Thư Quán Bản Thảo / Trần Hoài Thư

Archive for the ‘Văn học nghệ thuật’ Category

 

Dưới đây là những tác phẩm xuất bản của THT.
3 cuốn trên cao hết được xuất bản trước 1975: Những Vì sao vĩnh biệt, một nơi nào để nhớ, Ngọn cỏ ngậm ngùi. Chỉ thiếu một cuốn là Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang.

 

IMG_0275 (1)

Trần Hoài Thư sưu tầm

– Nguyễn văn Ngọc * Lê văn Trung * Nguyễn Đăng Cử * Trần Lê Nguyễn * Trần Văn Sơn  * Lê Thụy Nguyên * Khê Kinh Kha * Hồ Minh Dũng * Huy Tưởng *Nguyễn Đức Lệ Giang * Phạm Cao Hoàng đọc tiếp

 

Trong ” NHÌN TRỞ LẠI MỘT    ĐỌAN ĐƯỜNG”, nhà văn Mai Thảo  viện dẫn  nhà danh họa Rouault để  nói  về ý nghĩ của ông về những tác phẩm của mình mười năm trước, đặc  biệt là tác phẩm đầu đời:

 Rouault trước phút lâm chung, đốt cháy tất cả họa phẩm là công trình sáng tạo vô song của một khả năng thiên tài sáng tạo. Sau những chiến dịch cải tạo tư tưởng, định lại lập trường của người làm văn học nghệ thuật mác xít là những tuyên bố đầy ăn năn khai tử những tác phẩm cũ như những đứa con đẻ hoang, những vấp ngã lạc đường. Nhiều nhà văn Pháp, trước đây từng đã lên tiếng về tác phẩm thiếu thời, thơ văn đầu tay của mình. Để chúng đó. Như những cái đã có, đã thành của một trở thành liên tục. Nhìn lại một đoạn đường : chỉ là những cái hỏng, những cái yếu, những cái non. Ta đó. Nhận là ta đó. Cố mà khá hơn.

(nguồn: Thư quan bản thảo số 68)

Có nghĩa là, với Mai Thảo, tác phẩm đầu đời  “chỉ là những cái hỏng, những cái yếu, những cái non.”…

Có thật vậy không ?

 

oOo

Mới đây, Ông bạn già của tôi – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (tức nhà thơ Đỗ Nghê) có nhận xét về  những bài thơ dăng trên nguyệt san Tình Thương – nguyệt san của Sinh viên Y Khoa SG (1964-1967):

Tuổi 18-20 thuở đó, thơ mình còn cái giọng… ngây thơ hết sức! Mình vốn thủ cựu, nhà quê thứ thiệt, thơ tình chẳng có gì đáng nói. Nhưng nay bạn đã hỏi thì cũng chìa ra cho vui!

Nhưng phải nói thiệt, khi mình in tập thơ Tình Người (1967), mình cũng đã có một bài khá dễ thương, có thể coi như là một “tuyên ngôn” nho nhỏ cho riêng mình:DN-img-nu-cuoi-hai-muoi-101-678x1024

 

Bạn thấy đó. Ngây thơ và thiệt thà hết sức! Và quả thật, không biết sao, mình vẫn mến cái nụ cười hai mươi đó, vẫn cảm động khi đọc lại hôm nay. nụ cười đó không  tàn theo năm tháng/ mãi mãi là nụ cười hai mươi/ của những người gái người trai/ suốt đời thương số kiếp/ nhưng chỉ của những người/ mang một niềm tin biển khơi/ TÌNH NGƯỜI ngày mai.

(Đỗ Hòng Ngọc: Thơ tình… Đỗ Nghê (*) trên Nguyệt san Tình Thương (63-67)) , http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/thu-goi-ban-xa-xoi-5-2017/

Với Rouault: đốt. Với Mai Thảo: chỉ là những cái hỏng, những cái yếu.  Với Đỗ Hồng Ngọc: không biết sao, mình vẫn mến cái nụ cười hai mươi đó, vẫn cảm động khi đọc lại hôm nay. Mỗi người một quan niệm.  


Ngây thơ, dễ thương hết sức, chưa đủ ông bạn bác sỹ nhà thơ của ta ơi. Còn có tự hào, có độc giả, có bằng hũu, có tình thân… Ông Mai Thảo chỉ là thợ, bởi vì ông sống bằng nghề viết văn.Mà viết văn đòi hỏi kỹ thuật hành văn, kỹ thuật xấy dựng nhân vật…  Còn người thơ thì khác. Thơ họ dựa vào nhịp đập của trái tim. Những bài thơ 18, 20 ấy, chắc chắn là ngây ngô, dại khờ, nhưng khó tìm được những bài thơ ấy trong cuộc đời mình. Bởi vì tim chỉ đập một lần chứ không thể hai lần cho một bài thơ. 

Hôm qua, chị Ba, T., XL., H. N. và cả con chó lông xù vàng mướp bé nhỏ, đên thăm Y.
H. thì từ Florida. XL và N. từ Virginia, chị B và T. từ CA. Chị Ba năm nay đã 91 tuổi, vẫn còn mạnh để lên bậc tam cấp của nhà nursing home, dù phải dùng walker.
Đây là nhóm cùng đi một chuyến ghe cách đây 35 năm.
Vui ở là vui.
Từ lâu Y. mới được dịp khóc, dịp cười, dịp trở lại “khôi hài tính” trước mọi người. Ai cũng khen dạo này Y. mặt mày da căng, tóc đen mượt. Chị Ba thì luôn luôn cám ơn ta về công việc chăm nuôi Y.
Và ta được dịp khoe khoang thành tích: nào là cách làm bánh giò cho người bị bệnh trầm kha, liệt tay liệt chân. Nếu mua bánh giò ngoài tiệm, bột mềm, mỗi lần gấp rất khó. Phải trộn bột bánh giò với bột củ sen, vừa cứng, vừa trong, dễ dùng nĩa cắm, khỏi rớt… Đám cháu chấc lưỡi phục. Cả cách nấu phở cho người bệnh. Cả cách quyến rũ người bệnh ăn. Không phải khen món phở này được nấu từ nhà hàng danh tiếng, cook chef số một. Không phải bảo cá này rất ngon mắc tiền, không xương… Mà phải tìm cách đút một muỗng vào miệng, để người bệnh cảm thấy “OK” hay không…

Căn phòng nhỏ nơi Y có mặt hơn hai năm rưỡi nay bỗng nhiên rộn ràng hơn bao giờ. Y nằm giữa ba đứa cháu gái và chị Ba vây quanh. Mùa thu về bên ngoài, qua cửa kính, chưa thấy lá rụng nhưng thấy chút nắng dịu, mây hơi xám ủ, buồn.
Kể cho chị Ba và mấy đứa cháu về một tuần dì Y. phải chở vào Emergency và năm trong phòng đặc biệt ICU, thoi thóp cùng những máy móc hồi sinh trên đầu dưới chân, và sự canh chừng 24/24 của y tá trực.
Bản chát “hài” vẫn trở dậy, dù cả thân thể như bị đóng đinh, khi chị Ba khen ta. Y. thay vì đưa ngón tay lên trời thì hạ xuống đất. Grade F. Not A plus.

Mấy ngày nay Y. ăn được nhiều. Không phải ăn mà uống. Súp hay Cereal  bán ngoài tiệm Á Đông là hai món mà Y. thích nhất. Cứ đổ nước khuấy bột hay súp, bỏ vào microwave hai phút, sau đỏ đổ vào nửa bình sửa Ensure, khuấy đều.
Y. bây giờ như con trẻ. Không ngạc nhiên khi trí nhớ thông minh càng suy thoái  hay chưa phát triển thì để đổi lại là ngủ trám vào. Đó là luật bù trừ.  Nhìn những đứa con nít hai ba tuổi mới thấy rõ điều này.
Trong nursing home này, thử đi rão khắp các phòng mới thấy được cảnh những cụ ông cụ bà ngủ mê mệt trên giường. Cần gì cầu xin an lạc.

Hôm nay dứt điểm phần dò lỗi chánh tả của Nuôi Sẹo. Cái hạnh phúc lớn nhất là được dò lỗi chính tả hay đánh máy những bản thảo giá trị. Dù là tên tuổi lơn, nhưng hai ngón tay gõ không chịu, thì tên tuổi lớn cũng phải vất vào sọt rác.

Làm sao mà không vui cho được khi được đọc một đoạn văn về “chửi”  mà có lẽ trong văn học sữ VN chưa có một tác giả nào lại mô tả một cách tài tình, nhất là giúp người đọc tìm dược cái triết lý ẩn dụ rất tinh tế qua đoạn văn này. Nó thích hạp cho những ai bị bôi nhọ chửi rủa :

“…Ngay lúc ấy thì gã lại thấy là mẹ Khán chỉ có gọi tên Nuôi Sẹo ra mà chửi. Mà chửi Nuôi Sẹo thì có phải là tên cúng cơm của gã đâu? Gã lẩm bẩm: “Me me me cấp có chửi đến tên tên tên tên cú cú cú cúng cơm cu của của ông đâu ô ô ông khô khô không cần.” Nhưng tiếng hai mẹ con Khán Xòe cứ lấp cả tiếng của gã. Gã tức mình quá liền đến gần mẹ Khán Xòe, giơ mặt, giơ chân, giơ tay hét lớn: “Chư chư chửi Nu Nu Nu ôi Se Se seo sẹo me cha nu nu Nuôi eo mẹ Bố bố bố Nuôi Se Seo me me me tiên sư sư thằ thằ thằng Nuôi Sẹo.”

Mừng lắm, bạn ạ. Năm 1965, báo Văn đăng lời kêu gọi lập một ủy ban tìm tòi tài liệu, bài vở, bản cảo của Triều Sơn. Mãi đến hơn nửa thế kỷ sau, ta đã làm được việc này.  Vui lắm các bạn à. Vui và cả  hăm hở. Bạn thử tưởng tượng cả tháng qua, tôi đã  đánh máy hơn 100 trang những bài vở mà tôi tìm ra, nhờ Interloan library và nhờ những người bạn Mỹ không hề quen biết tại thư viện Cornell, khi biết tôi đang làm một “big project”.

Dưới đây là một đoạn văn viết về “chửi”. Cần nhấn mạnh là Nuôi Sẹo được viết trong khoang 1945-1953, được sửa ba lần, ở ba nơi khác nhau. Trước hết là ở VN, sau đó là châu Phi và cuối cùng là ở Pháp. Nuôi Sẹo được đăng từng kỳ trên nguyệt san Tình Thương – tiếng nói của sinh viên Y khoa SG (1964-1967):

…Nuôi Sẹo đến trước cổng nhà con mẹ Khán Xòe ở giữa xóm giếng kêu ơi ới gọi mẹ Khán Xòe ra, mẹ Khán vừa ở bên hàng xóm về liền chửi gã liền: “Cha tiên nhân con đẻ ra mẹ mày, bà nó nợ nần gì mày mà mày réo bà ở ngõ.” Nuôi Sẹo cứ theo như lời Tư Bường dặn hỏi xin mẹ con gà. Mẹ trợn tròn xoe mắt lên chửi nữa: “Cha tiên nhân con đẻ ra mẹ cái quân khốn nạn này đừng có láo.” Mẹ nhìn khắp ngõ rồi lại chửi thêm cho gã ít câu nữa. Một lát mẹ dìu dịu định bước vào thì gã lắp bắp: Gia, giã, gà, gà, gà, gà, da, da, đây. De, de, de, mẹ, mẹ, gi, gi, giã, gà ông đây.” Mẹ Khán Xòe tức tím mặt liền nhảy chồm chổm, hai tay lúc xốc váy, lúc xỉa xói, vỗ đồm độp. Những câu chửi tóe ra như suối:

Cha năm đời mười đời thằng Nuôi Sẹo.
Cha tiên nhân thằng Nuôi Sẹo.
Cha nóc họ thằng Nuôi Sẹo.
Cha tam đại tứ đại thằng Nuôi Sẹo.
 Cha thằng đàn ông con đàn bà ăn cứt, ăn đái đẻ ra thằng Nuôi Sẹo.
Cha tiên nhân đứa họ xa họ gần dây mơ rễ má với nhà mày.
Nhà mày có thằng đàn ông chết thằng đàn ông,
có con đàn bà chết con đàn bà,
có mẹ già chết mẹ già,
có con trẻ chết con trẻ.
Thần nanh đỏ nó mổ vào cái bố mày.
Mày là thằng mõ mà mày dám trêu vào bà,
bà băm viên nho nhỏ bà bỏ vào chuồng hôi…

Người trong xóm giếng nghe tiếng mẹ Khán Xòe chửi liền đổ xô cả ra ngoài nghe. Họ chen chúc nhau đứng thành mấy hàng. Những trẻ con tranh chỗ nhau, giẫy nhau, chí chóe. Mẹ Khán Xòe được thể lại càng chửi mãi. Đứa con gái mẹ năm nay độ mười sáu mười bảy mặt mỏng người gầy xác như mẹ cũng chạy ra xốc váy vỗ tay chửi. Thằng con trai nhỏ thì đứng nhìn Nuôi Sẹo nói lắp bắp. Nhưng gã thấy hai mẹ con nhà Khán chửi nhanh và lớn tiếng quá gã chửi không nổi đâm ra tức tối, gã dậm chân, nắm tay. Nhưng mẹ Khán và con gái lại càng chửi như tát nước vào mặt gã cứ nhảy bổ lại gần mặt gã mà chửi. Tức quá không làm thế nào được, gã đứng trơ một lát, gã nhìn và nghe hai mẹ con mẹ Khán chửi như họ chửi ai, rồi nghe mẹ Khán lên bổng xuống trầm gã lại thích thú. Gã nghĩ: chửi thế này mới gọi là chửi chứ lị, chửi đến thế này thì có thua gì bọn kép Thanh hát tuồng Tàu đâu? Gã ngạc nhiên sao lại thấy chỉ có một bên chửi thôi còn bên kia đâu. Nhưng nghe những câu chửi của hai mẹ con mẹ Khán chợt nhận thấy là hai người chửi Nuôi Sẹo. Gã tức quá cũng chửi lên hai ba câu nhưng chính gã cũng không nghe thấy câu chửi của gã thì còn hòng gì những người đứng xem nghe thấy nữa. Ngay lúc ấy thì gã lại thấy là mẹ Khán chỉ có gọi tên Nuôi Sẹo ra mà chửi. Mà chửi Nuôi Sẹo thì có phải là tên cúng cơm của gã đâu? Gã lẩm bẩm: “Me me me cấp có chửi đến tên tên tên tên cú cú cú cúng cơm cu của của ông đâu ô ô ông khô khô không cần.” Nhưng tiếng hai mẹ con Khán Xòe cứ lấp cả tiếng của gã. Gã tức mình quá liền đến gần mẹ Khán Xòe, giơ mặt, giơ chân, giơ tay hét lớn: “Chư chư chửi Nu Nu Nu ôi Se Se seo sẹo me cha nu nu Nuôi eo mẹ Bố bố bố Nuôi Se Seo me me me tiên sư sư thằ thằ thằng Nuôi Sẹo.”  Tiếng của gã đã bắt đầu chen lẫn tiếng của mẹ con mẹ Khán, gã hăng máu lên giận quá, mẹ cha cái thằng Nuôi Sẹo bị chửi mà không trả lời, hèn quá, hèn quá, gã thắng thế càng hò hét dậm chân múa tay trợn mắt, Mẹ mẹ cha cả lò thằ thằng Nu Nuôi Seeo thằ thằng Nu Nuôi Seeeo mâu mâu Mẫu hậ hậ hậu ơi… Gã giơ tay hất hất như giục hai mẹ con mẹ Khán Xòe chửi hăng nữa lên, thì gã ngạc nhiên thấy mẹ Khán hạ thấp giọng, trán mẹ còn nhám mồ hôi, nhưng mẹ không lồng lộn như lúc nãy nữa, chỉ chửi như có lệ, tuy mẹ vẫn đưa cái mặt mỏng lưỡi cầy của mẹ ra để nhìn Nuôi Sẹo bằng nửa con mắt. Đứa con thấy mẹ hạ thấp giọng cũng hạ thấp giọng theo và đứng nấp đằng sau mẹ. Những đám người đứng xem, người nào cũng chú ý, nhất là trẻ con thì vừa ê ê reo mừng vừa hát tay cổ võ. Nuôi Sẹo lại càng sấn tới mãi trước mẹ Khán Xòe mà chửi “ừ ừ ừ… mẹ cha thà thà thằng Nu Nuôi Seeeo, me, me, me bố cha thằng Nuôi Seeo, ừ ừ ừ mẹ cha tiên s s sư thằng Nuôi Seeeo… ư ư ư.”

Mẹ Khán thấy Nuôi Sẹo sấn lại dữ quá, lùi lại vài bước, nhưng Nuôi Sẹo được thể lại càng sấn lại chửi hăng thêm, càng giơ nắm tay dậm dạo trước mặt mẹ Khán Xòe. Mẹ Khán lùi lùi lùi mãi tới cổng rồi thụt vào trong cổng…

(Trich từ Nuôi Sẹo, Thư Quán Bản thảo sồ 77 chủ đề nhà văn Triều Sơn sẽ phát hành vào trung tuần tháng 11-2017)

Trần Hoài Thư

Và người ta đi tìm giấy. Già trẻ lớn bé đi tìm giấy lượm. Người ta vui vì lượm được giấy nhiều, ít ra cũng có chút ít tiền mua gạo, mua nước mắm cho gia đình. Có khi giữa những đống giấy kia, có kẻ đã vất nguyên cả bộ Lê Nin toàn tập,  bìa xé ra để phi tang. Chứa chúng trong nhà làm gì, để mà hận, mà tức. Giấy của chúng  bán giá cao vì thuộc lọai giấy trắng so với giấy thường vàng ố. Và cũng có khi, giấy lại được nâng niu như một báu vật, khi người thơ tìm lại được bài thơ cũ trong một nhà vệ sinh công cộng

 

Chúng ta được đọc nhiều bài viết về chiến dịch truy diệt  văn hóa miền Nam của CS sau tháng 4-75 mà Cộng Sản kết tội là “văn hóa nô dịch,đồi trụy phản động”. Một tấm hình tiêu biểu  để minh chứng cho chiến dịch này là cảnh một đoàn học sinh sinh viên  nam nữ thuộc Thành đoàn thanh niên Cọng sản T.P HCM với biểu ngữ : “chiến dịch bài trừ văn hóa đồi trụy phản động”, “Thế hệ trẻ VN nguyện Sống Chiến đấu Lao động Học tập theo gương Bác Hồ Vĩ Đại”.
dot sach -1

Trên báo Saigon Giải phóng  phát hành ngày 25-5-1975 có đăng buổi ra quân mở màn cho chiến dịch này, như sau:

“Ngày 23-5-1975, trên nhiều đường phố Sài Gòn, “khí thế ra quân” của chiến dịch vô cùng sôi nổi: “Đoàn thanh niên nam nữ đi qua các đường phố và hô tonhiều khẩu hiệu đả đảo văn hoá ngoại lai đồi truỵ mất gốc phản động. Đi đầu là xe phóng thanh với một biểu ngữ dài có ghi: ‘Đội thanh niên sinh viên học sinh xung kích bài trừ văn hoá dâm ô phản động’. Theo sau là sinh viên, học sinh sắp hàng bảy, hàng tám xuất phát từ trụ sở của lực lượng thanh niên tự vệ Thành phố, số 4 Duy Tân. Đoàn diễn hành kéo dài có đến hàng cây số đường, tất cả mọi người đều có một tấm biểu ngữ trên tay…”.

…Ngay sau cuộc tuần hành trên đường phố của hàng chục ngàn thanh niên vệ binh, “đồng bào và các tiệm sách đã đem nộp cho đội Quận 7 một số lượng sách báo đồi trụy phản động, tất cả là mười ba xe ba gác. Ngoài ra các hàng sách bày bán trên hai lề đường Lê Lợi, Công Lý cũng tự nguyện dọn sạch và đem nộp. Trên đường Hai Bà Trưng cũng có ba nhà sách tự động đem nộp trên hai mươi cuốn. Đặc biệt, cùng ngày này, 22-5-1975, nhà sách Phúc Bài, 186 Nguyễn Thiện Thuật, Sài Gòn 3 đã tự nguyện đem nộp cho Hội Bài trừ Văn hoá đồi truỵ phản động bốn ngàn cuốn sách các loại”.
(nhật báo Saigon Giải phóng ngày 25-5-1975)
Sau đó, đám thanh niên chia nhau từng tốp, xông vào những nhà mà chúng nghi ngờ, lục lạo rồi tịch thu sách vở. Hành động này được  nhà văn Nguyễn Hiến Lê kể như sau:

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyển Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kĩ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lí, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, Sở Thông tin Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên Sở Thông tin Văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. (…)

(….) Lần đó sách ở Sài gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp năm sáu bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2.000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quí, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho Sở Thông tin Văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Đông Hồ quen ông Giám dốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

(Trích Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê – tập III)

 

Chuyện đốt sách cũng được ghi trong “Nhật Ký Saigòn 1975” của Walter Skrobanek (1):

Sáng nay (ngày 23-5-1975, THT ghi chú), người nước ngoài thêm một lần nữa không được phép đi vào trung tâm thành phố. Những người da trắng muốn làm điều đó bằng ô tô hay đi bộ đều bị đuổi trở ra mà không có một lời giải thích. Vào buổi chiều, Siriporn đi vào nội thành và hỏi mua phim Agfa. Ông chủ tiệm, một người tỵ nạn chống cộng sản từ miền Bắc, cay đắng trả lời rằng trữ bán những loại phim này không còn có ý nghĩa gì nữa. Sau giải phóng, không một ai còn có quyền tự do gởi những phim này ra nước ngoài để xử lý nữa. Siriporn cũng hỏi lý do ngăn cấm nội thành, đặc biệt là đường Tự Do, đối với người nước ngoài. Nhún vai. Vào buổi tối, có hai phiên bản được lan truyền đi trong trung tâm, tại sao lại ngăn cấm: đốt sách phản động hay là một cuộc gặp gỡ nhiều căng thẳng giữa đại diện của hai phái Công giáo.

… Hôm nay (ngày 27-5-1975, THT chú thích) , các sinh viên cách mạng đả phá tín ngưỡng cũng đã gõ cửa nhà Ariel, để thu thập văn học phản động và khiêu dâm. Chị của Ariel không cho họ vào nhà, mà chỉ giải thích rằng bà không biết đọc. Theo tường thuật của nhân viên chúng tôi thì các tác phẩm văn học Việt Trung như “Tam Quốc Chí” cũng thuộc vào hàng văn hóa đồi trụy như tạp chí tin tức Mỹ “Time”. Giá như các sinh viên đó biết rằng ví dụ như Kim Vân Kiều đang phục sinh lại ở Bắc Việt Nam và được diễn giải như là một phê bình văn học của phong trào chống phong kiến. Người ta nói rằng vào ngày 31 tháng Năm sẽ có một cuộc đốt sách lớn. (2)
(Chúng tôi không hiểu nghĩa của “phiên bản” là gì, Có lẽ là “tin đồn” chăng?)
Qua các bài vừa trích dẫn, chúng ta thấy việc đốt sách xãy ra vào tuần cuối của tháng 5 năm 1975. Lửa phần thư đã cháy khắp cả Saigon và Gia Định cùng với những nhóm thanh niên thành đòan, mạnh ai nấy vào tất cả nhà nào chúng thich, không cần biết sách lọai gì, cứ chất trên xe, mang về trụ sở  quận, hay phường, hay tụm năm tụm ba, châm lửa… Và lửa do sự sợ hãi lo âu của chính người giữ sách. Sách bây giờ được xem là tai vạ, là quốc cấm. Tại trung tâm giáo dục Alelexandre de Rhodes, sư huynh Andre Gelinas  kể rằng chính ông đã đốt một số lượnglớn  sách trong số 80 ngàn cuốn tại thư viện Đắc Lộ (3) Một luật sư tủ sách có độ 2.000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết (4) Cảnh này người Saigon đã chứng kiến. Nhưng để nuốt lệ, để ngậm căm hờn, phẩn uất.  Phóng viên ở đâu ?. Nhiếp ảnh viên ở đâu ? Nick Ut ở đâu. Họ đã bỏ Continental Hotel mà thoát thân Để nhường lại ghế ngồi cho các phóng viên nhà báo Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Nga Sô, Cu Ba, Trung Cọng… Chỉ có vài phóng viên của tờ Mirror hay Le Monde là quyết định ở lại, nhưng phim không có, máy đánh tin, chuyển hình ra ngọai quốc cũng bị cấm ngặt… Ống kính không có vậy thì làm sao có một tấm hình để nói lên bằng chứng cho một lịch sử tội ác ở miền Nam xãy ra sau thời Nazi ?.
Hành  động của đám thành đòan  như hành động của đám vệ binh đỏ thời Trăm Hoa Đua Nở của Trung Cọng không hơn không kém. Thay vì vê binh dỏ, đám thanh niên thành đòan này được mang cái tên mới : “những chiến sĩ xung kích trong mặt trận văn hóa” !

Ngày 28-5-1975,  Ủy ban Quân quản, bộ trưởng Bộ Văn Hóa  và cả thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng lên tiếng khẳng định  chính quyền không chủ trương đốt sách. Riêng thủ tướng Kiệt thì nhìn nhận sư sai lầm trong việc đánh giá một tác phẩm để kết án : “Cả tôi và chính quyền đã phải mất khá lâu mới nhận ra những sai lầm ấy (theo Bên Thắng Cuộc của Huy Đức)

Trong khi đó, trên các tờ báo lớn như Time, Newsweek, Life, New York Times. Chẳng thấy một tin tức nào về VN, hay hình ảnh về VN, nói gì đến hình ảnh đốt sách.

Nói vậy mà không phải vậy.

 

Dù chánh phủ  luôn luôn khẳng định không chủ trương đốt sách, nhưng chiến dịch truy diệt vẫn tiếp diễn, ác liệt hơn là đàng khác. Lửa không còn cháy từ những đống sách nhưng người dân SG phải sống trong hỏa ngục lớn. Không cần đốt sách, vì “ dân tộc chúng ta là dân tộc văn minh” (“We are civilized people, and we do not burn books…”) (2 bis)  ,   nhưng cả một hệ thống truyền thanh và báo chí tiếp tục lên án văn hóa miền Nam không dứt. Mục đích là răn đe để dân SG khiếp sợ. Giữ một cuốn sách trong nhà là giữ một tai vạ. Một nhãn hiệu sách là một nhãn hiệu của bất trắc. Chữ nghĩa đó, tất cả đều mang mấm mống đồi trụy, phản động hay thiếu lập trường. Trên nhật báo Saigon Giải phóng  từ ngày 20-8-1975 đến ngày 25-8-1975, đăng 5 ký bài viết của Văn Khuyến : “Tố cáo tội ác diệt chủng về mặt văn hóa của Mỹ ngụy đối với nhân dân Sài Gòn – Gia Định”  tố khổ tận tình tất cả những nhà văn miền Nam, không cần biết, tác phẩm có mang tính chất đồi trụy hay phản động hay không. Dù viết cho tuổi thơ, hay thiếu nhi hay tuổi hoa tuổi ngọc  hay là những nhà văn quan niệm “bàn tay sạch” đi  nữa  cũng bị lôi ra mà kết tội. Lý do duy nhất là họ không có lập trường đứng về phía nhân dân:
… “Đối với một số trong tầng lớp trí thức thiếu quan điểm lập trường vững chắc, còn mơ hồ, quan niệm triết lý “Bàn tay sạch”, … Họ đã đẽ ra những tác phẩm văn học nghệ thuật mềm mại yếu đuối khóc gió than mây “hư hư ảo ảo” …đẻ ra từ những “tháp ngà” không mang một chút hơi thở nào của cuộc sống. Đó là thái độ bàng quan, lạnh lùng trước mọi biến  động chung quanh. Tuy nhiên dù biểu hiện nào, dù mức độ tác hại có khác nhau, thì mọi nếp sống cầu an đều nằm gọn trong quỹ đạo tha hóa của chính sách xâm lược Mỹ…”
(SGGP ngày 22-8-1975)

 

Tháng 10-75, trên nhật báo SGGP có đăng nhiều kỳ Bảng Kê Tên Cac Lọai sach phản động, dâm ô đầu độc của 56 tác giả bị cấm lưu hành:

56 tác giả ấy là: Kim Nhật, Xuân Vũ, Phan Nhật Nam, Nguyễn Mạnh Côn,  Hùng Nguyễn Nguyễn Ngọc Huy, Vũ Tiến Phúc, Vũ Tài Lục, Ngiêm Xuân Hồng,  Hoang Ngọc Liên, Hà Huyền Chi, Phan Nghị, Nguyên Vũ, Lê Xuyên, Võ Phiến, Nhã Ca, Văn Quang, Chu Tử, Mặc Đổ, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Trần Đức Lai, Dương Nghiễm Mậu ,  Hồ Hữu Tường, Lữ Quỳnh,  Trần Châu Hồ, Nguyễn Vỹ, Túy Hồng, Dương Hùng Cường, Nguyễn Đình Toàn, Dương Kiền, Hoàng Hải Thủy, Tạ Tỵ, Nguyễn Đình Thiều, Nguyễn thị Hoàng, Minh Đức Hoài Trinh, Lệ Hằng, Người Khăn Trắng, Người thứ Tám, Nghiêm Lê Quân, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Thế Viên, Song Hồ, Minh Viên, Nhất Tuấn, Hoàng Hương Trang, Lệ Khánh, Cao Tiêu, Lam Giang Vũ Tiến Đức, Phạm Minh Hồng, Hồng Liên Lê Xuân Giáo
Ngoài ra một danh sach dài kê các lọai sach tiểu thuyết dịch phẩm, kịch bản phản động dâm ô đầu độc bị cấm lưu hành. Có rất nhiều tác giả khôg thấy trong 56 tác giả bị cấm ghi trên..

Sau năm tháng, nhà nước mới công bố bảng danh sách đợt I !
Người dân Saigon mới biết sách nào bị cấm, sách nào không bị cấm,. Nhưng đã quá trê. Chỉ một tuần cũng đủ bắt Saigon mang cái áo tang liệm bằng giấy khổng lồ, sách vở đâu còn ở kệ ngăn để mà cấm hay không cấm. Nhưng nhờ bảng thông tư này, sách các tác giả bị cấm này mới được người dân, nhất là dân bắc tìm tòi và mua với giá rất mắc.

dot sach -2.jpg

SGGP 26-10-1975. Chụp lại từ microfilm.

 

đốt sách hay nghiền sách ?

 

 Vậy thì  những núi sách bị tịch thu hay được giao nạp ,  chất đống trong các  trụ sở của cơ quan thông tin văn hóa hay Hội bài trừ văn hóa Mỹ ngụy, phải chịu số phận  ra sao nếu chúng không bị lên giàn hỏa ?
Có hai cách để hũy thay vì đốt. Cả hai cách đều có lợi vì đều có lợi nhuận:
Thứ nhất là bán ký cho các nhà máy sản xuất giấy
Thư hai là bán lại cho những người bán sách vĩa hẻ.

Trong một truyện ngắn nhan đề: “Trận đánh cuối cùng của một kẻ sĩ”,  nhà văn Nhật Tiến  đã kể về hai cách này.
Ông không đề cập gì đến vụ đốt sách như nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã đề cập.

“Ba Sinh nhấc lên tay một tác phẩm quen thuộc. Chàng chợt sững sờ khi nhìn thấy những dấu vết cũ. Chàng đổi nhanh qua những cuốn khác. Không còn nghi ngờ gì nữa, cả một tủ sách của chàng, tưởng đã tiêu tan ra thành bột giấy, nào ngờ vẫn còn nguyên vẹn ở đây. Ba Sinh mừng rỡ tưởng đến ngất xỉu đi, cái cảm giác choáng ngợp y hệt như một người vừa tìm lại được người thân sau bao tháng ngày được tin kẻ đó đã mất.”

(Nhật Tiến: Trận đánh cuối cùng của một kẻ sĩ, nguồn Internet)

Trong truyện ngắn trên, nhà văn Nhật Tiến tả nỗi đau đớn của nhân vật chính khi nghĩ đến cảnh chúng phải tan nghiền thành bột giấy.
Vâng, chính nghiền đã thay vào chữ đốt.
Không phải riêng một mình nhà văn Nhật Tiến viết, mà  trên báo Sài Gòn Giải phóng ngày 15-7-75 chạy cái tin to tướng ỏ trang đầu là nhà máy làm giấy Kissme đã sản xuầt 50 tấn giấy vệ sinh và thấm nước trong tháng 6-75.Nguyên liệu làm giấy gồm 60% giấy vụn lượm lặt trong thành phố và 40% là gòn lồ ô…

dot sach -3.jpg

Báo SGGP 1-7-75, tư liệu của Thư Quán Bản Thảo
50 tấn giấy được sản xuất mà 60% nguyên liệu là giấy lượm, thì cả Saigon, Gia định, Biên Hòa với nhiều xưởng làm giấy, thì có biết bao nhiêu tấn giấy lượm ?

Cả một Saigon  tràn ngập giấy. Nếu người ta dùng giấy mã vàng bạc để rãi trong những đám ma hay cúng cô hồn, thì Saigon cũng được rãi  tràn ngập những tờ giấy-mã-chữ-nghĩa-miền-Nam, như để phủ trên một quan tài văn hóa miền Nam..

Và người ta đi tìm giấy. Già trẻ lớn bé đi tìm giấy lượm. Người ta vui vì lượm được giấy nhiều, ít ra cũng có chút ít tiền mua gạo, mua nước mắm cho gia đình. Có khi giữa những đống giấy kia, có kẻ đã vất nguyên cả bộ Lê Nin toàn tập,  bìa xé ra để phi tang. Chứa chúng trong nhà làm gì, để mà hận, mà tức. Giấy của chúng  bán giá cao vì thuộc lọai giấy trắng so với giấy thường vàng ố. Và cũng có khi, giấy lại được nâng niu như một báu vật, khi người thơ tìm lại được bài thơ cũ trong một nhà vệ sinh công cộng:

Sau năm 1975, mình vào Sàigòn đi kiếm tiền  ở khu nhà ga xe lửa cũ trên đường Lê Lai, mình vào nhà vệ sinh công cộng ở bên hông nhà ga và thật mũi lòng thấy một nửa trang báo Khởi Hành rách bẩn có thơ của mình… (5)

 

viemtinh wc

 

Những thách đố đầu tiên

 

Người Saigon bắt đầu thách thức. Thay vì mang sách báo đi giao nạp, người Saigon mang chúng cúng cùng trời cùng đất, cùng cõi không cùng. Giữ ở nhà sợ bị kết tội tích trử sách báo phản động đồi trụy dâm ô tiếp tay với đế quốc thực dân mới, thôi thì mang bỏ chúng  ra ngoài bờ ngoài bụi, dưới gốc cây để thiên hạ lượm bán lấy tiền làm phước. Mặt khác mấy tay làm văn hóa thông tin ở phường hay quận, cũng âm thầm bán ra ngoài thị trường bán buôn sách cũ.. Không còn cảnh chở sách trên xe ba gác đến giao tại đại học Vạn Hạnh như trong câu truyện của nhà văn Nhật Tiến nữa.…

Những ngày đầu của tháng 6-1975, người dân Saigon bắt đầu thấy xuất hiện trên những vĩa hè phố Saigon những “vĩa sách lộ thiên” bán sách báo miền Nam. Người bán, người mua không còn sợ sệt hay lo lắng như những ngày trước nữa. Sách  bán rất rẽ. Và độc giả phần lớn là đám người từ miền Bắc vào hay học sinh. Theo báo SGGP phát hành trong thời gian này, phần lớn sách được lén tẩu tán từ các tiệm sách, trước đây giá từ 500 đồng đến 1000 đồng cho một cuốn, nay 100 đồng hai cuốn. Cũng vì giá quá rẽ, nên báo đảng ta lại thêm một lần báo động:

Hành động này gây nhiều tác hại nhứt là cho các em nhỏ học sinh, con em của nhân dân.
Trước đây, lọai sách nói trên bán với giá đắt từ 500 đồng đến 1000 đồng một quyển, nay thay vì tiêu hũy, bọn con buôn nói trên đang cho bán đổ bán tháo 100 đồng 2 quyển, vô hình trung phổ cập lọai sách nguy hiểm này gấp mấy lần vì trước đây các em nhỏ học sinh không có tiền mua sách này vì giá dắt nay các em tương đối để có 100 đồng để mua…
Càng lúc nhu cầu tìm sách miền Nam càng mạnh, “ vĩa sách lộ thiên” càng mọc lên nhiều. Giá sách càng tăng cao. Những đường lớn như Tự Do, Lê Lợi, thấy nhiều vĩa hè bị chóan ngợp bởi rừng sách cũ.
Tấm hình dưới đây được đăng trên báo SGGP, chúng tỏ về sự thách đố này, (Xin tha lỗi vì hình và chữ chú thích quá mờ. Đây là sản phẩm của đỉnh cao tri tuệ làm báo của CS, chứ không phải vì microfilm)

Dù vậy, chúng tôi cũng cố để viết lại những giòng phụ chú bên cạnh tấm hình:

Bán sách báo đồi trụy trong lúc này là sai quấy rồi, lại còn bày hết vĩa hè tới mặt đường (đại lộ Lê Lợi khúc Mini-Rex) là chuyện nên để hay bỏ gấp ? (SGGP ngày 19-8-1975)

dot sach -4.jpg

Báo SGGP quên không nhắc đến những sạp báo ở gần khách sạn Continental vẫn còn hiện diện và vẫn còn bày bán các tạp chí mà nhà nước ta kết án là nọc độc văn hóa, đồi trụy, dâm ô.

Dưới đây là bản dịch từ một bản tin của hãng thông tán AP vào ngày 21 tháng 5-75:

Sài Gòn không thay đổi mấy.

Theo GHEO ESPER

SàiGòn AP –  Những điều mắt thấy tai nghe thật lạ lùng ở Sàigòn ngày hôm nay cho những ai đă biết Thủ Đô Của Miền Nam Việt Nam trước khi bị Cộng Sản xâm chiếm.

Những Chiến Đấu Cơ MIG của Nga đă từng không chiến với Chiến đấu cơ của Mỹ trên vòm trời Bắc Việt giờ đây bay theo đội ngũ để ăn mừng chiến thắng.Một chiếc máy bay Trực Thăng mầu xám xanh của Air America, hãng hàng không được tài trợ bởi cơ quan tình báo Mỹ CIA vẫn bay lượn trên không trung. Những chiếc máy bay đã bi bỏ lại bởi những người Mỹ di tản một cách vội vàng, giờ đây được sơn ngôi sao vàng và trở thành những máy bay của đội ngũ Không Quân Bắc Việt.

Tại Tân Sơn Nhất, căn cứ Không Quân được coi như Ngũ Giác Đài Miền Đông Á, Bộ Tổng Tham Mưu của US MACV ( Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ cho Việt Nam MACV), và sau đó trở thành Cơ Quan Phụ Thuôc Quốc Phòng nay thành những đống tàn rụi. Người Mỹ đà phá hủy cơ quan này bằng Lựu Đạn, chất nổ TNT và dầu xăng khi họ vội vàng di tản để các tài liệu và máy móc không lọt vào tay Cộng Sản.

Hình Hồ Chí Minh đã được treo tại dinh Độc Lập, thay thế hình Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu người đã bỏ trốn tháng trước.

Maxim Night Club, Vũ Trường lớn nhất của Thành phố Sàigòn giờ đây là trụ sở cơ quan hành chính.

Nhưng có một vài điều vẫn không thay đổi.

Người Ấn (Chà Và) đổi tiền vẫn làm ăn thương mại trá hình dưới hình thức là tiệm sách.
Tiệm Tắm Hơi Fuji vẫn hoạt động 100% như thường. 
Khách Sạn Continental với hành lang nơi gái mãi dâm và ma cô mời mọc khách ngoại quốc trở lại hoạt động bình thường như xưa dù tệ đoan này đã bị chính phủ trước dẹp sạch.

Việt Cộng Và người Bắc Việt như muốn lờ đi tệ đoan về đêm này.

Báo Playboy, OUI và những Tạp Chí với hình ảnh những cô gái khiêu gợi khác vẫn được bày bán trên những sạp báo.

Thỉnh thoảng đôi khi người ta có thể bắt gặp những anh Bộ Đội Bắc Việt hay Việt Cộng lén coi những tạp chí khiêu dâm dấu trong những tờ báo của Đảng Nhà Nước.

(Trích từ microfilm nhật báo Courrier News ngày 21 tháng 5 – 1975)

 

Như vậy, đồi trụy sa đoạ dâm ô trụy lạc dưới con mắt của phe chiến thắng  chỉ nhắm vào văn hóa, chứ không phải nhắm vào những tệ đoan xã hội như  gái mãi dâm, nhà tắm hơi trá hình hay ma cô ma cạo như thời VNCH.

 

Đó là lý do tại sao, trên báo Saigon Giải Phóng của năm 1975 (tháng 5-75 đến 12-1975), chúng tôi  không thấy một tin nào về chuyện diệt trừ, bài trừ tệ đoan  xã hội như làm sạch hộp đêm, nhà nhảy, nhà tắm hơi, gái mãi dâm, mà chỉ là “vạch mặt” bọn phản động, ác ôn, côn đồ, nhân dân  tố cáo bọn ác ôn ngụy tay sai lẩn tránh không chịu trình diện, quân đội ta anh hùng, hay  “còn cái lai quần cũng đánh” ! :

IMG_0221 (1)

hay thỉnh thoảng đi một vài bài  viết cổ xúy cho chiến dịch bài trừ văn hóa phản động, đồi trụy như  bài thơ dưới đây:

Sách báo nọ, đừng mong ngóc dậy
Vì nhân dân, sẵn gậy cầm tay
Trừ căn, tuyệt nọc bọn nầy
Đánh cho tận gốc, đánh quay mòng mòng
(Cung Văn 24-10-76, Bài trừ tận gốc )

 ___

(1) Walter Skrobanek là giám đốc một tổ chức cứu trợ trẻ em ở Sài Gòn. Nhật ký này bắt đầu từ ngày 28 tháng Tư năm 1975, dừng lại ngày 9 tháng Mười Hai năm 1975. Cuối năm 1975, Skrobanek rời khỏi Việt Nam. Cuốn nhật ký được ông giữ cẩn thận, nhưng gần như bị bỏ quên, cho đến năm 2006, khi đã về hưu, ông mới có dịp lật lại. Cơn bạo bệnh và cái chết bất ngờ vào cuối hè 2006 đã khiến Skrobanek không thể hoàn thành việc biên soạn lại cuốn nhật ký của mình. Ông đã không thực hiện được dự định đối chiếu những quan điểm của ông sau này với những quan sát và cảm nhận của ông năm 1975 ở Sài Gòn. Trong sự dở dang của nó, nhật ký Skrobanek được ủy thác lại cho những người có trách nhiệm xuất bản, trong đó có Viện Goethe Việt Nam, như một tài liệu lịch sử, ghi chép lại một giai đoạn có tính bản lề của lịch sử Việt Nam.
(nguồn: Talawas)

(2) nguồn: Phan Ba ‘s Blog, Nhật ký sau giải phóng)

(2bis)
Trích từ  bài viết  của tác giả Claudia Krich trong tập san WIN volume 13 năm 1977, xuất bản tại New York.  Bà Krich có mặt ở Quảng Ngãi từ năm 1973 đến năm 1975 để điều hành một trung tâm xã hội. Sau 30-4-75, bà là một trong số ít người được phép ở lại VN (hai tháng).  Về Mỹ bà viết và phổ biến hồi ký “Last days in Vietnam”:

In the early weeks of the new government, some overzealus students started a compaign to “clean up” bad literature. They did a public burning. The government immediately responded by asking the students to stop, stating:”We are civilized people, and we do not burn books…”

(3) Andre Gelinas: “Life in the New VietNam” The New York Review of Books số phát hành  ngày 17-3-1977 :
Frère Gelimas đến VN vào tháng 12 năm 1948, và ông ở đấy 28 năm, kể cả 15 tháng sau khi quân đội Bắc Việt chiếm Saigon.
Sau đây là đọan liên quan đến vịệc đốt sách do chính tay ông tự châm lửa:

… What struck me during the fifteen months I lived in Saigon after the takeover was the continual hardening of the regime. When the Bo Doi [the Liberation Army soldiers] entered Saigon on April 30, 1975 the first reaction among the people was one of fear. And then slowly they began to go out again. There were few acts of violence and, it seemed, few executions. The great “campaign” for “purification of morals and culture” took the form of vast autos-da-fé. All the adornments of “bourgeois” culture were to be destroyed. In our Center we had some 80,000 volumes, a large number of which we had to burn. Lists were compiled of all those who had collaborated with the old regime and of all “intellectuals,” i.e., those who had passed their first bachot or had gone beyond it.
(4) Nguyễn Hiến Lê: Hồi ký III

(5) nguồn: Thư quán bản thảo số 63 – trích thư của nhà thơ Viêm Tịnh gởi tòa sọan

 

 

 

IMG_0021 (1)

Nhân lần đi Cali cách dây rất lâu, tôi được họa sĩ Nguyễn Đình Thuần tặng bản copy của thi phẩm Chở Gió của Nguyễn văn Phương. Không bìa, không gáy, với 60 trang giấy rời. Nguyễn văn Phương là ai, tôi không biết. Nhưng tôi biết một điều, ông là thi sĩ, một thi sĩ đúng nghĩa.
Ông đạp xích lô, và làm thơ, và uống rượu. Xich lô, thơ và rượu đã chở gió đi, để hôm nay, tôi đang mở cửa lòng mình, cho gió lên với những bài lục bát mà tôi đánh máy lại, và trich ra đây.
Tôi đã làm lại hoàn toàn một tác phẩm mới. Bìa hard cover, và đặc biệt là tranh bìa thay vì in trên giấy, tôi dùng canvas. Mặt khác, tôi đã thêm vào mấy giòng  đính chánh dưới bài Qua đò tháng chạp. Đây là một bài thơ của Phạm Cao Hoàng mà nhà xb nhầm lẩn khi sưu tập. Chắc hương hồn của NVP sẽ rất vui vì có người đính chánh dùm ngay trong tác phẩm mình. 

Tôi chỉ thực hiện một cuốn duy nhất.  

Dưới đây là một số bài lục bát của Phương Xich Lô  mà tôi đã đánh máy. Còn khoảng 5, 6 bài nữa, sẽ bổ túc sau._

LỤC BÁT ĐÊM KHUYA

Tôi về lặng lẽ d0êm khuya
Sông chia mấy nhánh. phố chia mấy đường
Chim kia giờ ngủ trong vườn
Tôi còn mấy bước đoạn trường sắp ngưng
Về nhà lòng hóa vầng trăng
Soi trang giấy: Mặt sông nằm trong veo.

 

AI HAY ?

Còn tôi với một nỗi buồn
Lặng nhìn tôi thấy nỗi buồn giống tôi
Cũng là thân xác tả tơi
Cũng là một nỗi rối bời ruột gan
Buồn từ cõi chết bay sang
Tôi là sự sống đang tàn từng giây
Buồn đi buồn đến tôi hay
Ai hay tôi đứng nơi này
giữa đêm ?
TÌM

Tôi đi tìm lửa trong đêm
Tìm ngọc trong đá
Tìm sen trong bùn
Tìm cao giữa đám thấp lùn
Tìm rồng giữa lũ giun trùng ngơ ngơ
Tôi đi tìm thực trong mơ
Tìm thanh trong tục
Tìm thơ trong đời
Tìm người giữa lũ đười ươi
Tìm tri âm
Giữa tiếng cười lời chê
Tôi đi tìm tỉnh trong mê
Tìm yên lặng
Giữa bốn bề phong ba
Tôi đi tìm Phật trong Ma
Tìm Thánh trong Quỷ
Tìm Ta trong mình…

CHẠNG VẠNG

Chạng vạng đất
Chạng vạng trời
Tình tôi chạng vạng trong thời xa em
Mắt nhìn
Chạng vạng hơi men
Miệng đời chạng vạng
Chê khen tiếng lời
Tuổi tên chạng vạng
Quên rồi
Đường đi chạng vạng
Biết nơi mô về…

GIẾNG TRONG QUÊ NHÀ

Cây khô
Chờ đợi giọt mưa
Tôi khô
Chờ đợi giọt thơ dịu dàng
Giữa trời đổ nắng chang chang
Đi trong sa mạc dối gian lọc lừa
Quý từ lời nói đơn sơ
Không ma mị
Chẳng đẩy đưa qua về
Đến trong tận tấm lòng quê
Bao giờ cũng giữ lời thề thủy chung
Đã qua sông tận núi cùng
Về bên em
Uống
Giếng trong quê nhà…

GÁNH NƯỚC

Nửa khuya
Gánh nước dưới trăng
Hai thùng

Thực
Thăng bằng trên vai
Có trăng
Đêm cũng như ngày
Có thơ
Bể khổ cũng đầy niềm vui.

 

 

THANH BÌNH

Ngã người
Trên chiếc xích lô
Lắng nghe
Bao tiếng xô bồ
Vây quanh
Nhìn lên
Một mảng trời xanh
Thấy mình
Còn chút thanh bình
Trong tâm.

 

CHÌM

Rượu chiều
Uống với tri âm
Men chiều
Như chút hương trầm mới xông
Nghe thơm thơm
một tấm lòng
Vẫn hào phóng
Dẫu ở trong khó nghèo
Khi không giữa cảnh bọt bèo
Bạn là bến
Để ta neo thuyền hồn
Ngày chìm
Sau bóng hoàng hôn
Mình chìm
Sau những dại khôn
Người đời

 

HẸN

Thôi em !
Tôi đã mệt nhừ
Vầng trăng mười sáu khuyết từ đêm qua
Tôi chừ là bãi Nam Kha
Mọc lên nấm mộ chôn ma Dã Tràng
Bao nhiêu điện ngọc cung vàng
Chỉ còn nét chữ vài hàng trên bia
Thôi em !
Đêm đã vào khuya
Buồn vui đã cạn. Xin chia tay về
Hẹn em mai giữa nương quê
Ga

 

 

 

 

 

 

Hôm nay gởi E book TQBT 75 đến bằng hữu, kèm theo bài thơ

Quà bằng hữu

Không có nhà thơ Đỗ Nghê
Dán dùm cho con etiquette (*)
Ta đành thay mặt nhà thơ
Làm thêm cho con Ebook
Để con có đất có trời (**)
Thay ta làm quà bằng hữu

Trần hoài Thư

____
(*)
Anh đã không quên buộc etiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy

(Đỗ Nghê- trích từ bài thơ  “Thư cho bé Sơ sinh”)
(**): đất : Báo giấy
       trời: Báo online 

Dưới đây là bài thơ “Dán” của Đỗ Nghê (bút hiệu của BS Đỗ Hồng Ngọc khi làm thơ)
Xin được cám ơn bạn  xa xôi !
Dán

              tặng THT
Không dán etiquette
Cho một bé sơ sinh
Mà dán cả đất, trời (*)
Nối liền tình bè bạn
Nối liền những tấm lòng
Yêu đất nước quê hương
Dán tương lai dĩ vãng
Cho lành bao vết thương…!
Đỗ Nghê
(*) báo giấy, báo online của THT

%d bloggers like this: