữ – nói “dữ” là vì chúng tôi chịu quá nhiều nguy hiểm – ở rừng nhiều hơn ở thành phố. Ngay cả ngày đám cưới chúng tôi cũng vội vàng, chú rể mặc bộ quân phục, cô dâu mặc áo dài giản dị, trang điểm đơn sơ. Đám cưới xong, tôi lại đi. Rồi từ đó về sau, nàng cứ phải nói hai chữ “Lại đi!” Như một điệp khúc, không chán.

Tôi lấy chiếc khăn giấy lau cho nàng miếng cơm dính ở phía trên môi. Nàng nhìn tôi, tia mắt lạ lùng. Rồi như chợt hiểu ra – lúc này nàng hiểu khá chậm – nàng lộ vẻ cám ơn. Khi nàng ăn, tôi phải đút. Nếu không thì tôi phải giữ chén cho chắc để nàng múc cơm bằng một tay. Có rất nhiều lúc nàng không muốn ăn. Tôi phải năn nỉ, thậm chí dọa nạt để khiến nàng ăn. Tôi hiểu rằng trong tâm trí của nàng, cuộc sống đã trở nên nặng nề quá đỗi.

Ăn xong tôi đẩy xe cho nàng ra hưởng chút không khí ngoài sân. Có nhiều người đã ở đó. Họ là “hàng xóm” của nàng. Có cả “bà cụ share phòng” với nàng nữa. Khi hơi khỏe trong người, bà cụ tỏ vẻ dễ chịu. Nhưng khi cơn bệnh trở lại, bà cụ sẵn sàng la lối, khóc lóc, nói bậy. Và nàng thì im lặng chịu đựng.

Mọi người chào nhau trong hành lang. Rồi thì hai chúng tôi tìm một chỗ vắng cho mình. Nàng nhìn thấy trời xanh, cây lá, nét mặt sáng lên. Tôi kéo một chiếc ghế, ngồi bên nàng. Nàng nói:

“Mình mệt đó!”

“Sao mình biết?”

“Mình đau chân, mất ngủ, còn lo nấu ăn cho tôi.”

“Thì tại mình chê thức ăn kiểu Mỹ trong này, tôi nấu món Việt cho mình. Cũng đâu có mất công bao nhiêu. Miễn mình vui là được.”

“Tôi chỉ vui khi được ở trong căn nhà của mình.”

Giọng của nàng như chùng xuống. Tôi nói nhỏ:

“Tôi sẽ xin cho mình về.”

“Đừng, mình! Tôi sẽ không về. Chính tôi muốn ở đây. Mình không săn sóc tôi nổi đâu. Trong đây có bác sĩ, có người tập tành.”

“Nhưng…”

“Xin mình đừng nói gì hết. Mình hãy để mọi việc như bây giờ, đừng thay đổi gì nữa.”

Nghe câu “Đừng thay đổi gì nữa” như một lời cam phận. Từ lúc nàng té xuống, chúng tôi đã mong có sự thay đổi, mong ở phép lạ. Mấy năm qua rồi, phép lạ không đến với chúng tôi. Giải thích sao đây? Tôi bây giờ chỉ còn lại hai chữ “khổ nạn.” Nàng đang gánh khổ nạn. Không ai có thể gánh thay nàng.


Tôi đi xuống tầng hầm. “Xưởng in” của tôi là đây! Rón rén, rón rén… cứ như là đi hành quân. “Chiến trận” của tôi cũng ngổn ngang tệ! Máy in, máy cắt, toàn là do tôi tự chế, giấy má, bì thư… khắp nơi. Những khi ngủ không được, tôi đều đi xuống giang sơn riêng của mình. Lúc nàng còn khỏe, còn ở nhà, cũng đã là như vậy.

Tôi ngồi vào máy computer. Phải “layout” cho xong số tới. Bạn bè, em út gửi bài, sửa bài xong rồi, công việc này là của mình. Ngày mai, ngày mốt cho báo “lên khuôn”, rồi mình tự tay cắt xén, khâu gáy. Trời ơi, những từ ngữ này nghe sao mà thân thương, sao mà hấp dẫn quá vậy? Tôi thừ người, nhớ ra một điều. Bài của mình đâu? Mình là nhân vật chủ chốt, phải có bài chứ! Ngày xưa băng rừng lội suối mà viết lách cũng dễ dàng làm sao! Bạn bè viết văn, làm thơ, có người bài chưa kịp gửi đăng báo đã ngã xuống mãi mãi. Có bạn gửi thịt da vào bớt trong đất. Chính vì vậy mà tôi đã không mệt mỏi làm cho bạn văn bạn thơ sống lại, trả vinh dự cho những người lính cầm bút, là bởi vì họ xứng đáng được như thế. Và còn nhiều, nhiều nữa, những tạp chí vang bóng một thời mà ngày nay bị quên lãng, tôi đã tìm tòi, làm hồi sinh. Tôi sẽ không làm được chuyện này dễ dàng nếu không có nàng cùng gánh vác. Hai vợ chồng đã đến Thư viện Cornell cách nhà năm, sáu tiếng đồng hồ lái xe, tìm đọc những bài xưa cũ, copy đem về. Sau này thì sắm máy “scan”, công việc nhanh hơn và đỡ tốn tiền hơn một chút. Khâu vá di sản văn chương miền Nam! Nghe mà cảm động.

Bài của mình đâu? Không cần cầm bút, tôi gõ bằng máy computer. “Theo em.” Ngày xưa theo em trên con đường hoa, nhặt những chiếc lá vàng đẹp mang về ép, ép khô xong chúng tôi vẽ thơ lên đó. Có khoảng đời theo em vào thư viện, thư viện Cornell. Bây giờ theo em vào nursing home, em ngồi trên xe lăn với nửa thân tê dại. Tự nhiên nước mắt tôi chảy tuôn, dào dạt. Sao tôi thương em, thương thân quá đi!


Tôi giật mình thức dậy sau giấc ngủ mê thiếp. Hai chân tôi đau nhừ. Bệnh gout lại hành hạ. Nhưng kìa, chồng sách mình hoàn thành đêm qua! Tôi đã ngủ vùi sau đó, ngay trong tầng hầm này. Tôi nâng niu từng cuốn. “Lão gàn!” Tôi tự mắng yêu mình như vậy. Sách chỉ in tặng, không bán. Mà không phải bạ ai cũng tặng. Ai quý, ai yêu cầu thì mới in, mới tặng. Nghe gàn thật!

Như một quán tính, tôi nghĩ mình sẽ gọi vợ, khoe với nàng là đã xong xuôi, công việc còn lại là của nàng: cho vào bì thư, hoặc gói lại, ghi địa chỉ, đem đi bưu điện, dán tem hay đóng dấu… Nhưng tôi chưng hửng. Nàng không còn làm được cái việc này nữa. Nàng đang nằm trong nursing home, nhớ không? Tôi thở dài, lặng lẽ ôm từng chồng sách ra garage, chất vào thùng xe. Tôi lại phải tự mình làm thôi! Lặng lẽ và chăm chỉ. Như con ong, cái kiến.

Rồi cũng xong việc. Tôi cũng đã quen rồi!

Trong thùng xe chỉ còn lại hộp thức ăn cho nàng. Tôi lái xe chạy vào nursing home. Tôi tự khen mình giỏi, mỉm cười.
Nàng vẫn ngồi trên giường, chờ tôi. Đã quen với hình ảnh này rồi, không còn cách nào hơn. Nàng lên tiếng hỏi trước:

“Mình đã gửi sách đi xong?”

“Sao mình biết?”

“Việc này là của tôi mà! Mình làm tới đâu, tôi cũng đoán ra hết.”

“Mình giỏi lắm! Mình vui là được.”

“Tôi vui lắm chứ!”

“Tôi giúp mình ăn nhé!”

Nàng lắc đầu:

“Tôi chưa muốn ăn. Đêm qua tôi ngủ không được, sáng dậy hơi đau mình.”

“Tôi báo y tá, xin thuốc cho mình nhé!”

“Không cần uống thuốc đâu! Mình ơi, tôi chỉ muốn mình cạo gió cho tôi.”

“Được.”

Xem ra ở đất Mỹ mấy mươi năm mà nàng vẫn còn giữ thói quen của người Việt thời xưa, thích cạo gió, cũng như thích xông nồi lá giải cảm khi ở nhà. Dĩ nhiên tôi phải ra xin phép y tá. Bà ấy bảo không sao. Với một lọ dầu, một đồng tiền xu, tôi cạo gió cho nàng. Chẳng có ai khác trong phòng để mắc cỡ, “bà cụ share phòng” đã có con đến đẩy ra phòng ngoài chơi.

