Thư Quán Bản Thảo / Trần Hoài Thư

Archive for the ‘sáng tác của THT’ Category

Lại bão tuyết (2)

Thế nào tôi cũng phải cầm xẻng
để dọn driveway
dù tuyết phủ cao quá đầu gối đi nữa

Thế nào tôi cũng dọn cũng xúc cũng rồ máy xe
và sẽ thăm mình
Dù tôi sẽ thở hồng hộc
tim sẽ đập thình thịch như trống dồn
Dù đôi chân sẽ quị
mắt sẽ mờ
môi miệng bị đông cứng…

Tôi sẽ làm
để mà đến thăm mình
sẽ ngồi lại bên chiếc giường tự động
sẽ kê lại chiếc gối để mình nằm thoải mái trên giường
Sẽ mở lại bài Chủa Hương của Nguyễn Nhươc Pháp
để mình nghe
để chúng ta cùng nghe

Nhưng mà hôm nay tôi xin đầu hàng
Tôi không thể làm gì hơn
Khi cả cái cây to tướng nằm ngang chắn đường

Tha lỗi cho tôi
Tôi không còn biết cách gì hơn
NGoài trừ tháo lui, mình ạ

Nếu mà ngày xưa, tôi sẽ tìm cách vượt qua
Tôi sẽ vui mừng vì mật khu không cần tay người mà lại bị tàn phá vì bão
Nhưng bây giờ
Dù tôi là kẻ tiền thám có mặt đầu tiên
Không có ai, kể cả cảnh sát
chỉ có tôi
Tôi thấy nó đổ qua màn tuyết




Nhà dưỡng lão bên kia không phải là mật khu để tôi phải lo
Nó chính là gia đình tôi lúc này
Nó có mình, có những cựu chiến binh VN, có những người già bất hạnh không hề thấy thân nhân
Nó có cái bắt tay và đôi mắt sáng của ông lão mỗi lần nhìn tôi
Nó có câu chào captain để tôi phải chào tay lại
Nó có hơi ấm khi tôi gài mấy cái khuy cúc áo cho mình
Nó có nỗi rộn ràng hạnh phúc khi tôi đẩy chiếc xe lăn trên những dãy hành lang
Khi tiếng đàn dương cầm bay theo, bay theo
vỗ vào hồn tôi như lời gióng sông ca hát

Nó làm đôi chân tôi như đi trên một chiếc thảm trời
Người tôi bay, bay cùng tiếng nhạc valse
dội vào vách tường, trần nhà
theo cả hành lang dài hun hút
Và tôi đã ngừng đẩy.
Mình có nghe miềm hạnh phúc của tôi không ?

Như vậy, tôi sẽ không đến thăm nuôi mình chiều nay
Hãy rán ăn hot dog, pizza, pasta, hambuger  nghe mình
Hãy rán tập khi tôi không có mặt nghe mình
Chúng ta hãy chuẩn bị nghe mình
Bởi vì cái ngày đó trước sau gì cũng đến

tht-snow

Tại bãi đậu xe của Nursing home trưa ngày March-7-2018

Thấy hình ta không ?

Chân dung của thằng ngụy
Chân dung của thằng bụi đời
Chân dung của thằng trung đội trưởng thám kích
Chân dung của thằng quán quân thất tình, con gái chê vì sợ làm góa phụ
Chân dung của thằng giự gìn từng tấc đấc nhưng không có một chỗ để cắm dùi
cuối cùng Mỹ thương cho một căn nhà rộng mênh mông bốn phòng ngủ

Thấy hình ta không?
Quá thảm không ?
Râu trắng tóc trắng tuyết trắng dính mũ dính áo quần
Mấy sợi dây điền trời cắt ngang nền mây xám đục
Dưới đất trên trời trắng và trắng
Vậy mà trái tim hắn thì đỏ thắm làm sao
Hắn hát hắn ca hắn đóng vai thằng hề charlot
Hắn dỗ dành bà ơi món canh này có bạc hà râu húng cá salmon
Có cả giò thủ bánh chưng do một nữ bác sĩ ở Cali  gởi tặng
Ráng ăn nghe bà
Để tôi rót cho bà cốc nước
Để tôi lấy kéo cắt những cọng bún dài
Bà biết là tôi thương bà biết bao nhiêu không?
Ba biết là mổi ngày đầu óc tôi chỉ quanh quẩn với mấy món ăn để bà được thưởng thúc không?
Tôi thương bà vì bà chọn tôi trong khi con gái nhà lành chê tôi là thằng lính dữ dằn
trong khi em gái Dạ Lan thì suốt ngày anh là chiến sĩ của lòng em
Tôi thương bà vì tôi chẳng còn ai nữa
Bà thấy không
Tôi ra parking dưới trận bão tuyết mịt mùng
Và đứng yên
Đứng thật yên
Tóc tôi trắng phau như tuyết
Râu tôi cũng vậy
Tôi đứng thật yên
Một snow man Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày đầu tiên gặp em
si tình mà không dám ngỏ
Em đứng giữa vườn,
tưới cà tưới cải
Anh ngẩn ngơ nhìn như phải chiêm bao
Sân nhà em lấm tấm hoa ngâu
Khế cũng trổ hoa
Rụng bên bờ giếng nước
Chiều chậm xuống
nhả lên trời khói trắng
mất… mất… dần trong ánh nắng hoàng hôn…

Em xinh vô cùng giữa vườn xanh trổ bông
Khiến bướm ong quên buổi chiều sắp ngủ
Bướm trắng bướm vàng tham lam nhụy nở
Để si tình càng nẩy nở hồn anh

Đừng nói gì tôi,
hỡi người truyền tin
Anh có biết là tim tôi đang ca hát
Anh không biết, khi nàng xách thùng tưới nước
Là bụi ớt bụi cà hớn hở mừng vui
Là hồn tôi cũng  được tắm mát lắm anh ơi…

Từ đấy mỗi lần trước khi vượt sông
Chàng lính vẫn dừng lại bên nhà
Để nhìn người em gái nhỏ
áo bà ba giữa khóm cà khóm cải
Xinh xinh cỏ nội hoa đồng…

Cau mới trổ buồng, trái nhỏ còn non
Khi cau lớn em nhớ để dành cho anh em nhé…
Rồi anh sẽ đứng bên người yêu nhỏ bé
Sẽ dâng cau
dâng trầu
dâng rượu đến khắp bà con
Cha mẹ anh xa, chỉ còn đám bạn lột lon
Mượn chiếc dodge cũ mèm
không mui làm xe đám cưới
Và súng nổ liên thanh mừng cô dâu mới
Để mọi người vui dùm những thằng thám báo chịu chơi…

Nhưng cuối cùng sông núi vẫn chia phôi
Có ai biết một ngày anh phải bỏ
Phải đành đoạn xa lìa người em nhỏ
Phải tha phương nơi xứ  lạ quê người
Đã bao năm rồi nước vẫn cứ trôi
Chắc những mùa cau vẫn trổ buồng trổ trái
Không biết có buồng nào em dành cho anh
ngày anh về lại
Để anh còn tưởng nhớ lại người thương
của hoa đồng cỏ nội quê hương…?

Nếu Jupiter nhân danh Thượng Đế, thì ông quan tòa trong Tòa án quân sự Mặt trận  nhân danh quốc gia.  Không ai có quyền chống đối họ.  Vậy mà chỉ có Oreste đã thách thức, Trong thần thoại Hy Lạp, Oreste nhân danh tự do của con người. Trong tòa án quân sự mặt trận, Oreste Việt nam nhân danh tuổi trẻ. Tại sao tôi ví người quân phâm ấy là Oreste vì anh ta đã dám nói lên một cách uy dũng về cái quyền của tuổi trẻ của anh.

Oreste của thời chiến Việt Nam:

… Tôi nhân danh tuổi trẻ Việt Nam, kết án Cộng Sản, tư bản đã đưa đất nước tôi vào cuộc chiến tương tàn. Chúng tôi là nạn nhân từ những thế lực. Nếu kết tội là kết tội những ông lãnh tụ đã không biết thương dân tộc mình. Chúng tôi không gây nên cuộc chiến này. Chúng tôi không có tội. Nếu các ông không bắt tôi ở tù chung thân, tôi sẽ đào ngũ nữa. Tên lính lạnh lùng nói. Ông toà đập chiếc búa gỗ lên bàn, nói lớn:

Bị can trở về hàng. 

Tên quân phạm trở về chỗ ngồi, nhìn ra ngoài cửa sổ.

Toà nghị án. Có tiếng xê dịch khô khan nặng nề trên hàng ghế chánh thẩm. Đám quân phạm được đẩy lên xe, chỉ còn lại lưa thưa những người thân nhân trên hàng ghế chờ đợi. Ông trung úy ủy viên chính phủ ra ngoài hành lang xem báo. Tên trung sĩ quân pháp phụ trách việc gọi tên bị can đã xách xe chạy rong ra phố. Đám lính dàn chào ngủ gục trên ghế.

Nhân danh quốc gia Việt Nam, tôi long trọng tuyên bố các bản án …

Ông quan tòa trở ra phòng lúc 12 g 30. Ông bắt đầu đọc bản án. Một con chim sẻ vụt bay vào hội trường. Tù ở. Tù treo. Tha bổng. Cái danh sách dài như vô tận khiến ông phải ngừng lại, uống nước lấy hơi rồi tiếp tục đọc tiếp. Chỉ có những chiếc bàn chiếc ghế trong hội trường vắng ngắt mới nghe những lời tuyên án của ông.
(trích Cảm Tạ Văn chương của THT sắp xuất bản)

Oreste  của huyền thoại Hy Lạp:

Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967)

IMG_0280

Những Ruồi.Bản dịch của Phùng Thăng từ  Les Mouches của J.P.Sartre.   Thanh Hiên xb 1967, Thư Án Quán sưu tập, chụp, đóng bằng bìa cứng có bao jacket cover ở ngoài. Số lượng thực hiện là   2 tập.  Một dành cho Phùng Thăng. Và một dành cho THT.  Như là cách để biểu lộ sự tri ân đến  một dịch giả  trẻ đầy trí tuệ  đã cống hiến một dịch phẩm giá trị cho văn học VN, phải bị chết thảm khốc dưới bàn tay Miên quỉ Polpot vào năm 1975.

Trích văn

 

JUPITER:

Oreste ! Ta đã tạo người và ta đã tạo nên mọi sự : hãy nhìn đây. (Những bức tường của ngôi đền tự mở rộng. Bầu trời hiện ra, nhấp nhánh những ngôi sao xoay vần. Jupiter đứng ở cuối sân khấu. Giọng nói của Thần đã trở nêt to khiếp – máy vi âm – song người ta vẫn còn hơi nhận rỏ.) Ngươi hãy nhìn những hành tinh kia đang vận chuyển trong trật tự, và không bao giờ và chạm nhau: chính ta đã thu xếp sự vận hành của chúng, tuân thủ có công lý. Ngươi hãy nghe hòa điệu của những tinh cẩu, cái bài ca cảm tạ vĩ đại của khoáng chất đang vang dội khắp bốn phương trời (Ca nhạc.) Do ta mà những chúng loại được tồn tại mãi, ta đã ra lệnh rằng một người luôn luôn sinh ra một con người và con của loài chó là chó, chính do ta mà chiếc lưởi dịu hiền của những cơn thủy triều đến liếm nhẹ trên bãi cát và rút lui vào giờ nhất định, ta làm cây cối tăng trưởng và hơi thở của ta dần lối cho những đám mây phấn hoa vàng bay quanh trái đất. Hỡi kẻ tiếm vị, ngươi không phải đang ở tại nhà mình đâu ; ngươi đang ở trong thế giới như cây gai ở trong thịt da, như kẻ săn bắn trộm ở trong khu rừng của lãnh chúa; vì lẽ thế giới là thiện hảo ; ta đã tạo ra thế giới theo thánh ý của ta và ta là điều Thiện. Nhưng còn ngươi, ngươi đã gây nên điều ác, và những sự vật đang lên án ngươi bằng những giọng lời hóa đá của chúng : sự Thiện ở khắp mọi nơi, đấy là ruột của cãy hương mộc, là vẻ tươi mát của dòng suối, là đường vân của đá lửa, là trọng lực của hòn đá ; ngươi sẽ tìm thấy lại sự Thiện tận trong cả bản chất của lửa và ánh sáng, ngay cả thân xác người cũng phản bội người, vì nó vâng phục những mệnh lệnh của ta. Điều Thiện ở trong người, ở bên ngoài người: thâm nhập vào người như chiếc lưởi liềm, nó nghiến nát người như một ngọn núi, nó mang người đi và lăn tròn ngươi như thể một đại dương ; chính điều Thiện đó đã cho phép người thành công trong công việc xấu xa của mình, vì nó là sức sáng của những ngọn nến, sức cứng rắn của thanh gươm người xử dụng, sức mạnh của cánh tay người. Và cái điều ác mà người quá kiêu hãnh về nó thế kia, điều ác mà người tự nhận mình là tác giả, điều ác ấy là gì nếu không phải là một phản ánh của thực thể, một lời thối thác, một hình ảnh lừa phỉnh mà ngay cả sự hiện hữu của nó cũng được nâng đở bằng điều Thiện,

Hãy trở về lại nơi chính mình, Oreste : cả vũ trụ đang bất bình ngươi, và ngươi chỉ là kẻ yếu đuối trong vũ trụ. Hãy trở về lại với bản tính của mình, hỡi đứa con lạc tính: hãy nhìn nhận lỗi lầm minh, kinh tởm nó, nhổ vứt nó ra khỏi người như một chiếc răng sâu tấy mủ. Nếu không,  biển cả  sẽ rút đi trước mặt người, những dòng suối sẽ khô cạn trên đường người đi, những hòn đá cuội và đá tảng sẽ lăn ra khỏi đường và đất sẽ mủn ra dưới bước chân người.

ORESTE.
Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.

Những bức tường khép gần lại, Jupiter tái hiện, chán nản và mệt mỏi; Jupiter đã lấy lại giọng thường.

JUPITER:
Ta không phải là vua của người sao, hỡi loài sâu bọ vô sỉ. Vậy chứ ai đã tạo ra ngươi?

ORESTE:
Chính ngài. Nhưng lẽ ra ngài đang nên tạo ra tôi với tự do trong hồn.

JUPITER:
– Ta đã ban cho người tự do để phụng sự ta.

ORESTE
– Có thể như thế lắm, song tự do đó đã quay lại chống đối ngài, và cả tôi lẫn ngài đều không thể làm gì được cả.

JUPITER.- Dữ chưa ! Giờ ta mới nghe một lời tạ lỗi.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967 từ trang 122-124)

 

 

IMG_20170624_4

Những ngày gần Tết, năm nào cũng vậy, Oanh vẫn loanh quanh với những chuẩn bị. Gia đình có ba người, nhưng đối với nàng, gia đình đầy ấp. Người đã khuất, người còn sống. Và cả những vị thần linh hiển thánh. Các ngài đã hiện diện cùng khắp, trong từng thước khối không gian. Để mỗi buổi tối, các ngài được gọi về giữa màn khói nhang nghi ngút, trong lời khấn vái thì thầm của vợ chàng. Chàng đã để vợ tự do chọn lựa các vị Thần nàng ưa thích. Người ta đã từng nói đôi khi niềm tin là một phương thuốc mầu nhiệm. Với Oanh, điều này là tuyệt đối. Nhất là sau chuyến vượt biên hãi hùng. Nàng luôn luôn kể về một sức mạnh vô hình nào đã chở che, dẫn dắt con thuyền đến bến bờ bình an sau những ngày lênh đênh trên biển cả, hết lương thực, cạn xăng dầu, bị cướp, bị bão. Nàng luôn luôn nhắc về một đấng quyền năng cao cả luôn luôn hiện diện trong cõi trần gian, nghe lời nàng cầu xin, thương hại giúp đỡ nàng lúc nàng bất lực. “Anh thấy không, tự nhiên một gia đình vô sản như gia đình chúng ta lại có mặt tại xứ này. Anh thấy không…” “Anh thấy không, em cầu ông Địa, ông Địa nghe lời em liền hà.” khi chiếc chìa khóa xe, cái bóp, cái bằng lái xe bị rớt, hay bị bỏ quên ở đâu đó, được tìm lại. Nàng đã chỉnh chàng khi chàng vô tình viết chữ trời không chữ T hoa. Phạm Trời không nên. Nàng cũng trách chàng khi chàng kêu lên Ôi Trời. Kêu như vậy là phạm thượng. Ngài ở trên cao đều nghe rõ. Sợ Ngài giận Ngài phạt. Chàng nghe lời nàng như tên lính tuân lệnh quan ba. “Như vậy cũng hay. Vừa lấy lòng vợ vừa đẹp dạ Ông Trời”.

 

Những ngày gần Tết, cơn khắc nghiệt của thời tiết đã lên cao điểm. Tuyết cứ đổ xuống hết trận này đến trận khác, đến nỗi những xe công lộ phải làm việc túi bụi. Gió cuốn từng đám tuyết bay trắng xóa. Bầu trời xám đục, ít nắng. Cây cối trơ vơ những thân cành trơ trụi. Tuy vậy, trong nhà, Oanh đã chuẩn bị tất cả để đón mùa xuân. Những nhánh hoa đào hoa mai nhân tạo cắm trong bình đặt trên bàn trong phòng khách. Mức bánh đặt gọn gàng trong hộp. Dưa hấu đỏ, và bánh chưng xanh đã sẵn sàng. Những phong bì đỏ để mừng tuổi, dù ở vùng này, không có lấy một gia đình đồng hương. Nàng đã cẩn thận ghi cả ngày giờ tốt để xuất hành. Nàng bắt chàng phải nghỉ ngày mồng một Tết, không được đi đâu. “Em xem lịch, xuất hành đầu năm không tốt đâu. Mồng hai là tốt nhất.” Nàng cảnh cáo chàng. Có lẽ nàng ngại chàng sẽ phá lệ ra quán cà phê nhìn cô nàng mắt xanh như mọi buổi sáng khác.

Đêm giao thừa, tuyết lại rơi. Trận bão tuyết đã bay ra biển Đại Tây Dương nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn lẩn quất trong nội địa. Tuyết rơi trắng xóa trên mái nhà, trên những hàng cây sồi, trên sân cỏ. Cả gió cũng vần vũ. Từ trong nhà, chàng nhìn ra ngoài. Oanh đã cảnh cáo chàng không được buồn, phải cười, phải vui, phải yêu đời, để cả năm vui cửa vui nhà. Nàng làm sao biết tâm trạng của chàng lúc này. Tê tái buồn. Chàng nhớ đến quê hương. Nhớ đến đêm giao thừa cũ. Nhớ đến bàn thờ tổ tiên. Nhớ đến  tiếng reo lách tách của bếp lửa và nồi bánh tét ấm cúng. Nhớ đến người con gái hàng xóm đi lễ chùa, áo vàng xinh đẹp làm sao. Nhớ đến bạn bè luân lạc, đứa mất kẻ còn… Tại sao lại phải nhớ hoài về một nơi chốn chỉ thấy chiến tranh thù hận triền miên. Tại sao lại không bằng lòng với hiện tại. Thì ra, đời vẫn có những điều rất nghịch lý.

Oanh đã cúng rước ông bà xong. Chàng nghe nàng khấn: “Lạy ông bà, gia đình chúng con xin cúng mâm cơm chay để rước tổ tiên ông bà về vui xuân với chúng con.” Nàng lại hối chàng vái ông bà. Bây giờ chàng chẳng khác là cậu học trò. Chàng hỏi: “Vái sao em ?” “Thì cầu xin ông bà phù hộ anh được ngồi mãi cùng cái job, phù hộ cho con mình học hành tấn tới” Chàng nghe lời, nhưng thật sự chàng cảm thấy hết sức khó khăn, như mỗi lần chàng được yêu cầu dành một phút mặc niệm cho những chiến hữu, đồng bào, bà con ruột thịt trong các buổi lể. Không biết trong lòng những người có mặt, có ai để lòng thật sự mặc niệm hay chỉ nhắm mắt để mà nhắm mắt ?

 

Sau đó, chàng và nàng xuống phòng khách. Nàng lại nói: “Ngày mai, anh nhớ đừng mang rác ra như thường lệ. Anh cũng phải tránh nổi giận, chửi thề, không hút thuốc.” Chàng muốn kêu lên : “Thì như vậy, sống để làm gì hở em?” Nhưng chàng phải cố nén. Phải vui. Chàng tự hứa. ít ra đêm nay, khác với mọi đêm.

 

Kim đồng hồ sắp nhảy lên số 12. Chàng nhìn vợ, muốn nói một lời chúc tụng. Nhưng chàng thấy trên má nàng hai giọt lệ lăn xuống. Nàng chùi mắt, mếu máo: “anh ơi, em nhớ má quá đi.”

 

 

Trần Hoài Thư

Và em cũng vậy. Có phải không ? Bởi vì  con người đều có một thời. Mái tóc của em chấm vai, cho xanh thêm 16 hay cho óng ả thêm tuổi hạ tuổi hồng, Mái tóc em có dài thêm tận lưng, có chảy thêm như giòng sông nhỏ, hay có  bay theo chiều gió  lớn, thì cũng một ngày, sẽ không còn. Tóc sẽ cắt ngắn, để vĩnh biệt cất vào ngăn kéo thời gian, để làm buồn những gã con trai, để có gió mà không có tóc mây, để có con đường mà không còn người áo trắng. Tóc hết bay rồi, mà vành nón cũng hết nghiêng nghiêng, cặp sách cũng hết ấp vào trước ngực, và những chú cá cũng hết rồi chết sửng dưới cầu. Nhưng có lẽ với em là hết, nhưng với anh vẫn còn. Như Huế vẫn còn trong anh.

 

Và từ buổi đó, anh ra đi, theo những áng mây trên Trường Sơn và những ngọn tháp chàm cô độc xuôi dọc theo bờ duyên hải. Mái tóc có lần phủ ngập hồn anh, nhưng lửa khói đã làm anh chết ngợp. Anh đi tìm. Em ơi, anh đi tìm. Nhưng có giòng suối nào để hồn anh được tắm mát ? Có mùi hương nào để nghe lại một thưở dại khờ. Anh đi tìm. Qua những sợi tóc cuồng lọan tơi tả của những ả giang hồ, chưa xanh mà đã sớm biết đời cay đắng. Qua mái tóc cô giáo sinh trường sư phạm Qui Nhơn bị bắn ở cột cờ quận Tuy Phước, chiếc áo ngủ còn đọng cả máu tươi. Qua đầu tóc dính cả bùn   của người con gái giao liên nằm phơi thây giữa đồng ruộng. Vâng, anh đi tìm. Nơi nào có mái tóc của một thời trẻ dại, để gió bay lùa sợi tóc mây. Anh đi tìm. Chẳng ai cho anh tìm. Ngay cả em nữa. Anh lăn lộn cùng vết thương trong phòng cứu cấp hồi sinh. Anh tàn bạo mở chốt lựu đạn bỏ trái mảng cầu vào ly và nốc rượu. Anh khát. Anh đói. Anh vồ chụp cả  thau cơm chó mà nhai ngấu nghiến. Anh  thúi tha ghê tởm cùng cơn dịch kiết lỵ kinh hoàng trong trại cải tạo. Đừng mơ mộng nữa. Đừng lãng mạn nữa. Hãy quên. Hãy nhìn vào tương lai. Hãy đái vào cây xăng nơi cửa phố nơi máu anh đổ xuống một lần cho thành phố bình an. Hãy đốt đi kỷ niệm ngọc ngà. Hãy quên. Hãy hì hục sống. Nhưng mà không ai bắt sao lại nghe lạnh chùng lòng. Một người xa Huế đến hơn ba mươi năm, chắc ngày về phải là buồn ghê gớm.

Thì em cứ cho anh là thằng con trai vong xứ. Về đi. Hãy về đi. Có gì còn lại để mà về. Hay là về để ngậm ngùi ra lại cầu xưa, nhìn lại bóng mình trên mặt nước. Để thấy những vòng tròn sóng lan dần và lan dần, mà chắc gì còn nghe tiếng chuông nhà thờ đổ xuống như thể làm ngẩn ngơ những đám mây trắng dừng lại trên sông. Về đi. Hãy về đi. Nơi này hay nơi khác. Thì cũng là quê nhà. Khi đất mình tha thiết. Khi trời mình nương tựa. Nhưng chắc chắn không có một nơi nào anh tìm được mái tóc thề  năm xưa ấy nữa.

 

Và em cũng vậy. Có phải không ? Bởi vì  con người đều có một thời. Mái tóc của em chấm vai, cho xanh thêm 16 hay cho óng ả thêm tuổi hạ tuổi hồng, Mái tóc em có dài thêm tận lưng, có chảy thêm như giòng sông nhỏ, hay có  bay theo chiều gió  lớn, thì cũng một ngày, sẽ không còn. Tóc sẽ cắt ngắn, để vĩnh biệt cất vào ngăn kéo thời gian, để làm buồn những gã con trai, để có gió mà không có tóc mây, để có con đường mà không còn người áo trắng. Tóc hết bay rồi, mà vành nón cũng hết nghiêng nghiêng, cặp sách cũng hết ấp vào trước ngực, và những chú cá cũng hết rồi chết sửng dưới cầu. Nhưng có lẽ với em là hết, nhưng với anh vẫn còn. Như Huế vẫn còn trong anh.

 

Anh đã xa Huế hơn ba hơn ba mươi năm có lẽ. Đôi chân đã phiêu bồng trên những dặm dài, và càng ngày càng dài vô tận. Chiều dài của không gian hay địa lý cũng thăm thẳm như chiều dài của thời gian. Từ một giòng sông An Cựu nắng đục mưa trong nay bỗng nhiên đứng ở bên giòng Hudson sương và khói. Từ nơi này, thấy những con tàu cứ 5 phút là cất cánh hay đáp xuống phi trường Newark. Về đi, về đi… Ở nơi này, không có cầu đá để anh đứng mà tìm những vòng tròn sóng cũ. Ở nơi này không có ghế có bàn để anh còn ngồi đốt lại điếu thuốc tình si. Ở nơi này, không có những đàn bướm trắng, qua cầu, lạc vào trong sương. Và ở nơi này không có những giòng suối đen mà những cánh hoa phượng vô tình đậu lại. Về đi… Nước thì vẫn chảy mà anh thì vẫn  làm kẻ bên lề. Có một cơn mưa bụi. Có bờ bên kia, thành phố mờ nhạt ánh đèn. Anh nói với lòng. Ly cà phê còn nóng lắm. Như lệ lòng của anh đây. Về đi…

 

 

 

Trái đất tròn, không ngờ  có ngày anh lại gặp em, nơi rất xa quê nhà. Cám ơn  định mệnh. Cám ơn Trời Đất đã đưa đẩy hai người bạn học một thời được cơ duyên hội ngộ. Em ngồi đấy. Khác xưa. Khác hẳn. Người bạn học nói: Mi còn nhớ Cẩm không. Cẩm có mái tóc đẹp nhất trường đấy.

Trời ơi. Cẩm ấy sao. Tau không thể ngờ.

Để tau đến gặp.

Rồi anh đến bàn em.

Cám ơn cuộc họp mặt để tạo những cuộc gặp gỡ trùng phùng.

 

Ngôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa

Hãy cho ta đếm những áng mây…

 

Những áng mây thì vẫn ngàn vạn năm trôi đi và trở lại.  Có khi hợp rồi tan và tan rồi hợp. Như hôm nay anh về cùng ngày họp mặt của những con xa xứ  này. Và không thể ngờ anh lại được gặp em. Bất ngờ lắm. Sững sờ lắm. Thì ra Cẩm, Cẩm của thời ta si dại. Nhưng mái tóc không còn. Dáng e ấp cũng đã mất đi. Cẩm mừng ríu rít huyên thuyên. Nỗi mừng của bạn bè một thời cắp sách. Không phải là nỗi vui mừng như hai kẻ ở hai đầu sông xa tít mà uống cùng một giòng. Anh Vinh bây giờ ở mô làm gì, mấy con rồi. Còn Cẩm? Cẩm có gia đình từ khi anh đi lính. Anh ấy đáng lẽ hôm nay có mặt, nhưng bận trực bệnh viện. Cẩm có một trai một gái. Rồi em giới thiệu người thiếu nữ bên cạnh. Đây là con em. Cháu tên Bảo Hiền. Rồi em quay sang con gái, nói: Đây là bác Vĩnh, bạn học với me, con chào bác đi.

 

Cháu Bảo Hiền quay sang anh và cúi đầu.  Trời ơi, một mái tóc thề, một giòng suối  đang phủ trên bờ vai rất mềm của cháu. Dưới ánh điện nhiều nến, mái tóc óng ánh, như một giòng suối dát bạc. Giòng suối ngày nào lại chảy qua đời anh. Giòng suối mà anh đã một thời tắm bơi mê mệt. Giòng suối nào mà những người con của xứ Huế tự hào. Nó không phải là giòng sông mà vua Nguyễn một hôm nào nghe mùi hương tỏa dậy để gọi  là sông Hương. Bởi vì sông Hương chỉ luân lưu theo hai mùa mưa nắng từ quê nhà. Sông Hương không chảy đi xa. Không khắc ghi sâu đậm vào tâm khảm của người xa xứ. Trái lại, cái giòng suối nhỏ mà mềm mại, mà mượt mà, mà ánh lên màu mun tuyền, mà để anh có lần gục đầu úp mặt. Nó đã chảy khắp bốn biển năm châu. Nó từ một thượng nguồn xa lắc xa lơ, để hạ nguồn chia làm những nhánh sông mang mùi hương mộng mị đến khắp cùng trái đất sau tháng 4- 1975. Để âm thanh tiếng Huế vang vọng khắp nơi khắp chốn. Để những mái tóc lại thêm một lần được gìn giữ qua lớp con lớp cháu.

 

oOo

 

Ôi mái tóc. Phải. Anh đã neo thuyền để đợi cô tóc xỏa bờ vai. Anh đã đợi cô từ đầu cầu, với nụ hoa cài lên mái tóc, với hồn cũng lan những vòng tròn sóng bâng khuâng. Nhưng cuối cùng, thì  thuyền đã bỏ, mà cầu đã xa ngút ngàn. Nhất là anh đang ở một nơi quá đổi xa lạ, không thể ngờ trong đời này. Làm sao mà tìm ở đây một buổi sáng sương mù hay một trưa đường rực bông phượng đỏ. Làm sao mà nhìn lại những người con gái yểu điệu cuống quít hai tà áo. Làm sao khi văn hóa, xã hội, tập tục như bỏ lại đọan đành. Làm sao khi con tim của chúng ta đã chai sạn, và mái tóc của chúng ta cũng đã nhuốm bạc. Thế hệ chúng ta cũng sắp sang trang. Và thế hệ khác lại tiếp nối.

 

Nhưng trôi qua không phải là mất.

Giòng suối ngày xưa đã chảy ra biển đã mất vào trong cõi vô cùng, thì có giòng suối khác lại tiếp tục.

Óng ả trên bờ vai rất mềm, rất thon, rất nhỏ bé và rất thân yêu. Của con em.

 

Hình bóng của em, có phải ?

 

 

Tháng 11.2007

 

 

 

Mùa hạn. Cùng với lửa từ mặt trời là lửa chiến trường. Và chúng tôi cũng theo những màn lửa khói ấy mà có mặt. Và ở đó, sự hiểm nguy không phân biệt bất cứ một ai, dù kẻ ấy có súng đạn hay không súng đạn như chúng tôi. Con đường ra mặt trận không còn được xữ dụng được nữa, khiến  chúng tôi càng cực khổ vô bờ. Những thân người bị những thùng đạn dược làm oằn xuống. Hai bàn tay tươm máu. Những ngón chân cũng vậy. Phải bấu vào đất đá để giữ thăng bằng. Nếu không cả khối đạn trên người sẽ rớt xuống và có thể đè chặn ngay ống quyển cũng không chừng. Chúng tôi phải dùng đòn gánh, đòn bẩy để di chuyển những thùng lựu đạn, thùng dầu, cả  những thùng hộp lương khô cho chiến trường. Và cả công việc phải chuyển những can nước  để mang về Bộ chỉ huy cho ông tiểu đoàn trưởng tắm rửa.

 Mùa hạn. Cái đơn vị trừng giới càng khổ hơn bao giờ. Bên phía quân miền Nam, càng bung ra những cuộc hành quân càn quét vào phía sâu gần biên giới, và càng hành quân, chúng tôi càng bị trưng dụng nhiều hơn. Có đơn vị, đơn vị trưởng dễ dải và thông cảm. Nhưng có đơn vị, họ xem chúng tôi là những kẻ tội tù cần phải canh chừng. Và họ đã xữ dụng chúng tôi tối đa như thể những tên nô lệ không hơn không kém.

 Rồi đến một ngày, người ta lại điều động chúng tôi về thị trấn miền núi. Lý do, người ta cần chúng tôi săn sóc cái dinh thự nghỉ mát – nơi những nhân vật uy thế nhất của quốc gia hay của vùng vẫn hay tìm đến, trong những dịp nghỉ hè, hay trong những mùa săn bắn.

 oOo

Mùa hạn. Nhưng ở đây không có lửa chiến tranh. Chỉ có lửa từ một mặt trời hừng hực đốt. Hầu như không có một ngọn cây nào chịu mọc lên từ mặt đất khô cằn nứt nẻ. Thỉnh thoảng có một cơn gió núi thổi qua, khiến bụi đỏ tung lên mù trời quất xối xả vào mặt mày chúng tôi cùng với hơi nóng rát. Cỏ đã chết từ một ngày nào, vàng khô như bãi sa mạc. Nhưng ở đây, đằng sau cánh cổng sắt và dãy tường vôi nhạt là một thế giới khác. Ở đây, nơi những ngài lãnh đạo,  những mệnh phụ phu nhân, thỉnh thoảng ghé về, và sống như bậc vương giả. Ở đây sân cỏ xanh rì, hồ thủy tạ nước trong veo, và đàn cá vàng óng ánh lội. Ở đây là những buổi tiếp tân linh đình, những cuộc vui, khiêu vũ thâu đêm suốt sáng… Ở đây có phi lao, giáng hương, hoa sứ, hoa giấy. Ở đây là những bậc thềm lót bằng đá thanh dẫn về một hành lang mát lạnh. Những chú chim sẻ buổi trưa đuổi nhau ríu rít dưới hành lang. Và chiều đến, những người đàn ông, đàn bà ra sân cỏ, nằm hoặc ngồi âu yếm bên nhau. Người ta đã quên những gì xảy ra ở  phía rừng. Đã có những lực lượng hùng hậu nằm ngoài vòng đai bảo vệ đêm ngày.

Dù chúng tôi đã khổ sở để tưới nước suốt ngày nhưng thỉnh thoảng giữa đám cỏ xanh rì vẫn hiện ra những lốm đốm vàng. Nước cũng vẫn chịu thua. Chúng tôi đã phải làm việc quần quật để cố giữ màu xanh trở lại. Chúng tôi đã chuyền những ống dây cao su dài dặc, mang nước từ bồn ra bốn phía. Đôi khi ống cao su bị hỏng, chúng tôi không biết cách gì hơn là phải gánh những thùng nước đi một đoạn khá xa. Người ta không muốn thấy một ngọn cỏ vàng giữa một dinh điện nguy nga như thế này . Óc mỹ thuật của họ quả thật là phong phú. Hay là họ muốn tâng công trạng lên những kẻ quyền cao chức trọng từ đâu đó.

Bởi thế ông thượng sĩ phụ trách đã lo lắng không ít. Ông đã phải hét ra lửa, một khi đi kiểm soát:

– Làm ăn cái khỉ gì để cho cỏ mỗi ngày một chết!

Bạn tôi vừa kéo ống cao su, vừa bào chữa:

– Thưa thượng sĩ, tại trời đâu phải tại chúng tôi.

Ông ta la lên:

– Tôi không biết. Đây là trách nhiệm của các ông. Các ông nên nhớ các ông ở đây là còn may. Bạn các ông phải tải đạn ngoài mặt trận!

Rồi ông tức giận bỏ đi. Ông lại đem ra chuyện sống chết để hù dọa chúng tôi nữa. Chúng tôi đã hiểu trách nhiệm và nỗi khổ tâm của ông.

Hoàng hôn đã xuống thật chậm. Dinh thự đã nhuốm một màu vàng sẫm trên mái ngói. Lũ chim sáo từ một khu rừng nào đó trở về như mọi bận, gọi nhau inh ỏi. Thỉnh thoảng tiếng ve sầu lại vang lên như một cung đàn buồn bã. Các cây sứ đã rụng đầy hoa trên bãi cỏ, trên lối đi lót bằng loại đá quí. Phía xa, một nền trời đỏ ửng và một mặt trời đỏ như huyết hiện đằng sau những nhánh phượng khô. Thật là một hoàng hôn kỳ diệu. Những cơn gió mát đầu tiên của một ngày mùa hạ đã bắt đầu trở lại, làm lung lay những chiếc lá giáng hương. Ở chóp những cây trâm đang độ nở hoa, bướm vàng từng đàn đang dập dìu bay lượn. Tôi muốn chết ngất trong thiên nhiên tuyệt vời. Tôi muốn nằm ngay trên bãi cỏ xanh êm mà chúng tôi đã đổ xuống bao mồ hôi để gìn giữ, mà nhắm mắt lại, tận hưởng nỗi êm đềm của chiếc bánh xe thời gian đang dần lăn vào cõi tối. Tôi muốn uống  trọn những giàn hoa giấy, hoa hồng, hoa sứ trong vườn. Chúng tôi đã bắt từng con sâu, con kiến, nhổ từng cọng cỏ dại… Nhưng tôi không thể thực hiện điều mơ ước. Không ai cho tôi được quyền nằm đây để tận hưởng. Tôi chỉ biết ngồi yên trên cỏ, dưới bóng mát của cây giáng hương. Trên cao bầu trời xanh như màu ngọc bích. Có tiếng chim ríu rít trên cành. Ở đây mọi sự thật bình an. Và tâm hồn tôi cũng vậy. Cũng yên tĩnh chẳng khác một thiền sư.

Giữa lúc ấy thì một người con gái từ trong dinh bước ra.

Nàng trẻ trung trong chiếc quần jean và chiếc áo polo màu huyết dụ. Tóc nàng thắt bím. Cả gương mặt nàng thật rạng rỡ. Thêm đôi mắt sáng. Nàng đến bên bụi hồng cao quá đầu người. Và nàng say sưa nhìn lên những cánh hoa sung mãn trên ngọn cao. Sau đó, nàng nhón chân để níu cành hồng xuống. Rồi tôi nghe nàng la lên, tuồng như thét lên vì đau đớn. Tôi chạy lại. Thì ra vì sơ ý cả một cành hồng đầy gai móc vào da thịt của nàng. Nàng vẫn còn ôm lấy bàn tay ri rỉ máu.

Ôi cánh tay ngà ngọc. Cổ tay trắng, và những ngón tay mềm mại. Tôi nâng cả bàn tay của nàng lên, cố gỡ những chiếc gai nhỏ còn vướng lại trên da. Nàng ngồi bệt xuống cỏ. Tôi cũng qùi xuống. Nàng để nguyên bàn tay trong lòng bàn tay tôi, miệng mếu máo:

– Có sao không ông?

– Không sao đâu, thưa cô.

– Nhưng sao lại nhức quá thưa ông?

Tôi an ủi nàng:

– Chịu một lúc rồi sẽ hết. Lần sau, cô cần thì kêu tôi, tôi hái giúp cho…Hồng này nhiều gai lắm,  thưa cô.

Trông nàng tội nghiệp làm sao. Nàng nắm chặc tay tôi, Nước mắt xem chừng long lanh. Tôi quì xuống cố gở những móc gai tàn bạo. Vâng, em đau, tôi biết. Gai hồng này là loại gai nguy hiểm. Móc như móc câu. Khi móc vào da thịt thì khó có thể cạy ra.

Sau đó, nàng cám ơn tôi, rồi vào dinh. Còn tôi, nhìn theo nàng. Những ngón tay của tôi đã dính máu của nàng. Không hiểu sao tôi đưa lên miệng mà mút mà liếm. Máu vẫn còn tươi. Mằn mặn. Tôi nếm và nghĩ là mình đang nếm vào chất vị của hạnh phúc. Tôi bỗng nhiên cám ơn định mệnh. Cám ơn những ngày khổ nhục. Cám ơn mùa hè. Cám ơn bụi hoa hồng sum sê cao ngất. Tất cả đã cho tôi một cơ duyên, dù chỉ là một khoảnh khắc của đời.

Có tiếng giục của tên trưởng toán chuẩn bị về lại doanh trại. Một ngày như mọi ngày. Rồi hàng rào dây kẽm gai lại vây bọc. Rồi giờ cơm, toán trực lảnh phần từ hoả đầu vụ. Khi thì com nhảo, khi thì cơm khê. Những con cá mối trường kỳ. Rồi một ngọn đèn nhỏ soi mờ. Rồi ngày nắng lửa vì mái tôn, nhưng càng về đêm thì lạnh cóng vì hơi đất, khí núi, và cũng từ mái tôn thấp ấy. Đó là cái thế giới mà người ta gọi là trại trừng giới thả lỏng. Vâng, chúng tôi đang trở thành những con vật người đây, trả nợ cho quân đội đây, các người hả dạ chưa.

oOo

Kể từ ngày ấy, tôi có dịp được hái thêm những cánh hoa hồng khác. Nàng yêu hoa ghê gớm. Và tôi đã cố lựa những cánh hoa đẹp nhất, tươi thắm nhất để hái cho nàng. Đôi khi gai nhọn làm xước da thịt tôi, nhưng đâu có hề gì. Bên tôi nàng huyên thuyên như con chim sáo, hỏi han đủ chuyện:

– Ông làm ở đây lâu chưa hở ông?

– Vâng. Bắt đầu từ mùa hè…

– Xin lỗi ông, em thấy sau lưng ông chữ LCĐB. Chữ gì thế. Tại sao ông lại mang như thế?

– Là Lao công đào binh.

– Lao công đào binh là gì hở ông ?

Tôi im lặng. Phải nói làm sao về một sự thật. Có nên đưa nàng xem những vết sẹo đã cày trên da thịt tôi. Có nên nói với nàng về một huy chương Mỹ, hai cái bạc, hai cái đồng và hai chiến thương  mà một thiếu úy đã có trên mặt trận?. Có nên nói về những người như bố mẹ và ngay cả nàng nữa lúc này đang có bao nhiêu người lính hầu hạ, ngay cả việc bắt chúng tôi phải khổ cực trong dinh thự nguy nga, sang trọng này, là một trong trăm ngàn cảnh bất công bất nhẩn mà bất cứ người lính nào có suy nghĩ cũng phải phẫn nộ.

– Xin lỗi đã làm ông buồn. Ông cần em giúp gì không. Em sẽ nói với bố em…Bố thương em lắm.

Tôi cảm động. Nhưng tôi phải thú thật. Tôi đã chọn quyết định và phải chấp nhận quyết định. Tôi luôn luôn ngững đầu trong mọi hoàn cảnh. Tôi bắt qua chuyện khác:

– Tôi đoán cô lên vùng này để nghỉ hè?

– Vâng. Ba tháng hè.

– Chắc cô nhớ Sài gòn lắm phải không?

– Vâng, nhớ lắm, thưa ông. Dưới đó em có rất nhiều bạn. Chẳng bù trên này, chỉ một mình. Bố mẹ em lại bắt em lên đây ba tháng hè. Chán ơi là chán…

– Xin lỗi, cô học lớp mấy?

– Lớp 11.

– Ban nào?

– Ban B.

– Ngày xưa tôi cũng từng dạy lớp 11. Tôi dạy về Toán Lý Hóa.

– Thế ư? Em rất dốt Toán. Ông giúp dùm em nhé.

– Lâu quá, tôi quên rồi. Tuy nhiên tôi sẽ gắng. Cô cứ đưa đề cho tôi, tối về trại tôi sẽ giải hộ cho.

                              oOo

Rồi một ngày tôi được lệnh trình diện viên thiếu úy tùy viên của bà vợ ông Tư Lệnh. Hắn ta nhìn tôi bằng cái nhìn kẻ cả. Tôi hiểu, dù cấp bậc thấp, nhưng cái chức tùy viên của hắn đã làm chức vụ hắn còn cao hơn cả những sĩ quan cao cấp khác.  Có lẽ hắn  nghỉ là hắn sắp ban cho tôi một ân huệ. Tôi sẽ phải chào tay hắn, hay phải đứng nghiêm trình diện. Còn khuya. Tôi khinh hắn thì đúng hơn. Cái con người chỉ biết xách bị  và xách dép cho những phu nhân.

– Văn phòng Tổng Quản Trị  cho chúng tôi biết là anh có cử nhân Toán, nguyên gốc giáo sư. Ông bà Tư lệnh cần một người kèm trẻ. Anh có thể ở ngay tại tư dinh, khỏi về trại nữa. Lát nữa ban quân trang sẽ đem đến bộ quần áo khác để anh thay. Anh khỏi mặc chiếc áo này.

Rõ ràng, hắn coi 4 chữ LCĐB sơn đen trên lưng áo của tôi như là một dấu hiệu của ô nhục. Tôi nhìn thẳng vào mắt hắn:.

–  Tư lệnh ra lệnh tôi dạy thì tôi dạy. Nhưng tôi không thể ở nơi này được. Tôi phải về lại trại. Tôi phải trả nợ những gì mà người ta bắt tôi phải trả. Nhờ thiếu úy trình lại với tư lệnh.

Tôi trả lời dứt khoát.

Phải. Tôi phải về  với họ. Về với những bếp lửa hằng đêm mà chúng tôi đã đốt lên, và tiếng hát buồn buồn, những đôi mắt nhắm lại, những râu tóc rối bù, những chiếc áo ngày càng dày vì mồ hôi khổ nhục, những tiếng mớ, và đôi khi ánh trăng lọt vào trại trừng giới, xanh và rất sáng như tắm đầy nền…, đến cả những đống lá khô mỗi sáng chúng tôi đốt lên, để chúng tôi càng ngồi lại gần hơn. Về cùng với cõi tăm tối lầm than mà chia nhau ngọn lửa, dù là ngọn lửa đốt lên từ thùng dầu hay đống lá khô. Về để chia chác với nhau nỗi ô nhục hay niềm hảnh diện thầm kín, vì họ đã dám thách đố cùng cái định mệnh của tuổi trẻ. Họ đã dám vượt ra khỏi cái móng vuốt của diều hâu.

Vâng, phải cám ơn em, cám ơn lòng từ tâm của một người con gái. Tôi biết chỉ cần nói một tiếng với em là tức khắc bộ đồ ô nhục này sẽ được vất đi, và tôi sẽ thành một người khác. Cấp bậc sẽ được phục hồi. Một chỗ tốt tại hậu cứ. Khỏi đi tác chiến. Vâng, tôi biết thế. Nhưng tôi không thể…

Và cuối cùng, người ta cũng chìu tôi. Có nghĩa là mỗi ngày  từ 9 đến 11 giờ  tôi đến dinh để dạy 2 người con của viên Tư lệnh. Đó là hai chị em. Hoàng Hương là chị. Và cô em, Hoàng Thúy, mới 10 tuổi. Con bé này khác với tánh chị, là một con bé rất bướng bỉnh, khó dạy. Có lẽ bởi ông bà Tướng quá nuông chiều nó. Hay cũng có lẽ là trong đầu óc thơ ngây của nó, nó chỉ thấy cái thế giới đầy quyền uy của bố. Tôi phải gắng nuốt nước bọt, lẫn cả cay đắng để vuốt ve, chiều chuộng hầu cho nó vui mà học. Một ngày nó đang ngồi trong phòng học, chợt nó kêu lên: Thầy ơi, có tổ chim, có chim con trên cây kia. Rồi nó chỉ cho tôi xem một tổ chim trên chóp cây giáng hương ngoài sân. Tôi không thể ngờ sau đó, nó lẻn ra ngoài, kêu ông trung sĩ quản gia trèo lên để mang những con chim con xuống cho nó. Sở dĩ tôi phải dài dòng ở đây, để nói về một trong những sự thật đau lòng mà tôi biết. Tôi bất mãn khi nhìn ông trung sĩ già trèo lên chóp cây. Ông đã phải làm vừa lòng một con bé. Không. Ông tuân lệnh cũng nên. Lệnh ông Tư lệnh. Lệnh bà Tư lệnh. Và lệnh tùy viên. Lệnh con cái ông Tư lệnh. Cũng như tôi đây. Tôi cũng đang tuân lệnh. Không ai dám cải lại, chống lại.

May mà tôi có Hoàng Hương. Người học trò mà mỗi ngày tôi càng khám phá thêm một nỗi rung động mới. Ở mái tóc xỏa xuống bờ vai thon mềm. Ở những sợi tóc mây phơ phất trên vầng trán thơm. Ở đôi má ửng hồng, đôi mắt đen lay láy. Ở vẻ suy nghĩ tội tình khi nàng cố giải một bài toán. Ở cây viết chì mà nàng cắn giữa hai hàm răng trắng như hạt lựu. Ở những hình chữ nhật hình tròn tam giác cân tam giác đều tam giác vuông vô tri mà nàng vẽ ra trên trang giấy. Ở mỗi lần nàng nhìn ra ngoài sân nắng, không biết nàng mơ mộng gì ngoài kia để tôi phải nhỏ nhẹ kêu nàng trở lại cùng trang sách học.

Tôi thầm kín nhìn từng sợi lông măng, từng sợi lông mày, cái lúm đồng tiền của nàng. Hai giờ cho mỗi ngày, trừ ngày chủ nhật. Tôi ra đề. Tôi bắt nàng đọc lớn. Đọc đi đọc lại cả chục lần. Nàng đọc, nhưng cuối cùng nàng lắc đầu nói: Em không biết giải làm sao. Thầy giải cho em đi. Tôi cười: Nếu tôi giải thì em cần gì phải học nữa.

Đôi khi con bé Hoàng Thúy lẻn ra ngoài, và căn phòng chỉ còn lại tôi và Hoàng Hương. Lúc ấy, nàng kể lại những ngày vui ở Sài Gòn. Nàng không biết gì về những gì xảy ra ở phía rừng, mặc dù bố nàng là kẻ ở trong cuộc. Nàng say mê nói về những đứa bạn, về ngôi trường đầm, về vỉa hè Lê Lợi, Nguyễn Huệ và những ly kem… Có khi nàng lại nói về những đứa con trai con cháu của những ông bộ trưởng hay tướng lãnh nổi tiếng trong những buổi dạ hội, hay đua đòi cùng những chiếc xe mới. Tôi thì nghe, và tự biết mình đứng ở ngoài thế giới ấy. Rõ ràng, chiến tranh đồng nghĩa với tội ác, với máu và nước mắt, với tai ương, nhưng nó cũng mang đến cho một số người những lợi nhuận, những đặc quyền đặc lợi mà trong thời bình chắc họ không thể có. Hoàng Hương, em phải cám ơn chiến tranh. Tôi muốn nói như thế. Nhưng tôi không thể nói. Nàng sẽ không bao giờ hiểu đâu. Tôi chỉ yên lặng nhìn lên gương mặt xinh đẹp và yêu đời. Tôi biết tôi đang níu kéo lại những giờ phút êm đềm hôm nay. Hãy sống cho một giờ. Và hãy chết cho một giờ.

Tôi thật sự sợ mùa hè sẽ chấm dứt.

                                 oOo

Cuối cùng thì mùa hè cũng chấm dứt. Và cuối cùng, người con gái cũng từ biệt tôi không một lời từ giã. Ngày cuối, tên tùy viên gặp tôi trao phong bì. Hắn nói: Đây là quà của bà Tư lệnh. Tôi nhận, biết chắc là những tờ giấy bạc mà người ta thưởng công. Nhưng cớ sao tâm hồn tôi lại rưng rưng. Một cánh chim đã bay trở lại đồng bằng, và còn lại một cây rừng hiu quạnh cùng những cơn gió núi. Tự nhiên lại nhớ đến lời ca dao: Đoạn trường nước chảy qua cầu. Gặp nhau sông núi trở màu đắng cay…

 Ngoài sân, những bụi hoa hồng rực thắm. Vài cánh hoa vươn cao, bừng rộ một màu huyết dụ…Tôi biết là nàng sẽ thích. Nhưng nàng đã xa. Làm sao tôi gởi nụ hoa hồng về phương trời dưới ấy?

Mùa hạn. Lửa càng ngày càng vây bủa thị trấn. Lửa theo đồng cỏ khô cháy nhanh, hung hãn như những trận sóng thần. Và lửa cũng theo những đầu đạn hoả tiển, hay trọng pháo vồ chụp xuống thị xã, đào thành những hố sâu, chạm vào kho xăng, dầu, bắt cháy bừng bừng. Cùng với lửa là sấm nổ. Những chớp lửa sáng loé ở bốn bề, càng lúc càng vây sát thị xã hơn bao giờ. Và người ta bỏ chạy. Người ta đào thoát. Trong khi ấy, lửa đã làm chúng tôi hồi phục lại cấp bậc nhanh chóng. Họ phát súng phát đạn, ra lệnh đơn vị trừng giới làm tuyến cản ở  phi trường. Họ dùng chúng tôi. A ha. Họ cần những kẻ mà họ xem là hèn nhát, sợ chết !

ít ra đây cũng là trận đánh để đời, để chúng tôi tự hào và ngẩng mặt

 

Mùa hạn. Lửa. ở đâu cũng thấy lửa. Càng bỏ chạy, lửa càng hung hản reo mừng, đùa rởn đuổi bắt. Mùa hạn hiếm gió, nhưng thật nhiều lửa. Và lửa đã đuổi em, đuổi tôi, đuổi mọi người chạy đến sức cùng lực tận. Thôi hết rồi một thời để mộng mị. Thôi hết rồi những bụi hồng hôm nào nở rực rở, và em cũng vậy, cũng rực thắm bên hoa. Tôi nói với lòng tội tình em bao nhiêu. Lửa đã cháy cả mái nhà dinh thự, lửa đã thiêu rụi tư dinh, lửa đã bắt cha em đi xa, và lửa đã đẩy em chân trần, chạy trên những động cát nóng bỏng, phỏng cả gót mềm. Và tôi cũng vậy. Mùa hạn, tôi uống nước vũng trâu, nước bùn đất. Tôi thay trâu kéo cày, tôi kiệt lực gánh những thùng nước về tưới cho những ngọn mạ như ngày xưa tôi cũng đã từng gánh những thùng nước cho viên tiểu đoàn trưởng tắm.. Mùa hạn. Tôi thấy em đẩy xe ba bánh, em con ông tướng, áo vá vai, căn chòi lá làm nơi dung thân, nước mắt cũng theo mùa hạn mà khô trên hai hồ lệ. Tôi nói với lòng, tôi thương em biết mấy. Muốn cứu em, em ơi. Chúng ta vẫn có một nơi trồng thật nhiều hoa hồng và tôi sẽ hái cho em những bông hồng tươi đẹp nhất, rực rở nhất.

Phải. em ơi, chẳng lẽ cuối cùng trời lại không đổ xuống một cơn mưa ân sủng ?


%d bloggers like this: