Category Archives: TẢN MẠN

TRẦN HOÀI THƯ, NHÀ THƠ CẦM SÚNG

Người viết: NHƯ KHÔNG

cropped-03222741_the1bb9di-tre1babb-ce1bba7a-tht.jpgTHT (thời trẻ)chuanuy

 

 

Lời chũ Blog:  Tôi vừa nhận bài viết: “THT, nhà thơ cầm súng” từ một người bạn văn chuyển đến.  Tác giả   là Như Không. Bài viết, từ tháng 3-20017, có đề tặng tôi ở cuối bài, nhưng mãi đến bây giờ tôi mới được đọc. Tôi xin phép được đăng lại, và xin được bày tỏ lòng cám ơn chân thành  đến bạn thơ Như Không 
Ấm lòng lắm bạn ơi ! (THT).   
______

Biết và đọc anh từ khá lâu,trước 75.Mấy mươi năm trôi qua khi đầu đã bạc lại được biết thêm về anh qua các bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh.Lê Mai Lĩnh sư huynh thuộc loại người thẳng như ruột ngựa,thích và phục ai là nói thẳng mà đã không thích thì cũng…khó lòng mà yên thân được với anh.Trong bài viết của mình,Lê huynh không dấu diếm sự ngưỡng mộ với anh Trần Hoài Thư.( ” Trần Hoài Thư,tên cowboy hai súng ” – Bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh ) Ngưỡng mộ là phải, 75 tuổi trên đất Mỹ,anh cặm cụi cùng với vợ đến một thư viện cách nhà 5 giờ lái xe để sao chép lại mỗi ngày một cách rất thủ công những đầu sách thực sự giá trị in tại miền nam VN trước 75. Đem về lại hì hục in ấn rồi đóng thành sách để…tặng không cho những người yêu văn chương miền Nam và những người thực sự có nhu cầu.

Đối với tôi,những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất.Họ phải ra trận,vừa đánh giặc vừa viết,không có cơ hội để xuất bản.Sau năm 75 không ai đếm xỉa đến văn chương của họ.Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ “. Anh bảo thế.Thư Quán Bản Thảo và cơ sở in ấn của anh,Thư Ấn Quán đã ra đời như vậy. Có lần một sĩ quan Dù gửi thư cho anh nhờ tìm tác giả bài thơ Biên Cương Hành ( của Phạm Ngọc Lư ) để cảm ơn vì trong khi anh sĩ quan này bị thương chờ trực thăng tới bốc,anh đã đọc bài thơ BCH trên báo Văn,rất trùng hợp với những suy nghĩ của anh. Vào năm 2010 lại có người hỏi thăm anh về nhà thơ Lê văn Trung vì khi bị tù đày trong trại tù CS,anh đọc được những bài thơ của tác giả Lê Văn Trung và còn nhớ đến bây giờ. Trần Hoài Thư như đã trở thành một chiếc cầu nối cho những độc giả và những người làm văn nghệ nổi tiếng một thời mà sau 75 họ không còn tác phẩm nào được tái bản hoặc xuất bản vì nhiều lý do,trong đó lớn nhất là vẫn lý do chính trị.
Trần Hoài Thư muốn dành thời gian còn lại của anh để bù đắp cho những tác giả miền Nam trong thời chiến nhưng có lẽ anh còn quên một điều,với chúng tôi – dĩ nhiên có cả anh trong đó – những người lính đi đánh trận thì “ tiền lính tính liền “ Lấy đâu ra tiền để dành dụm mà xuất bản ? Biết ngày mai đi hành quân là “ xả láng “mọi thứ,làm sao biết được mình còn sống không để mà trở về ?

…Trần Hoài Thư cũng là một người lính tác chiến.Nguy hiểm hơn nữa,anh thuộc Đại Đội Thám Kích của Sư Đoàn 22 Bộ Binh.Một Sư Đoàn chỉ có một đại đội Thám Kích, (1)  nhiệm vụ của họ là nhảy trực thăng – còn gọi là nhảy Diều Hâu – hay bằng các phương tiện khác vào vùng địch,tìm cách tiếp cận để nắm được quân số,vị trí và các trang bị chiến đấu của họ để báo về Bộ Tư lệnh của sư đoàn. Vì thế từ quan cho đến lính đều là những người ưu tú và cực kỳ gan dạ vì khi đã vào đất địch bằng các đơn vị nhỏ như vậy thì chết dễ như bỡn vì thiếu sự yểm trợ từ chính đơn vị của mình. Dân Thám Kích “ chê “ mấy thằng du kích vớ vẩn. Bọn này chỉ rình rình núp đâu đó,cắc cù một hai phát là ôm súng co giò chạy biến. Thám Kích “ làm ăn “ lớn hơn nhiều. Phải là cỡ chính quy cấp sư đoàn,” đồ chơi “ toàn thứ dữ như cỡ thượng liên 12.8, vuốt nhẹ cò súng một chút như vuốt má con gái là đạn bay hàng tràng , như cối 82 ly, cối 120 oạch đùng vang dội,miễng bay rào rào rát mặt cháy tóc, như DKZ bắn thẳng nổ dữ dội những ngày ra trận. Những ngày chiến trận đó Trần Hoài Thư đã hai lần bị thương, có một lần đạn “ chê “ anh,viên đạn xoi một lỗ bên một ống tay áo,đục thêm một lỗ khác trên ngực áo,cày một đường văng mất một đầu vú rồi lại chui ra ở ống tay áo bên kia. Dân tác chiến là như vậy,có lúc đạn bắn tơi bời hoa lá,kêu chút chít như chuột kêu chung quanh mà chẳng hề hấn gì. Có lúc một trái pháo trời ơi đất hỡi bắn hú họa mà lại trúng miễng chết lãng nhách. Những ngày đó tỉnh Bình Định thuộc Liên Khu 5 của Bắc Quân là căn cứ địa của sư đoàn Sao Vàng Bắc Việt khét tiếng, có thung lũng An Lão bốn bề núi dựng nằm ở phía Bắc.Nhiều khi ranh giới mong manh giữa hai bên chỉ là 1 dòng sông nhỏ, chiều ngang chưa bằng nửa tầm đạn bắn. .

Dòng sông phân tranh hai vùng thù nghịch
Đêm xuống đồi gặp con nước nổi
Súng đưa khỏi đầu
Từng con * một vượt sông
…………………………………
Rồi trước khi trèo ngọn Kỳ Sơn
Anh lạc trên cánh đồng trăng mênh mông
Không biết nơi nào là cõi dữ

( Đêm vượt sông )
Chú thích : * “ Con “,tiếng lóng nhà binh chỉ người lính

Ngay từ khi nhảy ra khỏi trực thăng có nơi nào không là cõi dữ ?Dân Thám Kích trang bị nhẹ, chỉ mang dao găm,súng M16 với cấp số đạn gấp hai lần,loại súng khi bị ” dính ” đạn vào người thì đầu vào chỉ bằng mút đũa mà đầu ra phá một lỗ toang hoác. Và rất nhiều lựu đạn,cả M26 hoặc M87. Họ không xài M72 chống tăng vì họ gần như chỉ cận chiến nếu gặp địch.

“ Nước nguồn đổ xuống ngày binh lửa
Những xác nào đã thúi hôm qua
Ai bạn ai thù sao quá thảm
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia

Con sông chia cắt đôi bờ hận
Cột khói còn lưu luyến chiến trường
Có ai chạy loạn bơi xuồng kể
Một thước đi,xác ngập thước đường “

( Trung đội )

Bài thơ gợi nhớ lại chiến trận núi Chu Pao ở rừng núi cao nguyên thuộc Vùng 2 Chiến Thuật với hai câu thơ nổi tiếng :
“ Chu Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi tấc khăn tang một tấc đường “
Chiến trận núi Chu Pao ngày đó là đồi núi,đôi khi 2 bên chỉ cách nhau một tầm ném lựu đạn. Bên này ném thì bên kia chụp trái lựu đạn ném trả,chết… tính sau vì cứ nằm yên thì còn dễ chết hơn.
… Khi Thư nhảy vào vùng địch, những thây người chết trong chiến trận của cả hai bên bị bỏ lại đã sình thúi trong thung lũng An Lão bốn bề gió hú. Họ nằm đó, lặng lẽ nhìn trời hay úp mặt xuống đất, xác thân tan nát vì bom đạn, vì hỏa lực T.O.T ( times on target ) đang lặng lẽ phân hủy. Mùi xác chết xộc vào mũi Thư và các người lính của anh theo tiếng gió réo đang thổi lồng lộng lật tung chiếc nón sắt đang đội :

“ Địch cho Trung Đội qua eo chết
Hai bên sườn đại liên đan nhau
Nổ.Nổ dòn
Đất đá kêu đau
Sủi bọt 
Khói bốc lên
Bốn bề dội vào vách xám
………………………….
Một hai ba…Lộn.Nằm co quắp
Còn lại vẫn ào lên ào lên
Đừng bò ! Đừng bò !
Trung đội phó hét cuồng điên
Cỏ tranh bắt mồi cháy mạnh
Gió tạt khói mù
Bốn bề khói rợp
Khói cay cay cặp mắt nổ tròng
Khắp bốn bề gào thét xung phong
…………………………………
Cao điểm chiếm rồi
Vui mừng quá độ
Mà sao người lính Truyền Tin rơi lệ
Báo cáo trong tiếng mất tiếng còn
Về những thằng bị kiến cắn * ngủ yên

( Eo chết )
-Chú thích : * Bị “ kiến cắn “ : Tử trận

Bài thơ hào hùng đúng mùi chiến trận. Người viết bài này cũng từng ở trong những tình huống tương tự : Không được bò.Dỏng lưng lên lăn xả vào họng súng bên kia thì còn có cơ may sống sót. Xạ thủ đại liên M.60 cũng xách cây súng nặng chịch vừa chạy vừa tưới đạn về phía trước. Trong kinh hoàng khói lửa, những tiếng nổ của lựu đạn và những loại súng khác nhau từ cả hai phía làm hai tai điếc đặc,khói súng mù mịt trên chiến trường và tiếng thét xung phong dồn dập làm cho người lính trận như say, chỉ có một hướng lao về phía trước không còn nghĩ gì tới chết sống. Nhưng khi chiến trận tàn rồi,tiếng nổ đã im,rừng bỗng trở nên yên ắng kỳ lạ và lúc đó mới biết ai còn ai mất.Và rớt nước mắt thương đồng đội của mình,mới sáng nay còn chia đôi điếu thuốc giờ đã vĩnh viễn nằm xuống không kịp trối trăn một lời. Và cũng là khi thấy thấy máu của mình chảy ra từ đâu đó mới biết mình cũng bị thương:

“ Chỉ giữ lại trên thân ta,này vết sẹo
Để khi buồn,sờ lại nhớ thời xưa
Dấu vết hôm qua khói lửa mịt mù
Và kinh hãi
Trời ơi
Ta vẫn còn sống sót

( Tạ Từ )

Chỉ có những người trực tiếp cầm súng bắn nhau mới biết anh nói đúng. Nghĩ lại mà rợn người, chẳng biết làm sao mà mình còn sống được. Đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn ? Vậy mà khi bị thương ra khỏi Quân Y Viện,vết thương vừa lên da non lại nhớ đồng đội,nhớ chiến trường. Nhớ mùi cỏ cây hăng hắc nồng nàn mỗi sáng đi mở đường trong rừng già,nhớ mùi những thân cây bị bom cháy đen vươn những cánh tay khẳng khiu trên trời những chiều đóng quân,nhớ những cánh rừng im lặng rợn người không một tiếng chim kêu vì muông thú đã bỏ đi hết do bom đạn Và chân lại muốn đi,đi về phía có ánh lửa chớp sáng trên đầu họng súng,nơi có những đồng đội chia nhau từng ca nước uống sặc sụa mùi bùn đỏ múc lên từ những vết xích xe tăng mà cơn mưa đêm qua còn để lại. Suối có khi rất gần nhưng không thể xuống được. Lọ mọ kéo nhau xuống lấy nước lũ “ mất dạy “ phục sẵn trong rừng bắn cho nát gáo. Nhớ những đêm nằm rừng,quần áo thấm nước mưa và mồ hôi vào ban ngày đã khô quắt lại,nằm trên võng treo bên dưới chiếc Poncho, cây súng dựng sẵn một bên. Nhớ những cánh rừng cỏ tranh cao lút đầu người,những ngày lội trong rừng cỏ tranh sắc như dao cứa đứt thịt da. Nhớ những con suối mùa khô xâm xấp nước,lá cây rừng rụng xuống hàng hàng lớp lớp,khi mang giày trận lội qua là chắc chắn những kẽ ngón chân sẽ lở loét,nhớ cả những vết muỗi rừng chích xuyên qua lớp poncho và bộ đồ trận đã dày cui vì mồ hôi và nhựa cây rừng.Và cứ thế, như có một sức hút kỳ lạ không giải thích được,người lính chiến miền Nam lại tiếp tục bước chân về phía chiến trường nơi rừng già,nơi tăm tối đến nổi không có lấy một chút ánh sáng hỏa châu màu đỏ quạch để soi sáng cho họ những cái chết đang rình rập trong bóng đêm mù mịt.

“ Những lần chuyển quân dù chẳng biết về đâu
Nhưng chúng tôi đều biết những gì đang chờ đợi sẵn
Như thể những viên đạn đồng trong lòng cơ bẩm
Xẹt ra khỏi nòng rồi kiến cắn tê mê
……………………………………..
Hãy mừng dùm anh dù bầm dập tả tơi
Anh vẫn được tăng phái xuống đồi
Tiếp tục những lần chuyển quân
Về những nơi mình không biết

( Người lính trở về với chiến trường )

Mà ngọn đồi nơi người lính Thám Kích Trần Hoài Thư “ được “ tăng phái thì có yên bình một chút nào đâu ! Vẫn là nơi chết chóc vang động tiếng pháo của Bắc quân đe dọa sự yên bình trên mảnh đất miền Nam nơi anh sinh ra,nơi có Mẹ Cha,có bầy em đang tung tăng đến trường mỗi sáng,nơi có những gia đình đoàn tụ mỗi ngày bên mâm cơm tối đạm bạc dưới ánh đèn.Và anh lại khoác áo trận để trở lại chiến trường cùng với đồng đội của mình dù biết rõ cái chết vẫn đang chờ anh qua cái họng đen ngòm của chiếc nòng súng,của chiếc lưỡi lê 3 khía nhọn hoắt trên nòng cây AK 47 sản xuất tại Liên Sô hay của Trung Cộng đang nhắm vào yết hầu của dân miền Nam.

“ Tôi qua đồi xám mây mờ núi
Thương về đâu một lũ sáo rừng
Hôm qua đồi ngập hàng trăm xác
Đạn pháo đào sâu bãi chiến trường
………………………………………
Có ai như thể người lính Thượng
Ngồi khom trên bờ đá thổi khèn
Hôm qua có những hồn ma lẻ
Lạc tìm về buôn bản cao nguyên

Có ai dưới lớp mồ hoang dã
Nằm xuôi chân mắt mở trợn trừng
Chiều nay sao mọc về phương Bắc
Sao ruột lòng vắt đỏ phương Nam

Cỏ tranh lớp lớp che đường dốc
Phòng tuyến buồn hiu nhuốm nắng chiều
Trận đánh cũng đi vào quên lãng
Sao còn rờn rợn những hồn xiêu “

( Đồi xưa )

Ra vậy ! Người lính Thám Kích Trần Hoài Thư,với tâm hồn của một người làm thơ đã nhìn thấy những con sáo bay về rừng trong chiều chuyển quân.Tâm hồn nhạy cảm dễ rung động trước cái đẹp của anh ghi nhận được những điều nhỏ nhoi tinh tế nhất và cả những hình ảnh dữ dội của cái chết khi nhìn thấy những người lính từ phương Bắc xa xôi nằm chết banh ruột trên đất miền Nam. Trên đất cao nguyên ngày đó có người lính làm thơ Trần Hoài Thư với những thị xã nhỏ bé “ đi dăm bước đã về chốn cũ “ như lời thơ trong một bài thơ của Vũ Hữu Định. Vùng đất đỏ quạch bụi bay mù trời dưới những vòng bánh xe GMC những chiều chuyển quân và ngập ngụa bùn đỏ vào những ngày mưa mù mịt của cao nguyên làm anh da diết nhớ nhà :

Anh ở trên rừng với Thượng với Kinh
Với những đại ngàn mặt trời mất tích
Những người chung quanh màu da đen nám
Nên cuộc đời anh cũng phải nám đen

Anh ở trên rừng mưa ngày mưa đêm
Không cần cùm chân mà chân khó bước
Bước một bước lên bùn già chân trước
Bước hai bước lên bùn non chân sau
……………………………………..
Anh ở trên rừng thương em nhớ con
Không biết làm sao để về dưới nớ
Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ
Cay cả cuộc đời lính thú cao nguyên “

( Anh ở trên rừng )

” Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ ” Ôi cha ! Câu thơ tuyệt vời !
Một ngày anh có khách đến thăm giữa núi rừng hiu quạnh,nơi chỉ có hầm hố súng đạn và những người lính trận dạn dày sương gió:

“ Em lên thăm anh mang mùi thiếu nữ
Nhà anh đây những hố hầm phòng ngự
Không có gì ngoài ít bài thơ
Không có gì ngoài những hoa mười giờ
Đỏ thắm cả một triền đồi heo hút

Em lên thăm anh áo màu hoa cúc
Mà hầm anh lâu quá không sửa sang
Em xem kìa,lựu đạn với dao găm
Không có cả một tấm hình để thêm tươi mát
Không có bức tranh dù là tĩnh vật
Để ấm cuộc đời trong tuổi thanh niên “

( Em lên thăm anh )

Và cứ vậy,hết cao nguyên lại xuống đồng bằng. Trên bốn vùng chiến thuật,những người lính trận miền Nam VN trải qua tuổi thanh xuân của mình trong lửa đạn. Họ tiếp tục có mặt nơi những tuyến đầu,nơi có những trò chơi chết người của súng đạn đang chờ đợi họ,không ngại ngần,không dè dặt để giữ vững sự bình yên cho đất nước.

“ Diều hâu đã về như một lũ âm binh
Kẻ trước kẻ sau lao vào địa ngục
Đêm không thấy đường giữ dây khỏi lạc
Chúng tôi băng đồng nước ngập
Giải cứu quê em

( Đêm tiếp cứu chợ Huyện )

Nhưng khi anh và các đồng đội,những “ diều hâu “ lao tới nơi địch về thì có khi đã không còn kịp nữa: Ngôi trường nghèo nàn tả tơi ở một vùng quê xa xôi trong cơn binh lửa đã cướp mất mạng sống của cô giáo trẻ,để lại một bầy học trò cũng nghèo nàn không kém đang sợ hãi nháo nhác bên xác cô giáo như bầy gà con mất mẹ :

“ Lũ bé quỳ bên xác cô trẻ
Đặt chùm hoa mếu máo gọi cô về
Cô không về,cô bỏ dạy,cô đi
Cô bỏ chúng con cô về xứ khác
Ta cắn bầm môi…em ơi,ta khóc
Em không về em cũng bỏ thanh xuân
…………………………………
Em bé quê ơi cho ta nhành bông
Một nhành bông quỳ vàng như màu áo
Ta đặt lên em.Trống trường ảo não
Như những hồi mặc niệm em tôi.
………………………………….
Ta đã về,và đã trễ,em ơi…

Tôi tin chắc là anh khóc . Vì chính tôi, khi đọc những câu thơ này cũng đang cay cay trong lòng muốn rơi nước mắt. Sự bình yên cho quê hương,cho những ngôi trường nghèo nàn ở những nơi xa xôi đã làm đổ biết bao nhiêu máu. Nhưng những người lính miền Nam đã bị phản bội. Máu xương của các người lính miền Nam, của đồng bào miền Nam đã bị phản bội vào cái ngày mà Richard Nixon,Tổng thống Mỹ bắt tay với Mao Trạch Đông, tươi cười cụng ly rượu mời nhau ở Bắc Kinh vào năm 1972. Trên bàn cờ chính trị quốc tế, do ảnh hưởng của “thầy dùi “ Henry Kissinger là Ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái thời đó – một con ma đi đêm theo kiểu Đại Sứ Henry Cabot Lodge thời Đệ Nhất Cộng Hòa – và những áp lực khác nhau từ nhiều hướng, người Mỹ bỏ bán đảo Đông Dương để hướng về Trung Đông,nơi mà đồng minh Israel thân cận của họ cũng đang lao đao trong vòng vây thù địch của những quốc gia Ả Rập thuộc khối Hồi Giáo. Rồi Hoàng Sa bị Tàu Cộng chiếm. Người lính trận miền Nam vẫn tiếp tục dũng cảm chiến đấu trong vô vọng.
Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết. Quân đội Mỹ bình an rút về nước. Cũng từ đó,các viện trợ quân sự cho miền Nam chỉ còn nhỏ giọt. Máy bay,xe tăng nằm ụ vì thiếu nhiên liệu hoặc phụ tùng thay thế. Pháo yểm trợ cho các trận đánh chỉ bắn cầm chừng vì không còn đạn dự trữ trong khi Bắc quân rải pháo như mưa xuống các vùng hành quân bị cô lập vì không còn gì để tiếp tế cho họ,cho những người lính cắn răng chiến đấu trong sự thiếu thốn đến tận cùng. Khí tài,súng đạn vào những ngày tháng 4/75 chỉ còn đủ dùng trong một tháng,trong khi các nước đồng minh thuộc khối Cộng Sản tiếp tục tăng viện với số lượng không giới hạn các phương tiện chiến tranh cho Bắc quân. Vào những ngày cuối tháng 4/ 75, do thông tin liên lạc hoàn toàn bị cắt đứt từ trước đó nên đã có một đơn vị thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không hề biết tin tức gì về chiến sự. Họ đang hành quân trong rừng già nhưng hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy của mình. Khi lò mò ra khỏi rừng về đến Tân Uyên thượng nguồn sông Đồng Nai họ đã bị bắt sống và cả 28 người lính đều bị xử tử, xác bỏ trôi sông. Và cuối cùng, điều không thể nào tránh khỏi đã xảy ra : Dương Văn Minh kêu gọi quân đội buông súng đầu hàng vào cuối tháng 4/75.
… Lịch sử sẽ ghi lại những vị tướng VNCH, những quân nhân các cấp thuộc mọi binh chủng đã tự sát vào ngày miền Nam bị bức tử. Lịch sử đã chọn các anh để giao cho phần đen tối nhất, thê thảm nhất. Những người lính phải buông súng khi không hề thất trận và các anh đã không thể có được sự lựa chọn nào khác cho mình. Thế hệ của các anh,rủi thay, rơi đúng vào thời điểm thê lương nhất trong lịch sử VN.

“ Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân

Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai,tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu
……………………………………..
Thế hệ chúng tôi già như quả đất
Râu tóc mỗi ngày mọc những hoang mang

( Thế hệ chiến tranh )

Người lính làm thơ Trần Hoài Thư, vào thời gian này là một phóng viên chiến trường nên chỉ bị tù ba năm nhưng những sĩ quan khác thì triền miên đói khổ trong tù chẳng biết ngày về. Lại một giai đoạn bi hùng khác của quân đội VNCH,rất nhiều người đã bị giết, gián tiếp hay trực tiếp khi trong tay không còn tấc sắt. Nhà cửa họ bị tịch thu. Vợ con họ sống lây lất trong các khu Kinh Tế Mới heo hút trong những vùng xa xôi rừng thiêng nước độc,đầy dẫy bom mìn còn sót lại. Chiến tranh đã đi qua nhưng những ký ức đau đớn vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Trần Hoài Thư :

“ Da ông bạn màu đen
Tóc ông bạn màu trắng
Da của tôi màu vàng
Tóc của tôi màu trắng

Màu trắng của Daksuk
Màu trắng của Mang Giang *
Màu trắng của mù sương
Màu trắng của mây bạc
Thời chúng ta đánh giặc
Nhuộm mãi đến bây giờ

( Trắng )
* Chú thích: Các địa danh của Cao nguyên Trung phần

Những ngày sống trên đất Mỹ nhìn đất trời cô tịch – như rất nhiều những nhà thơ VN khác – lòng anh bùi ngùi nhớ quê hương.

“ Ở đâu cũng vẫn đất trời
Cũng rừng cô tịch cũng đồi tà dương
Cũng ngày nắng cũng đêm sương
Cũng qua cũng lại phố phường người dưng
Cũng trên trời một vầng trăng
Cũng sông vẫn chảy hai dòng ngược xuôi
Nhưng sao lòng lại không nguôi
Nghe như bìm bịp gọi chiều nước lên “

( Xa xứ )

A ! lại con chim bìm bịp ! Loài chim có nhiều nơi sông nước miền Tây có tiếng kêu rất buồn,rất đơn điệu kêu theo những con nước ròng lên xuống.Tiếng kêu mênh mang trên những dòng sông trôi lặng lẽ ra biển,chẳng ai nhìn thấy con chim ở đâu nhưng tiếng kêu cứ vang vang trên dòng nước chảy,tiếng kêu thấp xuống dần rồi tắt hẳn trong những bãi bờ xanh ngắt ven sông. Anh làm sao mà nguôi ngoai được những ngày binh lửa còn váng vất trong trí nhớ. Lòng anh giờ cũng buồn thảm như tiếng bìm bịp kêu một mình trên những dòng sông đỏ màu phù sa của một quê hương bây giờ xa thẳm ngàn trùng.

Bảy mươi lăm tuổi. Đời người không còn mấy nổi. Anh vẫn cặm cụi và tỉ mỉ làm cái công việc của riêng mình hàng ngày,vẫn chăm chút những tác phẩm văn học của miền Nam nhưng sẵn sàng tặng không cho những người còn quan tâm đến văn chương miền Nam một thời chìm trong lửa đạn.
Riêng với tôi, anh vẫn cứ là người lính Thám Kích của gần 50 năm trước. Anh vẫn là người đi đầu, chấp nhận gian khổ và hy sinh như ngày xưa nhưng trên một mặt trận hoàn toàn khác : Mặt trận Văn Học.Văn Học miền Nam.

Viết để quý tặng anh Trần Hoài Thư
Như Không
3/2017

_____

(1) Thật sự Sư Đoàn 22 BB có 4 đại đội thám kích biệt lập. (ghi chú của THT)

Đọc văn bạn (tản mạn)

Một bút hiệu nhiều ý nghĩa…

“Phải chăng, bút hiệu đã khẳng định tính cách văn chương  và cuộc đời của người ấy. Như Từ Thế Mộng. Khởi đầu: Từ là đến. Đến từ thế giới mộng mơ, anh đem thế giới mộng mơ đó đến với cuộc đời văn chương. Kết thúc: Từ là từ biệt. Từ biệt thế giới mộng mơ đó để trở thành cát bụi.”

(Nguyên Minh: Mảnh đời – Màu tím hoa Mua, nhà xb Thanh Niên 2014)

Như vậy, khởi đầu cũng là Từ. Và kết thúc cũng là từ.
Một chữ mà hai nghĩa.

Ôi tiếng Việt !

Cám ơn Nguyên Minh về lời giải thich này.

Những lời cuối cùng…

thât khó tin nhưng có thật. Một tạp chí in ân bằng tay. không quảng cáo không bán, không máy in hiện đại. Vậy mà nó lại đến với độc giả bốn phương từ hải ngoại đến trong nước. được bạn đọc danh cho một sự thương mến đặc biệt. Như  trong Màu tím hoa mua”, Thanh Niên xuất bản 2014, nhà văn Nguyên Minh (chủ trương Quán Văn) kể lại hai lần đến thăm thân hữu của anh ấy trước khi họ qua đời. Và cả hai lần, cả hai người đều nhắc đến Thư Quán Bản Thảo.

Thăm nhà thơ Từ Thế Mộng tại bệnh viện trước khi nhà thơ mất:

Những ngày anh vào Sài Gòn chữa bệnh, Lê Ký Thương chở tôi đến thăm anh. Lúc đó anh ốm hẳn và nước da đã ngã vàng. Khác hẳn với lần gặp mặt đầu, cách đây hai năm trong quán cà phê Vô Thường với Lê Ký Thương, Lữ Kiều, anh có cái vẻ đẹp lão, hồng hào, và nhất là nụ cười rất tươi, yêu đời. Gặp tôi, anh quên mình là bệnh nhân, anh chỉ hỏi tôi có mang đến TQBT số mới nhất không. Khi tôi hỏi thăm, anh chỉ trả lời qua loa về căn bệnh của anh, xem như không đáng quan tâm. Anh và tôi lại nói chuyện về văn chương.
(Mảnh đời – Màu tím hoa Mua”

 

Thăm anh Trần Quang Hòe tại bệnh viện. Anh Trần Quang Hòe là một chuyên gia nổi tiếng về phát hành sách tại SG trước 1975.  Nguyên Minh thăm anh lúc anh khoảng 90 tuôi:

“Tôi đến thăm anh. Năm trên giường bệnh, mắt lờ đờ nhìn tôi, anh vẫn nhận ra người thân. Anh nắm chặt tay tôi, cất lên tiếng nói run run, từng tiếng một:” Anh đã đọc những truyện em viết trên Tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Anh như thấy mình trẻ lại với bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu cho đến tuổi thanh xuân“. Tôi ngạc nhiên hỏi: “làm sao anh có mà đọc ?” Anh cười: ” Một anh bạn trẻ, một nhà văn cũ ở Cali đã gửi tặng anh. Sao em không xuất bản riêng cho mình ?”

(trich từ Ông bạn già)

 

Kỷ niệm màu (2)

 

Thời gian là bước về phía trước. Và kỷ niệm là bước lui sau.
Thời gian không thể nắm bắt nhưng kỷ niệm có thể nắm bắt được bởi vì kỷ niệm đã được giữ gìn rất cẩn thận. Chúng là trân châu. Chúng là hồng ngọc.

Kỷ niệm như  tấm hình chụp buổi đám cưới của đôi bạn cách đây hơn 40 năm có lẽ. Những người trong cuộc đang cười vui, hân hoan lộ trên gương mặt. Họ vẫn còn trẻ. Vẩng trán ít dấu hằn cùng thời gian.

dam cuoi-2 (1)

Nhưng thời gian vẫn vô tình  bước về phía trước. Theo giây phút giờ ngày tháng năm. Và bây giờ, hãy nhìn xem, những người trong tấm hình :

Người thì tóc bạc phơ. Người thì như bông hoa héo tàn. Người thì nếp hằn in vầng trán khổ. Những lưỡi dao giờ phút của hai cây kim đồng hồ đã lần lượt cắt đi chất sống, hút dần nhựa nhân sinh… Hơn bốn mươi năm, đâu phải là ngắn ngủi, để mà trẻ mãi không già.

IMG_0013 (1)
(Chụp chung với chú rễ  sau hơn bốn mươi năm. Hình được chụp bởi cô dâu)

Có thề, có kẻ nhìn hình với ý nghĩ thương hại. Sao mà ông nhà văn THT lại thảm quá chừng. Tóc bạc phơ, già cội… Hay một người xinh đẹp thưở nào nay phải ngồi xe lăn… Cám ơn lòng đoái thương.
Chúng tôi khi post hình này cũng biết được điều đó. Xấu che tót khoe. Đẹp gì với cái hình trong viện dưỡng lão !

Nhưng đối với tôi, nó đẹp lắm, để tôi phải nhìn hoài, mà mỗi lần nhìn là mỗi lần lòng như nẩy nở những nhụy hoa hồng thắm như màu áo của Y. trong hình.
Đó là cái tìnhnghĩa của con người. Tình bạn bè. Tình vợ chồng. Cái tình ấy trân quí lắm. Trần quí vì nó quá khó để mà giữ.
Đặc biệt nhất là Y. trong bức hình thứ nhất, bậm môi, bậm miệng,  giờ này mới thật sự   cười. Dù trong hoạn nạn.

 

Có mặt

(Bài viết cách đây 5 năm)

Nhớ lại những buổi điểm danh. Từ lớp học của thời trung học. Vừa tay giơ lên, vừa trả lời Có Mặt. Rồi trong trường lính. Có mặt. Nhưng phải la phải hét. Và trong trại tù. Mệt mỏi, không muốn cất tiếng, nhưng vẫn thốt ra. Có mặt  Rồi trong lớp học Mỹ. Yes. I am hay I am here.

Hai chữ Có mặt đã đến với đời, và để lại cho đời những dấu mốc, dấu ấn khó quên.

Có mặt chẳng những được cất lên bằng tiếng nói. Nhưng bằng tín hiệu. Những tiếng chuông leng keng mà ta rung, trong suốt tám tháng thời làm gã bán cà rem dạo ở các vùng Bình Minh, Tân Quới, Phụng Hiệp, hay các bến xe đò Cần Thơ, Vĩnh Long sau năm 1975, cũng là một sự có mặt. Có mặt của một kẻ mang bộ đồ rách nát, với chiếc thùng cà rem đặt đàng sau xe, và chiếc nón rơm:

Ta bán cà rem hề, ta bán cà rem!
Lắc chiếc chuông đồng, khua vang làng xã
Ôi những hồi chuông lâu rồi đã ngủ
Bỗng hôm nay, choàng dậy, ngỡ ngàng
Trên đầu ta, mây trắng thênh thang
Dưới chân ta, vòng xe nhật nguyệt
Chuông đồng leng keng, thay người đào huyệt
Gọi những ma hồn trong buổi đảo điên

Ta đạp qua cầu, qua bến, qua sông
Qua những xóm làng, công trường mồ mả
Chiếc áo trận xanh, sạm mùi khói lửa
Chiếc mũ rơm đan, vương miện tội tù
Ta qua những miền thiên cổ âm u
Ta đập vào thùng, nghêu ngao ca hát
Ta bán cà rem hề, kem đường kem chảy
Thêm kem oan cừu chất ngất miền Nam

Những con đường Nam Bắc Tây Đông
Những trạm mọc lên chó vàng chó sói
Hỡi sợi dây sên, mi là bạn khó
Kết cùng ta những nỗi lênh đênh

Ta bán cà rem hề, thì bán cà rem
Bà con ơi, đừng nhìn ta mà khóc
Ta đang đứng trong chuồng thú vật
Ít ra ta vẫn là một con người

Em bé quê ơi, nghèo lắm, phải không
Lại đây anh tặng em một cây kem chuối
Có phải em là con một người lính ngụy
Nên cuộc đời toàn là những cơn mơ ?

Ôi những tiếng reo giòn, ông già cà rem
Chưa đầy bốn mươi, ta già thế đó
Ta không buồn đâu, tóc ta bạc trắng
Như một ông già chuyện cổ phương Tây

Ông già Noel vào mùa Giáng Sinh

Lắc chiếc chuông đồng phát quà phát bánh
Ta cũng như ông đầu làng cuối xóm
Lắc chiếc chuông đồng, phát cả trái tim

carem
Hình Internet

Đấy, tiếng chuông đồng của Trần Hoài Thư đấy. Nó là dấu ấn của lịch sử. Cái lịch sử tăm tối chó má thê thảm tủi nhục đối với một số người)  nhưng mà tự hào, ngẩng mặt, thách thức.
Chính vì vậy, tôi mới ghi trong Resume xin việc của tôi là : Ice cream vendor. Vậy mà AT&T, IBM lại bốc tôi lẹ.

Bây giờ, sự có mặt này, không còn là những âm thanh cũ, nổi dậy từ trong phòng lớp, hay trong quân trường, cũng như trên các lối đường qua xóm qua chợ…mà là cái blog này.

Sự có mặt được đánh dấu bằng một trang post, do chính ta đánh máy, do chính những ngón tay ta gõ vào bàn phiếm, dù ngón tay có run và mắt đã kém để nhìn ra con chữ. Sự có mặt bây giờ mang theo niềm ân sủng, bởi vì mỗi ngày đối với ta là một bonus của Trời Đất. Nó cho ta được cơ hội chăm sốc Y. Nếu không có ta làm sao em có thể gọi ai nửa đêm. Nếu không có ta làm sao ai có thể giữ gìn thân thể em khỏi ngả, lấy ai đá, hay nhấc chân trái để cho nó được di động cùng bước chân. Không có ta lấy ai mang cơm mang nước mang đủa mang muổng mang đồ giặt mang chai nước mang thuốc mang man, mang áo quần dơ đi giặt, lấy ai chửi thề, pha trò, đóng kịch, nuốt nước miếng để cái khối sỏi cứng nhắc trong cổ họng này, cho tan loảng ra mà sống …

 

Sau mười ngày im lặng…

Bài này được viết cách đây 5 năm.

 

Tự nhiên tôi nổi máu khùng, đóng cửa Blog của mình. Tánh tôi vẫn vậy. Trước đây có lần tôi cho nó nổ.  Nhưng bây giờ thay vì cho nó tận tuyệt, thì lại cho nó có quyền từ chối khách viếng thăm. Quá dễ. Vào reading chọn option privacy.

10 ngày im lặng. Tôi im lặng trong một nỗi buồn đến muốn khóc. Từ đông cứng, nghẹn ở cổ, nó chảy tan như cục nước đá. Nó lai láng, rồi tự nhiên òa vỡ thành những những giọt nuớc, mà vô tình tôi gặp khi thấy mắt mình cay.
Tôi thương Y., thương vô cùng tận. Thương không phải Y. là người bạn đời, nhưng bởi vì, ở Y. là một nỗi chịu đựng của một con người phế tật, muốn trở thành một người bình thường. Tôi đã nhận biết bao lời khuyên, lời an ủi và chia xẻ. Vậy mà tôi cứ nghĩ , không bao giờ, không bao giờ chuỵện này sẽ xảy ra. Chẳng hạn một sáng một chiều Y. được bước đi khỏi cần tay tôi đỡ, thân tôi che, chẳng cần mỗi lần bước là mỗi lần Y. phải cố gắng hết sức. Chân nhấc lên cao, bước tới, và bàn chân khi đặt xuống nền nhà, là phải flat, tức là phải nằm ngang, chứ không được nghiêng. Nếu vị trí nghiêng, không ngay, thì một là cả thân sẽ chao đảo  có thể lọi xương, trận khớp…
Tôi cần phải theo dõi kỹ từng bước. Đôi lần tôi bảo thôi, đủ rồi, để tôi đẩy xe lăn cho bà ngồi, khỏi cần tập đi. Nhưng Y. vẫn đòi tập. Tập. Chân phải bước, chân trái lại không chịu. Nó là con vật bất kham. Nó ngổ nghịch, cứng đầu. Nó đòi đình công bãi thị. Và tôi lại cúi xuống, ôm nó, đẩy bắt nó đi… Đôi vợ chồng già đang mỗi ngày tập đi tập lại  lại điệu vũ “Dancing with star”. Có lẽ nếu dự thi, chúng tôi sẽ phải  đứng top…không biết chừng !

Và 10 ngày im lặng, tôi đã giải quyết được hai điều. Một forum Mỹ là Fixya.com  đã chuyển tới tôi một số câu hỏi về máy scan Fujisu và máy in Okidata của người đọc. Họ muốn nhờ tôi giúp. Họ còn nịnh tôi là ông sắp đạt đến level 2 về sự đóng góp kỹ thuật của tôi.  Tôi đã biết tẩy họ. Không phải họ ưu ái gì tôi đâu. Tất cả đều có mục đích riêng. Ví dụ khi tôi giải quyết được vấn đề tại sao giấy in mực màu lại nhòa, lại chỗ đậm chỗ lợt,  người vào trang Web của họ sẽ đông, Web sẽ được uy tín, và từ uy tín, các cơ sở thương mại mới tìm đến và quảng cáo… Nhưng mà, tôi vẫn phải giúp họ. Đó chính là sự giúp đở thiết thật nhất. Nó khác với văn chương. Dù tác giả có giải Nobel về văn chương đi nữa  cũng chẳng giúp gì cho người  đọc. Có phải vậy không?

Từ chuyện này, tôi nghĩ là mình sẽ đóng Blog mình. Chữ nghĩa ích gì cho buổi ấy.  Liệu chữ nghĩa của tôi có mang đến người đọc một chút gì mà mình muốn gởi gấm? Liệu những miệt mài Theo Em có thể khơi động một chút động lòng? Liệu những bài thơ bài văn tôi tôi có mang đến những tâm hồn đồng điệu để họ vui buồn với tôi và hạnh phúc với tôi ? 

Có lẽ tôi sẽ chuyển Blog này qua một hình thức khác, một forum về kỹ thuật. Ví dụ Printing on Demand hay về những kinh nghiệm về điện toán, về máy in, máy scan chẳng hạn, hầu sự giúp đỡ  được thiết thật hơn…

Nhưng mà tôi lại không thể im lặng nỗi. Tôi đã đọc một bài văn của Mai Thảo trong một số Sáng Tạo. Nhan đề  là Sau tám tháng im lặng. Bài văn xuất hiện sau 8 tháng Sáng Tạo đóng cửa ngỡ đã chết. Một truyện nói về tâm trạng của một người muốn mang trong người một niềm ham sống mãnh liệt: 

“…Khoảng cách biệt giữa chàng và đời sống, phân tích tìm kiếm, phản ứng bằng mọi cách để lấp đầy nó,  bao nhiêu cố gắng bắc những cái cầu khỏng thành, buộc những sợi giây vô ích thường làm Phiên trở lại với ám ảnh của vùng biển tuổi nhỏ và tự hỏi giữa khoảng cách hiện tại với vùng biển quá khứ kia có một liên quan nào không. Phiên không biết nữa. Chàng chỉ là một kế ham sống, chàng chỉ muốn ôm muốn nhận cuộc sống vào mình mà không được và chẳng biết vì sao. Khối đời rực rỡ trước mắt, sau lưng, chàng có cảm tưởng như bao nhiều lần nhảy vào, ngón chân ngón tay bám víu cào cấu đến chảy màu, cái khối sống rực rở ấy vẫn tuột di. Thành phố thì có hàng triệu kẻ lạ mặt và chàng thì là sự lạ mặt của hàng triệu của cái lạ mặt kia. Quán cà phê buổi sáng, tiệm cơm buổi trưa, một mình lang thang dưới những bóng cây, trong công viên, ngoài bến tàu, có bạn hữu bên cạnh, trở về khách sạn, xuống đường, mang trong người một niềm ham sống mãnh liệt, Phiến vẫn vấp phãi cái khoảng trống ấy. .”

Y. ham sống mãnh liệt. Nhân vật Phiên của Mai Thảo cũng ham sống mãnh liệt. Còn tôi, chỉ 10 ngày. Tôi không thể bỏ cuộc.  Đầu óc tôi muốn nổ bùng đây. Làm sao mà im lặng được.Tôi vẫn là người ham sống, và mãnh liệt ham sống mà.

Có phải vậy không ?