Tôi giúp nàng xắn lưng áo lên, rồi thoa dầu, dùng đồng xu cạo nhè nhẹ lên đường xương sống, từ đó cạo ra hai bên. Nàng tỏ vẻ dễ chịu. Hình ảnh một bộ gân lá dần dần hiện lên, cùng lúc tôi xót xa nhận ra nàng đã ốm đi nhiều quá! Tôi gượng tay, như sợ đồng xu cọ sát làm đau những vùng xương lộ rõ. Tôi không còn như người cạo gió nữa, mà tôi vẽ. Vẽ trên gánh đời. Vẽ trên cây thập giá mỗi người chúng tôi phải mang vác. Mình ơi, hãy cố gắng. Em ơi, hãy cố gắng. Cho dù ngày mai có ra sao, anh vẫn theo em. Theo em!

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Tháng 12, 2016

Trần Vấn Lệ – Mừng Sinh Nhật Trần Hoài Thư

tvl
Bạn ta: Trần Vấn Lệ

Năm mươi năm mừng sinh nhật bạn mình. Tính từ ngày hai đứa cùng vào Thủ Đức (*). Mừng cả hai là vẫn còn chưa mất. Thương Luân Hoán mất một bàn chân. Thương Nguyễn Ngọc Hương vừa mới ra quân… để lại một bàn tay trên rừng Bình Định. Thương những thằng nửa đường gãy gánh, tuột ba-lô đi vào Thiên Thu!

Mới Thứ Bảy này, anh em nhắc Trần Hoài Thư, con gà trống bây giờ đúng là con gà trống, chị Yến thì đã vào Nursing Home tìm hy vọng… Cuối đời người ai cũng hắt hiu!

Mới Thứ Bảy này bè bạn không nhiều, nhưng còn được đứa nào còn mừng đứa nấy… Mừng bởi vì chúng ta còn Thứ Bảy, còn những tách cà phê còn những chai bia, còn những chia lìa Trời kêu ai nấy chịu! Cuộc họp bạn bè càng ngày càng thiếu, nhắc Nguyễn Xuân Hoàng, Đinh Cường, Trần Ngọc… lung tung. Nhắc đến chị Yến, đôi khi, ai cũng thấy đau lòng, tự hỏi Trần Hoài Thư có gì vui không trong cuộc sống? Sách ôi sách, sách từng chồng từng đống! Chàng còng lưng se chỉ luổn kim? Thỉnh thoảng chàng chắc có gọi “Em”… và chị Yến nghe gì đâu mà đáp!

Năm mươi năm, làm bài thơ Sinh Nhật, gửi bạn mình đây, nhận nhé Trần Hoài Thư! Hãy mở ra nhìn rồi xếp làm tư như xếp lá thư tình ngày xưa để vào túi áo. Bốn mươi năm đi tìm cơm gạo, nhớ thương về… áo não Quê Hương! Bè bạn lạc bốn phương, chí lớn khi không đi vào ngõ nhỏ… Mẹ Cha già đâu còn nữa mà chờ. Mừng thấy bạn vẫn còn làm thơ. Tôi cũng mừng tôi còn làm thơ gửi bạn…

Năm mươi năm… hai đứa mình tóc trắng
Nhớ thương nhau nhìn mây trắng cuối trời!

Trần Vấn Lệ

(*) Khóa 24 SQTB Thủ Đức khai mạc vào tháng 11 năm 1966, kết thúc giữa tháng 8 năm 1967

(nguồn: Blog tranthinguyetmai http://tranthinguyetmai.wordpress.com)

Phạm văn Nhàn : Một Tấm Hình. Làm Ta Nhớ.

                                                      Bài viết của Phạm Văn Nhàn 

my portrait

Buồn, lang thang trên blog của bạn bè. Thấy bạn ta có một tấm hình mới chụp. Ta cười vui rất vui. Nhìn lại ta và bạn ta. Những người vượt thoát ra ngoài “thất thấp cổ lai hy “, ngoảnh lại thấy đời qua mau quá nhỉ ?

Phải không, bạn hiền một thời vất vả. Nhiều người, có lẽ nhìn bạn qua tấm hình “tóc bạc trắng phao” mà buồn cho một Trần Hoài Thư ngày nào xa lắm. Nhưng, với tôi thì không. Nhìn bạn tôi thấy vui. Vui như có những con chim sẻ nâu đang vờn xuống sân nhà của ngôi nhà cổ 100 năm, ngày nào tôi lớn. Vui như ngày nào gần 50 mươi năm có lẽ, trong ngôi nhà thuê ẩm hơi mốc vì thiếu bàn tay chăm sóc của con người. Thế mà vẫn vui, vẫn cười. Dù trước mặt chúng ta là một vùng sinh tử đang chờ. Bạn từ chiến trường về. Ta mượn câu thơ trong bài ” Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan: Đôi giấy đinh bết bùn dất hành quân. Bạn trở về nơi ngôi nhà trong khu sáu. Tiền lính tính liền, tình yêu cũng không, nghèo chết xác thế mà vẫn vui trên mái tóc của hai người bạn còn xanh.

Cũng may, đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân quân ấy vẫn còn cho mãi đến hôm nay, Nhìn lại, tôi với bạn, đã vượt ra ngoài khuôn mẫu : thất thập cổ lai hy thì phải vui là phải chứ?

Tôi khoái mái tóc bạc này. Đâu còn một Trần Hoài Thư : ốm o gầy mòn. Lính gì mà ốm quá, chữ của Nguyễn Lệ Uyên dùng để chỉ tôi với bạn. cái tạng người nó là vậy mà. Mập ú na ú nầng làm sao mà lội. Mấy ông ú na ú nầng thì ngồi văn phòng núp bóng. Còn mấy thằng gầy, ăn gạo sấy, uống nước sông nước suối, ba lô súng đạn, nằm bờ nằm bụi thế mới có ngày hôm nay. Không thảnh thơi vui thú rượu bầu, nhưng cũng nghĩ lại ta đã làm tròn xong bổn phận.

Cái tuổi trên ngoài bảy mươi, tôi nghĩ về bạn thôi, không dám nghĩ về ai cả. Bạn đã vượt thoát đến một trình độ : hoàn hảo. Về cái gì? Xử sự và xử thế. Đúng không? Tự nhiên nhìn mái tóc bạc phơ trên đầu bạn. Tôi nghĩ như thế.

Mà đúng vậy, trãi nghiệm qua cuộc đời bạn đã không làm thì thôi. Làm thì đến nơi đến chốn đúng với tâm nguyện của chính mình, ngay thẳng. Không vượt ra ngoài khuôn khổ của đạo.

Không như những cậu thơ quá buồn mà bạn đã làm:……

“Hãy nhìn đầu ta một vùng trắng phủ
Hãy nhìn tóc ta, sợi ngắn sợi dài
Đã gần hai năm bỏ phế tóc tai
Đời thảm quá  lấy ai mà  “trang  điểm ?”
 

Còn chị đấy chứ. Ở cái tuổi ngoài bảy mươi. Bạn cười. Chị vui. Và, tôi đang nhìn thấy bạn cười kia mà. Mặc dù, tôi biết bạn còn trăm cái lo, ngàn cái lo. Lo cho vợ. Từ cái ăn, cái mặc, cái tắm, cái rữa, cái đi đứng, và cách nói chuyện cho chị Yến vui. Cho nên, nhìn bạn mĩm cười. Nhìn mái tóc bạc như ông tiên, đâu cần trang điểm ( một hình thức bề ngoài ) là tôi biết chị Yến sẽ vui và bạn sẽ vui biết mấy. Phải không?  Từ cái vui đó như có bướm hoa xúm xít vờn chơi.

Nhất là ở cái tuổi ngoài bảy mươi. Đỗ Phủ có làm bài thơ : Khúc Giang Nhị Thủ, trong đó có hai câu thơ: ” Nhân sinh thất thập  cổ lai hy. Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến”  Theo bản dịch của Vũ Quốc Huệ : Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi. Bướm hoa xúm xít vờn chơi….

Do đó, nhìn hình bạn, phải nghĩ bạn hôm qua  và ngày nay thì mới biết được hết dược một người bạn. Ngày xưa, mượn mấy câu thơ của Đỗ Nghê :Súng dòn/ Ánh sánh lóe lên/ Đạn đan trên nền trời…Thế mà tụi mình vẫn cười, vẫn vui và vẫn tếu thì hôm nay, tóc trên đầu dù có bạc trắng thì bướm vẫn vờn chơi ở cái tuổi: nhân sinh thất thập cổ lai hy này.

Tôi vẫn thích tấm hình này của bạn , cho nên tôi vui ở cái tuổi như bạn hôm này, mà tức cảnh ( hình) nên lời vậy.