Thư Quán Bản Thảo / Trần Hoài Thư

Archive for the ‘Thơ thời làm lính miền Nam’ Category

Thường thường mỗi chiếc trực thăng mang khoảng 5   người.. Trung đội trưởng ngồi ở băng giữa. Hai băng ngoài, mỗi băng hai người cọng vào xạ thủ đại liên trực thăng. Bạn thấy trực thăng không dáp xuống để chúng tôi nhảy, nhưng bay một chỗ cách dất khoảng 5,6  mét (Xin xem hình). Lính ở bìa ngoài nhảy tương dối không nguy hiểm vì trức thăng bày gần đất hơn. Nhưng đến phiên trung đội trưởng nhảy  thì trực thăng bay lên cao hơn.Đó là điều bất hạnh cho trung đội trưởng, vì đô cao có thể khiến ống quyển bị gãy như chơi.   Nhất là chỗ nhảy là triền núi, dốc nghiêng đá lởm chởm có khi đầy bụi gai chứ không phải là chỗ bằng phẳng. Sức quay của chong chóng khiến người lính phải lăn như trái banh xuống dưới vực…

 

tructhang

Tấm hình trên đây sưu tập trên NET chụp trực thăng đổ một toán  thám kích. Lính được trang bị súng nhẹ, không áo giáp, đội mũ rừng… Bạn thấy trên lưng người lính là ba lô ít nhất là 7 ngày, chưa kể đạn dược. Sức chong chóng quay như cơn trốt, và sức nặng  của ba lô, thêm cái độ cao phải nhảy..

 

Nhảy trực thăng ở Phước Lý

Thì ta ra trận, ta ra trận
Trăm lần, thì cũng chuyện rong chơi
Vẫn chuyến bốc quân vào buổi sớm
Vẫn chuyến trở về không buồn vui

Ráng giữ ống chân cho khỏi gãy
Ráng ôm khẩu súng như tình nhân
Cầu cho cặp kính dày không vỡ
Nhớ cột dây thun cho chắc ăn

Thằng Mỹ lái tàu chơi mất dạy
Hai càng chưa hạ đã bay cao
Ta nhìn xuống thấp, run không nhảy
Mày đạp ông, ông phải té nhào (1)

Ta té lăn cù, rơi xuống vực
Kính ta đã rớt, ta mù đui
Mù đui, ta đứng, vai như gánh
Một cỗ quan buồn quá hắt hiu

Lính cũ chỉ đường ta đánh trận
Quân bò, ta lại chạy khơi khơi
Phen này còn sống về thăm phốhé lại em nuôi. Thưởng cuộc đời

(1)  Phía ngoài hai bên hông trực thăng, mỗi bên  ba người lính. Trung đội trưởng ngồi phía trong, giữa trực thăng. Khi tàu sà xuống, lính hai bên nhảy ra… Nhưng đến phiên trung đội trưởng nhảy, thì tàu đã bốc lên cao…

 

trungdoitruongtht-dan-su
THT  thời trung đội trưởng thám kích.
Hình chụp bởi viên đại úy cố vấn Mỹ
tại mật khu Háo Lễ Bình Định. Sau dó,
viên đại úy tử trận tại đồi Kỳ Sơn. (tư liệu của THT)

Người ta đeo  kính  gọng vàng
Tôi đây đeo kính cột bằng dây thun
Đề phòng khi nhảy trực thăng
Đề phòng khi phải dẫn con vô rừng
Cám ơn dây buộc quần hồng
Từ đâu, không biết vào tròng đầu ta…
Người ta đeo Phật Di Đà
Tôi đây đeo cái ta bà chị em

Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em  được thì cho anh xin…

Với tôi anh chàng này đóng kịch rất khéo. Ai dám quả quyêt bảo đảm rằng anh ta quên chiếc áo? Hay là anh ta đặt diều để “tán” cô gái ?.

Như ngày xưa,  ta cũng đã từng:

Dân nhà binh nhựa thuốc vàng tay
Mà giã vờ  vào nhà em xin mồi tí lửa
Má em hồng, ôi hồng lên mắc cở
Anh bỗng nghe lòng nẩy nở niềm vui…

 

Thơ thời chiến của Trần Hoài Thư

1.

nửa đêm kẻng dục liên hồi
Đồi khuya kinh động bóng người bóng ma
Bóng người súng đạn ba lô
Bóng ma : từ những huyệt mồ thành chiêm
2.

Đoàn xe đậu sẵn trên sân
Chó què  chân,  bỗng  tru lên từng hồi (1)
Kẻng càng khua, thốc đỉnh đồi
Vầng trăng cũng hoãng lặn rồi bặt tăm


  1. Ri rầm, bánh chậm xe lăn
    Dốc quanh co quét hai lằn  đèn pha
    Cầm cơn lạnh, điếu basto
    Cầm thêm một chút âu lo trong lòng

4.

Xe qua trại lính gia đình
Thấy người vợ lính một mình bồng con
Chị ơi,  gắng sắt gắng son
Nước mình đá cũng  bảo tồn sử xanh

5.

Đoàn xe đậu ở đường quan
Lính xuống xe, chia đội hàng  di quân
Đường khô đường ráo không ham
Lại ham lội nước băng đồng giữa khuya


  1. Trên trời chẳng thấy vì sao
    Dưới đất nước ngập chỗ nào hố bom
    Xung quanh mờ mịt đen ngòm
    Chỉ có chăng, tiếng mất còn truyền tin 

Trần Hoài Thư


Họa sĩ Đinh Cường, thường vẽ và làm thơ trên những tờ napkin, không phải vì ông lập dị, khác đời hoặc vì ông có thói quen, nhưng vì, napkin là một chiếc phao đến vào lúc ông cần để diễn dạt. Mà những ý thơ hay những  xúc động thường xãy đến khi ta gặp bạn bè, hay khi cô đơn bên ly cà phê trong một quá ăn hay một tiệm cà phê chẳng hạn. Khi ấy, đâu có computer để đánh vào keyboard, đâu có giấy croquis để phác họa chân dung một người bạn. Chỉ có những tờ napkin có sẵn trên bàn,. Nói nôm na là những tờ giấy lau chén, lau muổng, đủa, hay chùi miệng. Chúng mới là cưu tinh. Chúng xuất hiện đúng lúc, như một ân nhân, vì nếu không, ý thơ sẽ bay mất, hay nét vẽ kia cũng sẽ vô vọng, lúc người họa sĩ đã tìm thấy một nỗi xúc động trước người bạn của mình.

Kỳ báo TQBT này, bài thơ Đinh Cường mang tựa đề “Tháng chín, đoan ghi trên giấy napkin ở Starbucks Coffee” đã chứng minh cho vai trò quan trọng của tờ napkin trong văn học. Không phải là “giấy bút tôi ai có cướp giựt đi tôi sẽ viết văn trên đá”  mà là ” giấy vở tôi nếu tôi không mang theo tôi sẽ làm thơ trên tờ napkin starbucks…”

Riêng phần tôi, thì hay dùng bao thuốc lá để thay vào napkin. Đó là thời thanh xuân, thời bụi, thời mà chẳng có bàn để viết, chẳng có giấy để ghi. Ghé vào một quán bên đường, ngồi nhìn cô hàng thấy cô hàng có chiếc quần đen như mượt, có bờ tay lông măng, tự nhiên thi hứng lại nổi lên. Mà quán thì nghèo làm gì có giấy napkin như các nhà hàng. Thôi thì đành lấy bao  thuốc lá ra để làm giấy ghi đở… NHư những câu như thế này:

Cô hàng cho xin ly cà phê nhỏ
Tôi uống cho đầy đôi mắt trong
Một mai tôi chết bên trời Bắc
Em làm sao được khóc bên song ?

Tôi mang gió núi miền Trung lại
Em sưởi cho tôi một mảnh tình
Đôi khi thấy áo bay đầy phố
Ngỡ hồn mình hiu hắt mùa thu…
……

Viết xong, tặng bạn. Bạn giữ gìn dùm. Để nếu nay mai nhảy vào mật khu địch mà chẳng may, bạn còn có tình  ta bên cạnh.

****

Hôm nay, tôi lại nhận được thư cho một người bạn lính. Anh viết một bài ký sự chiến trường, và cho biết có trích thơ ta.  Đọc thơ, cố gắng nhớ, mà không thể nhớ làm lúc nào, trong trường hợp nào. Bởi lúc ấy ta làm quá nhiều và quá dễ dàng:

Đêm đi kích, ngày nhâm nhi rượu đế
Uống để say, quên hẳn tháng ngày
Bên bàn rượu, mỗi ngày một vắng
Thương bạn bè chưa uống đã say!
 Khi vào lính nói năng nham nhở
Nói yêu ai cũng nghĩ đến cái giường, “

(Nguyễn Phán:AN LỘC MỘT LẦN TÔI  ĐÃ ĐẾN, MỘT ĐỜI ĐỂ NHỚ)

.Xin được cám ơn bạn ta. Và cũng xin được cám ơn những bao thuốc lá ân nhân của ta.

 

2_18_Capn & Guys Return From Recon_2Một chuyến tiền thám (hình Internet)

Lời Blog chủ:

Sáng dậy vào 2 AM. Miệng khô và luỡi đắng khủng khiếp. Cảm rồi. Tối hôm qua uống 2 viên Tylenol. Chắc vẫn chưa lành. Lo vệ sinh cá nhân  cho Y. với một nỗi buồn rưng rưng. Chắc sẽ có một ngày ta phải bỏ cuộc, và lúc đó lấy ai mà chăm sóc Y. đây. Chỉ còn cách là đưa Y. vào nursing home, và có lẽ cả ta nữa.

Lên giường cố ngủ thêm, nhưng mắt ráo hoảnh. Lại bật dậy, pha cà phê, uống đắng. Và lại bắt tay vào việc quen thuộc. In bìa TQBT số mới. Lần này chơi sang làm một phụ bản màu trên giấy láng. Và in thêm một số tập thơ Quán để tặng. (Bạn trẻ ớ Pháp, tôi cám ơn bạn đã hỏi, tôi vẫn nhớ nhưng lu bu quá, chưa có dịp ra bưu điện để gởi tặng bạn). Và in thêm Truyện từ Văn, truyện từ Bách Khoa để kèm theo một số tập TQBT gởi đến một độc giả ở Georgia. Anh muốn có những số thiếu.

Không thể ngờ là căn bệnh đã biến mất lúc nào không hay. NHớ đến Blog, lâu không post. THám kích ngày xưa vượt sông bằng phao poncho, giây thừng kéo từng người một đến bờ,  bò sát đến mục tiêu, nằm chờ rạng sáng mới ào vào tấn kích. Thấy cây đa bỗng  nhớ tới cây đa bên cầu trong một bài văn của Võ Phiến.. Nó đã thức dậy trong lòng một người lính trận. Chỉ khác chăng là không phải để chiêm ngưởng nó qua ngòi bút của VP mà là để bảo vệ nó, gìn giữ nó.
Những đọan thơ rời, ngỡ như thất tán vậy mà giờ đây vẫn còn có mặt:
Thị trấn nằm hai bờ quốc lộ
Vỉa hè loang lở đường mương con
Những quán bên đường nghèo trống gió
Những cô hàng buồn như tản cư

 Bồng Sơn mùa nước dâng sông Lại
Ngày sủng loang trên những mảng dừa
Mặt trận đổ theo bìa Đệ Đức
Nghe cận kề lửa hướng Tam Quan
Bồng Sơn, mây ám toàn tin dữ
Chiều chưa buông, quận đóng năm giờ
Giặc chiếm cận sơn, người chạy loạn
Còn bên cầu, trơ trọi cây đa

Cây đa. Có mặt khi nào nhỉ
Có phải nơi này là quê hương
Có phải mỗi con người trôi dạt
Cất trong tim:  bóng mát thiên đường
Cây đa. Vươn giữa trời bi lụy
Những thổ thần hoang lạnh lư nhang
Lửa cháy Trường Lưu, đò đã chặn
Chị ra sông, ơi ới đoạn trường

 Cây đa. Ngàn rể đâm lòng đất
Như tấm lòng người với Bồng Sơn
Đa bám làng, tôi đi bám đất
Đất và làng, thương quá quê hương…

Nhãn:

Bachkhoa 276 - Ve troi 58

Một bài thơ cũ nằm dưới một bài văn cũ. TRuyện thì được viết tại một quán cà phê ở Nha Trang trong một ngày phép xuất viện nhan đề Trưa Địa Ngục. Bài thơ thì được làm trong quân y viện nhan đề Về TRời. Cả hai đều được sáng tác sau lần bị thương thứ hai ở Bình Định.   Trang báo là trang tạp chí Bách Khoa phát hành năm 1969.

Bài được viết trong nỗi đau đớn tột độ, khi một đại đội lên đường với 6 sĩ quan thì 4 nguời tử trận (một thiếu úy đề-lô, một cố vấn Mỹ, một đại đội phó và một trung đội trưởng).

Đấy, tuổi trẻ của chúng tôi là thế đấy. Thơ văn của chúng tôi được trả bằng cái giá là  thế đấy. Ít ra, chúng không phải hư cấu, tưởng tượng. Chúng thật sự viết bằng nguyên liệu ròng. Nguyên liệu của sự thật.

Một lần nữa cám ơn người bạn tôi ở SG và  Hà Nội đã bỏ công sưu tầm và mang đứa con biệt tích trở về chủ của nó.

Về trời

Người đã về xanh xao bờ mộ cỏ
Ngày chưa lên chưa đợi một tin mừng
Rừng núi lạ nghe trong hồn cơn hạ
Người đợi chờ trong lá ngập trời sương 

Hôm qua ấy chim trên rừng khẻ gọi
Thầm thì nhau giờ con ngủ bình yên
Người đứng dậy tay buôn dần súng đạn
Mắt nhìn lên, rừng cũng ngủ bình yên

 Hôm qua ấy, con suối ngừng không chảy
Hạt lệ khô trên bờ đá hoang vu
Người đã đứng thân gầy trên đỉnh núi
Trăm quân người đang cất tiếng tung hô 

Kỳ Sơn ơi, Kỳ Sơn Kỳ Sơn
Người chưa về mẹ đã bạc như sương
Ngày sau ai cướp hai giòng lệ
Kỳ Sơn ơi, Kỳ Sơn Kỳ Sơn

Nhãn:

%d bloggers like this: