Thư Quán Bản Thảo / Trần Hoài Thư

Archive for the ‘Thơ thời làm lính miền Nam’ Category

 
THT 1971
(chụp trong ngày đi phép)
 
 
 
Một người bạn tặng một số Văn cũ. số 181 tháng 7 năm 1971 có bản tin do anh thư ký tòa soạn Trần Phong Giao viết về ngày đám cưới cùng ngày ra mắt tập truyện” Những Vì Sao Vĩnh Biệt “. Nhớ lại, càng cảm tạ Trời Đất, đã giúp một người lính núi được bình an qua bao chập chùng tai họa, để về SG cho kịp ngày hôn lễ. (Chỉ trước ngày hôn lễ một ngày !)
Bài thơ sau được sưu tập từ một trang báo cũ. Đăng lại để quí bạn  có thể hình dung những điều kiện và hoàn cảnh của những người viết trẻ trong thời chiến. Họ đã sống và viết như thế nào …
(THT)
Đọc tiếp »

1.
Hành quân qua xóm Gò Bồi
Xem nhà Xuân Diệu có còn hay không
Tôi qua chiếc cầu  Đại Hàn
Chắc nhà thơ cũng từng qua chốn này
LÒng dưng rất nhẹ như mây
Thấy trên sông những đám mây in trời
Thấy lòng rất đổi bồi hồi
Nhớ bài thơ thuộc chép thời học sinh

2,

Hành quân qua xóm Gò Bồi
Nắng trưa đổ lửa trên đồng cỏ khô
Xa xa xanh thẩm hàng dừa
Bao quanh xóm,  những bụi bờ khả nghi
Quân dừng đợi lệnh chuyển di
Máy truyền tin cứ  rù rì  ỉ ôi…

Bỗng nhiên một tiếng súng rời
Xé lên từ xóm Gò Bồi bên sông
Và rồi, là một thằng con
La lên một tiếng, gục đầu, súng buông
Đạn AK phá thịt xương
Làm tan nát cả tấm lòng với thơ

Giờ này, ngoài Bắc, nhà thơ
đang vắt óc để  phanh thây  ngụy thù
Giờ này, ở tại Gò Bồi
Có tôi  chuẩn bị  đội hình xung phong

1.

images

Nước lên, trời thổ mật vàng
Nửa lan mây núi
nửa  tràn bãi sông
Nước lên rực một trời hồng
TRường giang lai láng một  giòng  hoàng kim
2.

Nước lên, quân lội qua sông
Đầu thì đội súng, mình trần, tay bơi
Khúc sông vang động nói cười
Hồn thanh niên bỗng một thời tuổi thơ
Nước lên, bờ tả đã mờ
Chỉ còn bờ hữu nắng vàng níu chân
Nước lên trời sắp tối dần
Quân qua đã hết
Sao ta còn không bơi ?

 

2.
Nước lên, đêm sắp buông màn
Qua sông,  những bóng âm thầm qua sông
Không đò dọc, không đò ngang
Chỉ có chăng là   hình nhân lờ mờ
Với đầu đội chiếc ba lô
Với  poncho làm chiếc bè chiếc phao
Súng nòng chỉa mủi lên cao
Thương cho  ông thượng sỹ nùng thoát y

 

3
Nước lên, ngày đã tàn rồi
Mặt trời đã ngủ sau đồi Kỳ Sơn
Chỉ có ta là dẫn con
Qua sông tìm mấy mả mồ  viếng thăm

 

4.

Chiều chiều thiếu úy qua sông
Hầu Kinh Kha qua đất Tần giết ma
Bây giờ chẳng có dân đưa
Ba nghìn tân khách chỉ  là sậy lau
Ngày xưa   cả xứ đàng sau
Bây giờ tháp cổ  cúi đầu   đìu hiu

5.

 

Con sông vòng dưới chân đồi
Tháng năm nước cạn, tháng mười nước dâng
Nhà em ở cuối đường làng
Tôi  lội sông, không đò thuyền mà vui

KHói  nhà em thả lên lên trời
Tôi cũng thả sợi tình này cho em
Cho em đôi mắt mơ huyền
Tôi xin phà khói thành hình trái tim

Hỡi người  đồng đội truyền tin
Chờ tôi một lát, tôi còn đang mơ///

Trên kia là khói lửa mù
Buồn che lên cả núi đồi Cù Mông

Dưới kia sóng biển vỗ bờ
Buồn leo lên cả chân Hòn Vọng Phu

convoy

2.

Bên là biển bên là rừng
Quân xa len  giữa  khúc đèo  vắng tanh
Đeo  thành cửa, súng hờm tay
Ngỡ  ta như thể  cao bồi John Waye

3.

Ở đây đèo ải chắn đường
Mây và sương cứ mịt mùng đùn nhau
Mây thì trắng, sương thì mù
Mây sương lớp lớp ùn ùn dàn quân
Khi chạm người  mây tán phân
Chỉ còn sương phủ trên  thân thể người
Mây sương thay mặt Ông Trời
Che thêm nòng súng trên đèotử sinh
4.
Mù sương trắng toát một  vùng
Lên đây  đèo ải sao lòng từ bi
Pha đèn xe chậm quân di
Súng trong tay, hai bên đường, mà  đi
Lòng dưng bối rối lạ kỳ
Từ bi không thấy
chỉ     thấy đầy
quỉ ma

5.

Hết Mang Giang rồi An Khê
Hết Chu Pao rồi Dakto chập chùng
Tổ cha cái bọn trong rừng
Cứ bắt ông phải són quần teo chim

 

 

 

 

hinh tht chuan uy

Nhà văn Trần Hoài Thư năm 1967 – thời vừa viết vừa đánh giặc.
Hình chụp khi làm trung đội trưởng thám kích /sư đoàn 22BB.
Hình trích từ tác phẩm “Nhà văn Việt Nam” của Lương Trọng Minh.

… Nhà văn Trần Hoài Thư là trung đội trưởng thuộc đại đội 405 Thám Kích của Sư Đoàn 22 Bộ Binh vào năm 1967-1972.
Trong thời gian phục vụ ở đơn vị này anh luôn luôn là trung đội trưởng gan dạ và liều lĩnh.
Chúng tôi sống và chiến đấu trong những năm tháng ở chiến trường vùng 2 đầy cam go và đơn vị này thường hoạt động đơn độc. Hồi tưởng lại những ngày sống bên nhau nơi đất Qui Nhơn mà đồi Tháp Bạc là căn cứ đại đội với vài dãy nhà tiền chế, xen lẫn với vài ngọn tháp đã trơ gan cùng tuế nguyệt. Có phải chăng đó là di tích lịch sử của nước Chiêm Thành xa xưa mà tiền nhân của chúng ta thời Lý Trần đi Nam chinh.
Một trong những kỷ niệm khó quên của anh với tôi là trận đánh ở núi Kỳ Sơn thuộc quận Tuy Phước ở tỉnh Bình Định. Trong trận đánh này cả hai chúng tôi đều bị thương, cố vấn Mỹ chết, nhưng binh sĩ đại đội đã chiến đấu để thoát ra khỏi ổ phục kích. Giờ đây mỗi lần gọi điện thoại cho nhau nhắc đến trận đánh này tôi nghĩ rằng chúng tôi còn sống được chắc là do Ơn Trên đã cứu mạng.
Nhắc lại quá khứ 30 năm đã trôi qua, giờ đây gặp lại nhau ở cái tuổi ngoại ngũ tuần, tôi thấy anh vẫn hăng hái viết văn như ngày nào ở đơn vị, tôi rất mến phục ở người sĩ quan có máu văn nghệ, có máu chiến đấu và cũng chịu khó học nên đã thành đạt được vài mảnh bằng trên đất người mà chúng tôi là kẻ tha phương cầu thực…

( Nguyễn Đình Trà (1) – Vài dòng kỷ niệm với bạn Trần Hoài Thư, trích từ Lời Bạt trong tác phẩm Về Hướng Mặt Trời Lặn, xuất bản tháng 5-1998)

(1) Nguyên là đại đội trưởng đại đội 405 thám kích/SĐ 22 BB.

—-

ĐÊM NẰM NGHĨA ĐỊA LUẬT CHÁNH – BÌNH ĐỊNH

……

1
Nơi này khách sạn ngàn sao
Nghe đêm mở nhạc đón vào âm ty
Âm Ty chín cửa a tì
Chuẩn úy trình diện phòng nhì (1) Diêm Vương

2.
Bây giờ bầu bạn âm dương
Kẻ sống kẻ chết chung giường với nhau
Bây giờ lựu đạn mìn râu
Chia canh nhau thức đón chàng dưới kia
Bây giờ dư dật mộ bia
Khỏi cần sách vở khắc đề sử xanh

Trần Hoài Thư

 

(1) Phòng Nhì đặc trách về tình báo, quân báo. Đơn vị thám kích trực thuộc sự chỉ huy và điều động của phòng 2.

Thơ Trần Hoài Thư

“… bao nhiêu trách nhiệm nguy hiểm trong vùng địch kiểm soát, đột kích, thám kích, tiền thám hay viễn thám kể cả tăng viện và là mũi tấn công chính trong một trận đánh dữ dội, đều giao cho Đại đội Thám Kích 405. Vì vậy sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của đơn vị nầy phải là quân nhân tình nguyện hoặc được chọn lựa trong thành phần có kinh nghiệm trận mạc, gan lì và nhất là sự bền bĩ chịu đưng gian khổ ở các đơn vị tác chiến khác của Sư Đoàn. Mặc dù Đại Đội Thám Kích không có trong Bảng Cấp Số của Sư Đoàn, nhưng do tính chất cuả nhiệm vụ khi thành lập -vì nhu cầu chiến trường-nên tính mệnh của mọi cấp trong ĐĐ/TK như “chỉ mành treo chuông” mỗi một khi được sử dụng. Ai vào thám kích mà ra khỏi được, không chết, ít nhất cũng mang theo vài chiếc thẹo trên mình. Trần Hoài Thư rời miền Trung vào miền Nam không biết được mấy Chiến thương Bội tinh…”
(Nguyễn văn Dưỡng – nguyên trung tá trưởng phòng 2 sư đoàn 22 BB, phòng điều động đại đội thám kích 405)

(trích dẫn từ bài ” Định Mệnh”, nguồn Internet)

Mục tiêu 1.
Hạt cơm hạt ngọc của trời
Tôi nhai để nhớ một ngày dừng quân
Mưa vần vũ gió từng cơn
Ba người chắn gió canh chừng nồi cơm

Khói làm cay mắt hoàng hôn
Tôi làm thơ hay tôi còn chiêm bao
Hạt cơm hạt ngọc của trời
Tôi nhai vào cả bồi hồi diều hâu

Phải rồi, cơm sống, gạo đau
Phải rồi,  khói tạt bốc mù đội trung
Phải rồi, cơm nhão, sượng sùng
Toi nhai, nghiền dập nỗi buồn lính Nam

Ba người sao đủ vách phên
Thơ tôi sao đủ  làm khiên che trời
Tháng tư chiến trận tan rồi

Nồi cơm khê sống cả đờichẳng quên
Mục tiêu 2.
Làng hoang địch bỏ từ lâu
Bí bầu rau cải tha hồ tự do
Thiếu chăng thiếu vịt thiếu gà
Thiếu  thêm tí đế mừng ngày bình yên

Mục tiêu 3.

Mục tiêu vừa chiếm xong rồi
Thầy trò đi kiếm cái nồi chị nuôi
Đỡ công nấu nướng lôi thôi
Cám ơn “đồng chí” bỏ nồi thoát thân
Nồi cơm nóng, cá với canh
Thầy trò vét trọn ăn mừng chiến công…

Mục tiêu 4

Mời ông thầy vào xơi cơm
Có gà có vịt tha hồ lai rai
Hôm nay mình bắn kinh tài
Tịch thu một bịt tiền còn máu loang

Hắn núp dưới ao trong làng
Thở bằng ống sậy bọt lăn tăn trồi
Bọn này tưởng cá ném chơi
Không ngờ máu thịt tả tơi lềnh bềnh

Kìa, ông thầy có sao không
Sao ông lại mữa, mặt xanh thế này

Em kêu y tá đến ngay
Mục tiêu 5
Bửa cơm đã dọn ra rồi
Người ô đô nói ngậm ngùi bên tai
Hôm nay lại thiếu thằng Tài
Em bới một chén mời về ăn chung
TRời ui ui đã lập đông
Hàng cây gãy ngọn đóng khung nền trời
Khẩu súng cắm giữa gò bồi
Hai hàng quân đứng ngậm ngùi tiễn đưa…

Trần Hoài Thư

1.
Không phi pháo, không dọn đường
Có chăng là  chiếc la bàn trên tay
Kim dạ quang chỉ hướng này
Trong đêm thăm thẳm chõ nào có ma?

2.

Này  ông tiền sát Ê đê
Sao ông lại xuống xứ này tìm ma
Xứ ông ma cái đòi gà

Bình Định ma cái có tài xẻo chim

3.

.
Ai về Bình Định mà coi
Con ma  Bình Định chuyên chơi mẳng cầu
Mẳng cầu có sợi dây câu
Ngụy trang cùng khắp trên đầu dưới chân
4.
Ma Binh Định độc vô cùng
Hết ông lão đến bà già trẻ con
Bề ngoài dạ bẩm thưa quan
Bên trong là cả một thùng dao phay

5.

Ma Bình Định là chúng tôi
Đêm đêm bôi lọ xuống đồi làm ăn
Tìm về mật khu xa xăm
Giả làm ma xó
đi bắt hồn Bắc quân

6.

Có đêm nằm ẩn mương hồ
Tinh sương được lệnh đội mồ xung phong
Ma bấy giờ, ma hiện hồn
Khiến cho “đông chí” phải kinh hoàng, đứng tim

%d bloggers like this: