Mai Thảo viết về 15 năm (1):Vài nét điển hình của văn chương tùy hứng 

Lời chủ Blog:

Trong lúc sưu tập các tạp chí văn học miền Nam, tôi nhận ra một điều đặc biệt. Đó là việc nhà văn Mai Thảo viết nhiều về 15 năm từ tản mạn, tùy bút, đến nhận định văn học.
Trước hết là bài nhận định  “Vài nét điển hình của văn chương tùy hứng”  đăng trên nguyệt san Vấn Đề số 11 tháng 5-68 về văn học miền Nam sau 15 năm. Bài thứ hai là bài tùy bút “Mười lăm năm” đăng trên tuần báo Khởi Hành số 8 năm 1969.

Chúng tôi lần lượt post ra đây các bài viết của nhà văn Mai Thảo.

p-107p-109p-111p-113p-115p-117p-119

 

 

Sleepy Hollow ở 719 coolidge

images

Bởi ở quê nhà tôi không có miếng đất để dung thân
Bởi một triệu đô la cũng không thể tìm ra một mái nhà kỷ niệm
Nên tôi xin coi Sleepy Hollow này là  chỗ cuối đời tôi có mây  tẩm liệm
Có lá vàng  “ngàn thu  im lặng” tiễn đưa…

Ở Boston,  Sleepy Hollow  là nơi an nghỉ của Thoreau (1), Emerson (2)
Ở New York, Sleep Hollow là nơi Washington Irving (3)  an nghỉ
Nhưng ở đó có bao giờ  nghe tiếng con chim gõ mõ
Tụng kinh hoài trên những gốc sồi, phong ?
Và những mộ bia nằm im lặng ngàn năm
Có bao giờ thấy những bầy nai kéo về thăm viếng?

IMG_0513

(Gia đình Nai thăm nhà tôi  đêm tháng 7-2018)

 

IMG_0675

(Mẹ nai  và hai con viếng sân sau nhà  tôi vào một ngày tháng 9-2017)

 


(1) Henry David Thoreau was an American essayist, poet, philosopher, abolitionist, naturalist, tax resister, development critic, surveyor, and historian.

sleepy-1

Bia của nhà thơ Thoreau tại Sleepy Hollow Cementery Boston, MA

(2) Ralph Waldo Emerson (May 25, 1803 – April 27, 1882) was an American essayist, lecturer, philosopher, and poet

(3) Washington Irving (April 3, 1783 – November 28, 1859) was an American short story writer, essayist, biographer, historian, and diplomat of the early 19th century …

một bài báo cũ…

Lời chũ Blog: Thỉnh thoảng tôi có viết báo Mỹ ở địa phương. Bà xã cất kỷ, Nay tình cờ tìm được một số báo phát hành cách đây 24 năm, ký têm Sach Tran. Đọc lại thấy lòng ấm vì ít ra mình cũng mang tiếng nói của người tị nạn đến với người địa phương. Một kỷ niệm đáng nhớ. Nay xin post để chia sẻ.

IMG_20181120_0001

Đọc văn bạn (tản mạn)

Một bút hiệu nhiều ý nghĩa…

“Phải chăng, bút hiệu đã khẳng định tính cách văn chương  và cuộc đời của người ấy. Như Từ Thế Mộng. Khởi đầu: Từ là đến. Đến từ thế giới mộng mơ, anh đem thế giới mộng mơ đó đến với cuộc đời văn chương. Kết thúc: Từ là từ biệt. Từ biệt thế giới mộng mơ đó để trở thành cát bụi.”

(Nguyên Minh: Mảnh đời – Màu tím hoa Mua, nhà xb Thanh Niên 2014)

Như vậy, khởi đầu cũng là Từ. Và kết thúc cũng là từ.
Một chữ mà hai nghĩa.

Ôi tiếng Việt !

Cám ơn Nguyên Minh về lời giải thich này.

Những lời cuối cùng…

thât khó tin nhưng có thật. Một tạp chí in ân bằng tay. không quảng cáo không bán, không máy in hiện đại. Vậy mà nó lại đến với độc giả bốn phương từ hải ngoại đến trong nước. được bạn đọc danh cho một sự thương mến đặc biệt. Như  trong Màu tím hoa mua”, Thanh Niên xuất bản 2014, nhà văn Nguyên Minh (chủ trương Quán Văn) kể lại hai lần đến thăm thân hữu của anh ấy trước khi họ qua đời. Và cả hai lần, cả hai người đều nhắc đến Thư Quán Bản Thảo.

Thăm nhà thơ Từ Thế Mộng tại bệnh viện trước khi nhà thơ mất:

Những ngày anh vào Sài Gòn chữa bệnh, Lê Ký Thương chở tôi đến thăm anh. Lúc đó anh ốm hẳn và nước da đã ngã vàng. Khác hẳn với lần gặp mặt đầu, cách đây hai năm trong quán cà phê Vô Thường với Lê Ký Thương, Lữ Kiều, anh có cái vẻ đẹp lão, hồng hào, và nhất là nụ cười rất tươi, yêu đời. Gặp tôi, anh quên mình là bệnh nhân, anh chỉ hỏi tôi có mang đến TQBT số mới nhất không. Khi tôi hỏi thăm, anh chỉ trả lời qua loa về căn bệnh của anh, xem như không đáng quan tâm. Anh và tôi lại nói chuyện về văn chương.
(Mảnh đời – Màu tím hoa Mua”

 

Thăm anh Trần Quang Hòe tại bệnh viện. Anh Trần Quang Hòe là một chuyên gia nổi tiếng về phát hành sách tại SG trước 1975.  Nguyên Minh thăm anh lúc anh khoảng 90 tuôi:

“Tôi đến thăm anh. Năm trên giường bệnh, mắt lờ đờ nhìn tôi, anh vẫn nhận ra người thân. Anh nắm chặt tay tôi, cất lên tiếng nói run run, từng tiếng một:” Anh đã đọc những truyện em viết trên Tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Anh như thấy mình trẻ lại với bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu cho đến tuổi thanh xuân“. Tôi ngạc nhiên hỏi: “làm sao anh có mà đọc ?” Anh cười: ” Một anh bạn trẻ, một nhà văn cũ ở Cali đã gửi tặng anh. Sao em không xuất bản riêng cho mình ?”

(trich từ Ông bạn già)

 

Bạn

nai

Nhà tôi cạnh  dưới  triền sơn dã
Nai về gặm cỏ ở vườn sau
Ở  đây người vật đều bạn cả
Cứ hỏi thăm bằng ánh mắt nhau

Ánh mắt làm tôi thêm bạn mới
Một ngày bạn mang đến bầy nai
Nai mẹ nai cha nai chồng nai vợ
Thêm nai con như một gia đình

Nhiều lúc tôi đang ngồi trước máy
Nhìn hoài vào màn kính, tìm thơ
Bỗng nghe ai bước trên thềm lá
Hay tiếng gì rất đổi khả nghi

Mở hé nhìn ra từ cửa sổ
Thấy chú nai vàng đứng ngoài hiên
Tai vểnh chừng như nghe tiếng mở
Thú nhìn người, người nhìn thú làm quen !

 

Ngàycựu chiến binh Mỹ nhớ đến đồng đội

Hôm nay là ngày Cựu chiến binh Hoa Kỳ. Cả nước Mỹ đang hướng về những người  từng mang màu áo đồng phục bằng tất cả niềm tri ân. Trường học, công sở, bưu điện đóng cửa. Các nghĩa trang quân đội đã thấy tấp nập người thăm viếng. Những đài tưởng niệm cũng đã phủ đầy hoa và những người đến cúi đầu…
Sự tri ân không phải  ở chỗ “quân đội ta anh hùng”, nhưng ở sự hy sinh, chấp nhận cái chết để cho người khác được sống.
Nhưng còn cả triệu người lính miền Nam thì sao? Im lặng tức tửi. Không tiếng kèn đồng u oán cất lên chiêu hồn tử sĩ. Không có một nấm đất để con cháu có thể nhìn thấy tên họ và số quân… Và những người lính cũ ấy, người đã bỏ trần gian, người thì luân lạc, râu tóc bạc phơ,  hẩm hiu giữa một đất nước mà quê hương không có…

Xin được post lại bài văn Người hạ sĩ nhất, như một nén hương lòng của một người cựu chiến binh miền Nam. Bài này đã được Thanh Phương diễn đọc.

 

 

 

 

đời đầy chuyện ngạc nhiên

(Tình xưa – thơ THT, phổ nhạc: Vĩnh Điện, hát: Quỳnh Lan, Hoàng Quân)

 

Mùa hạ, thường thường vào giờ ăn trưa, ông Nguyễn vẫn quen lái xe ra bờ kênh, cách hãng khoảng một dặm đường. Trưa nay, ông cũng có thói quen như thế. Ông khóa cửa phòng làm việc. Rồi xuống thang máy. Ngoài kia nắng tháng bảy nhìn đến loá mắt. Những bụi hoa huệ trắng, hoa hồng đỏ khoe sắc. Hàng cây trên bãi đậu xe đứng im bất động. Ông rồ máy. Và mở lại một bản nhạc yêu thích. Xe lăn bánh trên đường. Tiếng hát cũng lăn theo chở ông về một cõi nào của dĩ vãng. Nơi đó là quê nhà. Nơi đó là tình tự. Nơi đó là tuổi trẻ của ông.

Ông  tìm lại chỗ ngồi cũ bên giòng kênh đào. Ông tự dành cho mình một niềm vui thầm kín. Trên đầu là chim chóc hót vui. Dưới kia, là một mặt nước êm đềm. Và bóng mát toả xuống cùng với một vài mảng nắng đậu trên bàn. Và gió mát cũng hây hây thổi. Những đoá hoa hôm qua còn nụ bây giờ đã hé nở. Búp hoa vàng dại bên cạnh những đoá dâm bụt vươn lên trên mặt nước. Ông chậm rãi sửa soạn buổi ăn. Vẫn là những món ăn quen, quá quen. Nhưng hôm nay, đặc biệt vợ ông còn dúi thêm một bịch nho tươi. Tự nhiên ông nói thầm: Cám ơn má nó.

Buổi trưa chói chan trên con đường nhựa chạy dọc theo kênh đào. Người ta chỉ thấy bóng một chàng thanh niên Á Châu đang thả bộ cùng với giòng xe cộ dập dìu. Lối dành cho bộ hành quá hẹp nên mỗi khi xe chạy qua là cậu phải ép sát vào trong gần những lùm bụi rậm ven kênh. Ông đoán cậu là người rất xa lạ với vùng này. Cứ nhìn cách cậu lê bước chân mệt nhọc thì biết. Nếu quen thuộc, không ai lại khờ dại phải lội bộ cả một con đường dài đến hai dặm không có một trạm xe bus dừng như thế.

Nhưng ông không cần bận tâm. Mặc thiên hạ làm gì thì làm. Ông đang cố tận hưởng những giây phút êm đềm của một buổi trưa hè. Hãy bỏ qua một buổi sáng liên hồi chuông điện thoại. Hãy bỏ qua những tiếng đồng hồ như thể phát sốt hay những ưu tư về một tương lai không chắc chắn khi thấy giá cổ phần của công ty mỗi ngày mỗi sụt xuống đến mức thê thảm. Đời là của riêng mình. Niềm vui này đâu phải tìm ở đâu xa. Ông muốn nằm ngay trên băng ghế để nhắm mắt một lát. Thiên nhiên cây cối vây phủ, những đám mây trắng thấy thấp thoáng qua kẽ lá, và nghe đâu đây tiếng dội ầm ầm của thác nước khi chảy xuống đập. Ông thích thú nhìn đám vịt con lông vàng mượt đang bơi theo mẹ ở giữa giòng. Ông lắng nghe tiếng chim nào đó đang hót như khuyến dụ cô bạn mái.

Ông bỗng chú ý đến một chùm bông súng đang nở e ấp giữa mặt nước. Kỳ lạ. Ở xứ Mỹ này, lại có bông súng sao. Bông dâm bụt chưa hết ngẩn ngơ bây giờ lại bông súng dại. Thì ra thiên nhiên ở bất cứ nơi nào cũng giống nhau. Quê hương xa cách ngàn trùng bỗng nhiên thu hẹp vào trong một đám bông lạc loài giữa con kênh xứ người. Những búp bông màu hồng nhạt nở trên cọng  thon thon vươn lên từ đám lá phủ một khoảnh nhỏ giữa mặt nước đầy bèo. Có bông nở rộ. Có bông vẫn còn e ấp búp. Những cánh mềm mại nằm hứng lấy mây trời giữa màu xanh trong của nước và màu xanh đậm của bèo lục bình.  Ông ngạc nhiên không biết chúng có mặt từ lúc nào. Chúng có lẽ cũng như ông, tự nhiên trôi dạt đến một phương trời lạ lẩm. Nào ai biết đôi khi chỉ cần một bụi chuối con, hay nghe lại tiếng gà gáy vào sáng sớm, hay thấy lại nụ bông súng lạc loài, là cả một tiếng gọi kỳ bí nhưng oà vỡ cả con tim mình. Ông nhớ lại một lần trong năm đầu tiên ở Mỹ, hai vợ chồng ông đang chạy xe trong một khu lạ. Khi qua một ngôi nhà bên đường thấy bụi chuối bên hè. Chuối con nép bên chuối mẹ. Không hiểu sao, ông phải dừng xe lại. Vợ ông mở cửa xe, bước về phía bụi chuối và khóc đến nổi người đàn bà Mỹ phải ra hỏi và ngỏ ý tặng bụi chuối con.

Giờ đây, lại thêm một lần quê hương trở lại. Có phải là buổi sáng nước rút và buổi chiều nước dâng mà một vùng bông súng đã trang điểm cõi đầm lầy. Loài bông hoa đồng nội. Loài bông ít ai nhắc đến. Nhưng là loài bông tỏa ra lòng từ tâm bốn cõi. Mùi hăng hắc của phèn chua lẫn mùi ngây ngây của cọng súng hay chất ngọt dịu thanh thanh của cánh bông mềm. Khi ông đói khát, ông đã ngắt cọng súng để lót lòng. Khi ông bắt được con cá rô cá sặt trong vũng bom đào, ông lội ra đầm tìm bông, tìm cọng súng mang về nấu canh, kho mặn. Có khi bè cả bè tràm trở về trại từ rừng, ông lội giữa vùng bông súng. Bông không tỏa hương thơm như bông sen, nhưng bông mềm như môi người đàn bà, mịn như da thịt  của người thiếu phụ trẻ, để ông phải áp bông vào môi vào miệng mình. Có khi ông lội vào sâu trong rừng, ông thấy cả một vùng mênh mông súng và súng. Lá súng phủ ngập đầm không thấy đâu là mặt nước. Và trên vùng lá xanh che mặt là những búp bông vươn cao, vươn cao như  cả một vườn tiên cảnh không ai biết đến. Ôi, những thân súng thon dài, mềm mại, giữ gìn những chiếc lá xanh kỳ lạ không gai sắc, không nham nhở, mà ngược lại như lụa là, thỉnh thoảng là chỗ tựa của con ếch, con nhái, để từ đó bông hoa  nở rộ hồng cả một vùng. Có khi trong buổi hoàng hôn, màu lá đã trở nên thẩm tối, còn lại là một rừng bông màu hồng nhạt, hay màu trắng bạch, không lay động. Trong khi ven đầm là vùng cỏ tranh vàng như kim loại. Lúc ấy, trên bầu trời quá đổi hiu quạnh, những cánh chim chiều chậm rãi bay qua, và thỉnh thoảng nghe vọng lại từ đâu đó tiếng bìm bịp kêu rời rạc.

Cám ơn đời đã cho ông còn có con tim mà rung động trước cảnh đẹp, để ông nương tựa mà sống. Và cám ơn một loài hoa đầm lầy hoang dã. Chúng cho ông suy nghĩ về triết lý nhân sinh. Rằng càng trong tăm tối, càng thấy nở lên mầu nhiệm những bông hoa quí. Như trong cõi đói rách lầm than, miếng đường chia nhau. Vị ngọt sẽ phải lịm hoài đầu lưỡi. Hay ống điếu thuốc lào chuyền nhau. Khói thuốc sẽ phải ngây ngất cả đời.  Hay như người học trò  đưa lưng gánh dùm bó tràm cho vị thầy cũ của mình trong trại cải tạo. Tình nghĩa thầy trò đến đó là cùng, làm sao có thể tìm được ở chợ đời. Hay  như viên thuốc hiếm qúi mà người bạn tù biếu tặng. Và cả một người con gái áo vá vai, khăn sọc vằn che cả mặt vì sợ nắng, nhưng ông cũng có thể nhận ra đôi mắt đẹp và hiền khi nàng chống chiếc xuồng cũi trên giòng Kênh Một. Đôi mắt ấy phản ánh nỗi xót xa khi thấy ông khốn khổ bè cả bè tràm to lớn ngược giòng. Tại sao em lại xót thương tôi, dúi cho tôi vắt cơm và miếng thịt quí giá vô cùng. Tôi thấy lòng em qua đôi mắt ấy rồi. Ràn rụa. Đỏ hoe.  Em nói nhanh: Ông  nhận dùm em đi. Mau lên. Xem chừng họ thấy…

 

Rồi nàng chống xuồng đi giữa vùng hoa súng đỏ và trắng. Hai vai áo vá lớp. Ông nhìn theo tự dưng nước mắt như chảy. Bóng ấy càng lúc càng mất dần. Nhưng rõ ràng cái bóng ấy sẽ không bao giờ mất trong tâm trí ông.

Và giờ đây ở xứ Mỹ này ông nhớ đến một bóng hình xưa. Ông ngắt một búp bông chưa nở trọn vẹn bên bờ  và dịu dàng áp vào miệng như hôn lên một hình bóng yêu dấu cũ.

*

Giữa lúc ông chìm đắm trong hoài niệm thì bỗng nhiên có tiếng nói ở đàng sau làm ông phải giật mình quay lại. Người bộ hành Á Châu hỏi thăm đường bằng tiếng Anh:

” Thưa ông, lối nào đến đại học X ? “

Ông Nguyễn nhíu vầng trán, cố suy nghĩ. Nhưng ông biết rất khó để mà chỉ dẫn đường đi:

” Xa lắm. ít nhất là ba bốn dặm nữa. Phải tìm exit 10 vào xa lộ, qua cầu rồi tìm exit 11… Cậu không có xe à ?” Ông trả lời, dĩ nhiên bằng tiếng Anh.

” Tôi không có xe. Tôi mới đến đây hôm qua”

” Cậu đến từ đâu ?”

” Từ Việt Nam.”

Bây giờ ông Nguyễn mới buột miệng reo, bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ.

“Thế à ? Tôi cũng là người Việt Nam.”

Rõ ràng ông không thể tự chế được nỗi vui mừng đến độ phải bật lên thành tiếng. Thì ra tình đồng hương đồng bào  là một thứ tình đã trử sẵn trong tim trong máu huyết của loài người. Hình như cái lưỡi của con người chỉ quen mỗi một thứ tiếng. Dù là giọng Bắc của cậu và giọng Nam của ông.

Ông sốt sắng:

“Nếu cậu thích, tôi sẵn sàng chở cậu đến đấy. Xa lắm, đi bộ không nổi đâu”.

“Cám ơn bác. Cháu nghĩ cháu thật may mắn được gặp bác”.

“Cậu không có ai quen ở đây sao ?”.

“Dạ không”.

Sau đó chàng thanh niên giải thích thêm:

“Cháu mới từ Buffalo đến ngày hôm qua. “

“Cậu là sinh viên du học ?”

“Dạ phải”.

Qua những lời trao đổi, ông biết một phần nào về người bạn trẻ mà ông gặp giữa đường. Cậu được một đại học địa phương tại đây cấp cho một học bổng. Như mọi sinh viên VN du học khác, cậu phải trải qua một khóa huấn luyện ngắn hạn để làm quen hơn về  đời sống xứ Mỹ tại  trung tâm ở Buffalo New York trước khi thật sự vào trường tại tiểu bang này. Giấy tờ ghi rõ đường đi nước bước, nhưng khi đến phi trường thì chẳng có một ai đón dùm. Cậu đành phải trả một số tiền lớn để thuê chiếc tắc xi về khu đại học. Tới nơi, đại học đóng cửa nghỉ hè. Cậu bơ vơ không còn biết ai để cầu cứu đành thuê tắc xi đi tìm khách sạn.  Tên tắc xi bỏ cậu xuống một khách sạn cách trường khoảng ba dặm. Hắn nói, nơi này gần trường lắm. Quả thật hắn cũng nói đúng. Tuy nhiên gần campus của trường chứ không phải gần khu hành chánh hay sinh viên vụ. Cậu mới hiểu về những cái máy chém tiền không thương xót. “Cả đêm cháu ngủ không được… Cháu không dám gọi tắc xi. Tắc xi chém tiền hết chỗ nói…”

Hoàn cảnh của người sinh viên du học đã làm ông xúc động.  Ông không cần thắc mắc về nguồn gốc lai lịch của người mà ông gặp gỡ giữa đường. Ông nhớ lại sáng nay  một người quen vừa từ VN trở lại Mỹ, nói về những chuyện bực mình trong đó có chuyện anh chàng hướng dẫn trẻ tuổi thay vì hướng dẫn du lịch lại hướng dẫn chính trị. Không biết cậu này thuộc thành phần này không. Hay là con của một cựu binh đánh Mỹ cút Ngụy nhào. Đối với ông bây giờ là một người Việt Nam đang gặp hoạn nạn. Đang gặp bơ vơ. Tình người và tình đồng bào đã khiến ông không thể làm ngơ. Ông mang cậu về nhà. Vợ ông  gọi điện thoại đến người quen để tìm giúp chỗ cư ngụ. Một người bạn gốc Xì làm việc chung giới thiệu một chỗ gần trường. Và ngay chiều hôm ấy, vợ chồng ông tự dưng trở thành kẻ bảo trợ. Cậu không có gì hết, nên ông bà phải giúp đỡ mọi thứ. Từ bàn ghế  đến giường gối. Tặng cậu một thùng mì Đại Hàn. Thêm cái tủ lạnh nhỏ. Rồi chất tất cả lên xe, mở đèn emergency mà chạy.. Thấy hai bên nhà treo đầy cờ Mỹ, cậu hỏi:

– Thưa bác, hôm nay lễ hay sao mà có treo cờ ?

– Lễ Độc Lập đó cháu. Vợ ông mau mắn trả lời.

– Bộ chính quyền bắt dân phải treo cờ hay sao ?

– Không. Ai muốn treo thì treo. Chẳng ai bắt ai hết.

*

Lâu lắm, dễ chừng gần một năm, ông không nhận được tin tức gì của cậu sinh viên ấy. Có lẽ vì việc học hành quá bận rộn, hay cũng có lẽ vì cậu đã làm mất số điện thoại của ông. Ông cũng vậy. Chẳng hề thắc mắc hay bận tâm. Đời sống xứ Mỹ quá bận rộn. Càng ngày công việc càng đè đầu ngập cổ. Nhóm của ông 6 người giờ chỉ còn hai. Nhưng đến một hôm ông trở về nhà, thấy một bình bông súng ai để trước cửa. Có phong bì lá thư kèm theo. Lá thư viết như sau:

“Thưa hai bác. Hôm nay có một người bạn có xe nên cháu nhờ anh bạn chở dùm đến thăm hai bác.

Rất tiếc hai bác không có ở nhà. Cháu xin gởi về bác trai chậu hoa súng. Cháu biết là bác thích hoa này nên cháu nhờ người thân mang dùm từ VN qua. Mong bác trai nhận….”

Vợ ông hỏi ông: “Sao mà thằng Bình lại biết ông thích bông súng?”

Ông trả lời: ” Thì bà hỏi nó đi”.

Ông dấu chuyện ông hôn lên cánh hoa. Cánh hoa của một người yêu dấu cũ./.